Một đêm giữa khuya đang ngủ say, Vinh chợt nghe tiếng gọi:
“Dậy đi! Gặp được người rồi!”.
Vinh choàng dậy khoác mùng bước xuống, nhìn thấy khuôn mặt bóng nhẩy ông Chín Nếp kề sát bên. Anh run lên vì lạnh, cũng vì vui mừng:
“Đâu? Ai đâu?”.
“Nghe đi”, ông Chín Nếp đè đầu Vinh áp nằm xuống đất. “Nghe thấy không? Bước chân rầm rập, mạnh mẽ lắm. Bộ đội phải không? Nghe bước chân như cở tiểu đoàn, tôi sanh giờ Thổ nên cái gì vọng dưới đất tôi đều biết. Nhưng anh là bộ đội chắc biết hơn tôi”.
“Thôi đi”, Vinh cười nói. “Giờ Thổ cái gì, anh thấy họ rồi, đúng không?”.
“Đúng”, ông Chín Nếp cười ngượng nghịu. “Tôi ngủ không được thức dậy thấy họ đi qua, đông lắm, có người mang khẩu súng có bàn đế như vầy nè…”.
“Đại liên Cô-li-nốp đó. Ông đi với tôi”.
Vinh bảo mọi người ở tại chỗ, anh và ông Chín Nếp đi ra coi sao. Bộ đội hành quân không thể chặn lại hỏi han nhơ vả. Chỉ có thể sáng mai đi theo, họ đông người mang vác nặng không thể đi mau, tìm gặp họ ở chỗ nghỉ xin ít gạo đồ ăn, vài tái lựu đạn thủ pháo phòng vệ, hỏi thăm đường đi nước bước. Hai người mang theo hết đồ đạc, rủi ro bất cứ lúc nào, phải lo phòng thân. Đi một đổi nghe tiếng chân đuổi theo sau. Thu Hà hiện ra nói:
“Cho em theo với. Em muốn gặp bộ đội”.
“Ừ đi cho vui”, ông Chín Nếp mau mắn nói. “Đi kế anh Vinh đây nè”.
Trời sáng rất mau. Cây rừng rạng dần. Thấy rõ các thân cây, gò mối, con đường mòn in dấu dép râu. Họ đi mau hơn, theo dấu chân trên đường. Trời đã sáng rõ, nắng lên. Hơn tiếng đồng hồ trôi qua. Bỗng nghe tiếng quát khẻ:
“Ai đó? Đứng lại!”.
Vinh đưa mắt nhìn quanh, ngạc nhiên thấy có đất đào lên còn mới tinh. Đơn vị bộ đội ahửn mới tới, vậy mà đã đào xong đường hào. Một người từ sau một thân cây bước ra, hạ nòng súng trên tay, tươi cười:
“Anh em mình hả? Đi đâu? Có thuốc hút không?”.
Anh chiến sĩ cao lớn, mặt rổ hoa răm, da ngăm đen, bận quần áo vải ka ki nhàu nát, chiếc nón tai bèo cũng bèo nhèo. Anh xưng tên Lâm, gọi Lâm Rỗ, đang gác ngoài này. Anh vừa nói chuyện vừa nhìn Thu Hà:
“Hôm hành quân đem theo cục thuốc bằng đầu gối, vậy mà thằng này thằng kia xin hết. thèm thuốc không chịu nỗi”.
“Có thuốc đây”, ông Chín Nếp nói. Ông không hút thuốc, không hiểu sao có thuốc trong ba lô. “Nhưng tụi này thiếu gạo, súng đạn cũng thiếu”.
“Muốn đổi chớ gì?”, anh bộ đội cười nói, liếc nhìn Thu Hà. “Đi lạc đường hả?”.
“Tụi này đang trên đường dây giao liên, toàn ông già bà già, đàn bà con gái, bị trúng trận càn...”.
“Tụi này đang hành quân chiến đấu, gạo có thể cho một ít, súng đạn không được đâu”.
Anh bộ đội đón gói thuốc từ tay ông Chín Nếp, nhìn Vinh nói:
“Bồ là bộ đội hả? Đơn vị nào? Sao đi lang thang như vầy?”.
Vinh nói phiên hiệu đơn vị. Lâm Rỗ liếc nhìn Thu Hà, quay đi nói:
“Tôi có thằng em bên đó. Hai đứa đi bộ đội một lượt, lên rừng chia hai nơi. Nó viết thư nói bên đó cũng đánh dữ lắm, phải không?”.
“Ở đâu không đánh?”, Vinh nói.
“Nhưng đánh ít đi nhiều. Hành quân liên miên, đi ngày đi đêm, đồ đạc chất đống trên lưng như con trâu thồ, đi tới năm mươi cây số rồi đi thối lui năm mươi cây số. Là để đánh lạc hướng, cha đời không. Vậy rồi mới qua lộ Bảy điện đài chúng đã la: “Thằng Trung Hai đã qua lộ Bảy rồi”. Cứ như chúng cùng hành quân với mình vậy”.
Lâm Rỗ nói thao thao, như cốt để không nhìn Thu Hà. Nhưng rồi vẫn cứ nhìn, ngượng nghịu với chính mình, không nói nữa, điếu thuốc vẫn còn nguyên trên tay.
“Anh ăn gì chưa?”, Vinh nói. “Tụi này có gạo rang, mình cùng ăn cho vui”.
“Ăn đi, tụi này ăn rồi. Gạo rang mà vui cái gì”, Lâm Rỗ nói, lại nhìn. Thu Hà đã hút hết tâm trí anh. “Hồi hôm đang đi, chợt có lịnh truyền xuống: nghỉ tiếng đồng hồ cơm vắt cơm giở. Giữa đương mưa ầm ầm, nấu cơm làm sao? Lịnh lọt cứ như cha người ta vậy. Trời mưa như trút nước, rừng cao su tối đen, nước chảy tràn bùn ngập tới mắt cá chân, vắt bò nhung nhúc, cứ nhằm chỗ hiểm chun vô cắn. Nhưng rồi cứ phải nấu cơm, lịnh xuống rồi. Củi mục ướt nhèm. Cầm vắt như vắt khăn lông, quai dép cắt ra đốt riết rồi cũng cháy. Trời vẫn mưa. Bốn thằng như bốn ông thần rừng cầm bốn góc tấm ni-lông che mưa. Một thằng chổng mông thổi lửa, còn lại chạy táo tác đi tìm củi. Sau hơn tiếng đồng hồ cơm chín mỗi thằng hai vắt cơm đầy đủ, nước sôi châm vào bi-đông, lính mình thật giỏi giang vào bậc nhứt thế giới”.
Anh ngưng bặt, như quên mất mình đang nói gì. Rồi nhìn Thu Hà, trở lại vẻ lầm lỳ cau có:
“Mấy bạn cần gì? Muốn gặp tiểu đoàn trưởng không? Đợi chút có người thay gác tôi dẫn vô”.
Chút sau có người từ trong ra thay gác, Lâm Rỗ dẫn ba người vào.
Đó là một cứ cũ Vinh đã quá quen thuộc, các đơn vị bộ đội thường có sẳn những trạm như vậy ghé nghỉ chân. Khu rừng bị chất độc hóa học cây trụi lá gần hết, chiến sĩ đào hầm, chất cành nhánh bên trên nghi trang. Từng tốp chiến sĩ chạy từ hầm này sang hầm khác, tụ lại nấu cơm, vá ruột tượng gạo, cười nói chọc phá nhau. Mọi ngưng bặt nhìn Thu Hà đi ngang, cười nổi lên phía sau:
“Như đám rước dâu vậy. Coi ông già “anh suôi” kìa, vui quá không?”.
“Cô đâu đẹp lắm!”.
Họ được đưa đến một chiếc hầm núp lớn có thể chứa vài chục người, cây đà nắp hầm ba bốn gang tay. Có tiếng quát tháo từ dưới hầm vọng lên. Lâm Rỗ chun xuống một chút trở lên, nhướng mắt chỉ xuống bên dưới, rồi bỏ đi. Vinh lần đi xuống hầm. Một chiếc bàn dài bằng vạt tre, băng ngồi hai bên, đầu bàn đặt máy điện thoại, cuộn dây “sừng bò” bên dưới. Người đàn ông tuổi trung niên, thấp lùn, mặt vuông cạnh, tay chân ngắn gân guốc, đang nói chuyện trên điện thoại. Tiếng quát tháo vọng lên là từ đó. Có thể đoán đó là tiểu đoàn trưởng. Đầu đằng kia một người đàn ông trạc tuổi, gầy yếu xanh xao, ngồi chồm hổm, quần xăn tới gối, tay gải sồn sột vào ống chân, mặt mày trầm tư buồn bã.
Tiểu đoàn trưởng dập máy, quay số gọi tiếp:
“Cho tôi nói chuyện với trung đoàn tưởng… Sao không được? Bận hả? Vậy tụi này rảnh hay sao? Cắm máy đi thằng nô bộc, không tao bẻ cổ bây giờ. Tại sao trên cứ lịnh xuống, dưới không được nói lên? Nói tôi là tiểu đoàn trưởng, có chuyện muốn nói… Tên tôi hả? Không biết tên thì đừng có lịnh… Dạ báo cáo anh, tôi đây! Thằng khốn khổ này đây! Anh bảo cứ theo hợp đồng tiếng súng mà đánh hả? Rõ! Không biết chúng đổ bao nhiêu quân, vào lúc nào, tụi này chỉ cứ việc chạy ra tiếp cận trận địa hả? Rõ! Phải súng ống đầy đủ? Được. Nhưng đạn đâu? Chúng tôi vừa mới đụng trận, đạn chỉ còn một ít. Anh bảo phải tự kiếm, chúng tôi kiếm ở đâu? Đạn mọc trên cây hả?”.
Tiểu đoàn trưởng dằn mạnh ống nghe xuống bàn, quay nhìn người ngồi đầu bàn:
“Anh nghe hết rồi chớ gì, đồng chí chính trị viên? Đồng chí chỉ đạo tôi làm sao đây?”.
“Được thôi được thôi”, chính trị viên cười ề à, giọng hiền lành. “Chuyện khó gì rồi cũng tính được thôi”.
“Ai cũng tính giỏi cả”, tiểu đoàn tưởng vẫn la lối. “Chỉ có thằng này làm thôi”.
Bỗng tiểu đoàn trưởng nhìn thấy Vinh:
“Chuyện gì nữa đây?”.
“Dạ, chúng tôi cần giúp đỡ”, Vinh nói.
“Chuyện gì?”.
“Chúng tôi đi lạc đường, cần ít súng đạn, gạo muối”.
“Súng đạn hả?”, tiểu đoàn trưởng gầm lên. “Nảy giờ anh không nghe gì hết hả?”
“Dạ, tôi có nghe”.
“Vậy sao xin súng đạn?”.
“Dạ, không được thì thôi. Chúng tôi cũng xin ít gạo muối, chúng tôi có ông bà già, đàn bà con gái…”.
“Thấy rồi”, tiểu đoàn trưởng nhìn Thu Hà nói. “Nhưng sao lại đi lạc, không có bản đồ hả?”.
Anh cho biết họ đang ở vùng Đông Bác, đi tiếp nữa có thể gặp các cơ quan dân chính, ngược lại chỉ gặp bộ đội, trận địa đang nổ súng.
“Ở rừng đi lạc là sự thường”, chính trị viên can. “Anh em gặp hoàn cảnh khó khăn, mình không giúp nhiều cũng phải giúp ít”.
“Còn ai giúp tôi?”, tiểu đoàn trưởng vẫn gay gắt. Rồi bước tới đứng trước mặt Vinh. “Nhưng anh là ai, sao đi lang thang trong rừng? Hay đào ngũ?”.
“Thôi mà”, chính trị viên lại can. “Ở rừng với nhau, có chuyện gì ta cứ bàn”.
“Được, ta cứ bàn”, tiểu đoàn trưởng nói, vẫn nhìn Vinh. “Nhưng anh muốn gì? Cử một đại đội đưa anh, cô kiều nữ và ông thái thượng hoàng này đi. Rồi mặt trận này ai lo? Sẽ có ít nhứt một tiểu đoàn Mỹ đổ quân xuống đây, tại chiếc trảng ngoài kia kìa, không biết ngày nào. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải tiêu diệt chúng. Ngày nào cũng phải bám ra đó, bất kể B52, bom bi, pháo bầy. Để chúng đi vuột chúng tôi sẽ bị kỷ luật, cạo đầu đi tù. Vậy thì sao? Chúng tôi rảnh đưa anh đi dạo mát hả?”.
“Thôi mà, dạo mát cái gì?”, chính trị viên nói. “Gạo muối mình thiếu gì, súng đạn cũng có thể cho một ít”.
“Súng thì được, đạn không được. Một viên cũng không”, tiểu đoàn trưởng nói. “Chúng tôi có dư súng là do có người chết, anh hiểu không? Hay là không hiểu?”.
“Tôi hiểu”, Vinh nói. “Tôi cũng là bộ đội. Chúng tôi chỉ cần giúp đỡ”.
“Thôi được rồi”, chính trị viên nói. “Anh đi lấy khẩu súng đi. Hai khẩu được không?”.
“Một thôi”, tiểu đoàn trưởng nói.
“Không có đạn tôi lấy súng làm gì?”, Vinh nói.
“Không biết, đó là chuyện của anh”, tiểu đoàn trưởng nói. “Tôi không lo hết mọi chuyện trên đời được”.
Tiểu đoàn trưởng lạch bạch đi lên khỏi hầm. Chính trị viên bước tới vỗ vai Vinh:
“Được thôi mà, rồi sẽ có đạn. Anh cầm tờ giấy này xuống kho lảnh gạo muối, khẩu súng cái đã”.
Thu Hà theo xuống hầm. Chính trị viên nhìn Thu Hà:
“Cô này là ai đây?”.
“Em là văn công”, Thu Hà đáp.
“Ôi trời đất ơi, văn công!”, chính trị viên kêu lên. “Lâu rồi lính tụi này không được coi văn công. Đánh trận liên miên mà. Anh làm gì có được cô văn công dẫn đi tòn teng như vầy?”
“Đụng trận bị lạc gặp nhau thôi. Vậy là không có đạn hả?”.
“Anh không có cách gì kiếm được vài băng đạn hả? Anh không phải là lính hả?”.
Vinh lên khỏi hầm. Tiểu đoàn trưởng đứng đằng xa chống nạnh tay quát tháo:
“Nè thằng kia có chịu xuống hầm không? Rừng trống trơn cứ đi tới lui nhởn nhơ, nhử máy bay tới hả?”.
“Em đi mượn thằng Hùng chai dầu gió”, người chiến sĩ đáp.
“Vợ mày đẻ hả?”.
“Em bị kiến cắn”.
Họ xuống kho lảnh gạo muối, khẩu súng. Vinh kêu mọi người chia nhau xuống các trung đội “kiếm” ít đạn.
“Ăn cắp hả?”, ông Chín Nếp la lên. “Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa làm chuyện đó nghen!”.
Vinh xuống một hầm, có Lâm Rỗ ở đó. Anh ta nhoẻn miệng cười:
“Cha làm tôi bị tiểu đoàn trưởng sạc một trận quá cở. Kiếm được khẩu súng rồi hả? Không có đạn hả? Tụi này cũng hết đạn rồi, không cho được đâu”.
Chiến sĩ trong hầm đang lau súng, vá quần áo, cảnh quen thuộc như Vinh đang ở trung đội mình. Một chiến sĩ vá chiếc ruột tượng gạo, đắp thêm miếng vải bên ngoài, may lẹm như lẹm buồm, hai bàn tay to lớn vụng về xoay trở tỉ mẩn, lật tới lui xem xét, để hết tâm trí vào đó, không còn việc nào quan trọng hơn. Người lau súng cũng tỉ mẩn, liên tục tháo ra lắp vào, đưa lên nhắm ngắm, đặt trở xuống ngẫm nghĩ, lại tháo trở ra.
Một người nghiền bột làm bánh xèo, gạo ướt đêm qua không để làm gì, dùng khúc cây làm chày nghiền trong ca Mỹ như ngoáy trầu, kêu Vinh ở lại chút lát nữa ăn bánh.
Lâm Rỗ đang lục soạn chiếc ba-lô của một người tử sĩ, lấy ra món này, cất vào món kia. Chẳng có gì nhiều, bộ quần áo, chiếc khăn tắm, quyển vở, hộp giấy đựng hình thư từ, kim chỉ, vải vụn, chiếc xỏ quai dép, ống đá lửa, một mớ hộp quẹt không có cái nào còn nguyên vẹn.
Lâm Rỗ nói:
“Đây là ba-lô của thằng Hùng Râu. Nó không có cọng râu nào, có cái thẹo vắt ngang trên môi nên gọi như vậy. Nó trữ nhiều hộp quẹt, khoái lửa hơn mọi thứ trên đời. Lâu rồi thành nghề, chuyên sửa hộp quẹt. Ai có hộp quẹt hư đưa nó, sẽ được thay liền cái hộp quẹt tốt. Đi đường ai cần đốt thuốc, kêu một tiếng thấy nó xỉa tay, liền có lửa cháy lên. Hành quân tới chỗ nghỉ, mọi người loay hoay với việc căng tăng làm cây mồi giăng võng, chỗ nó đã có đống lửa. Trận vừa rồi nó chết vì súng phun lửa. Nó vừa vượt qua bờ rào, một lằn lửa phun tới, đốt cháy nó như một ngọn đuốc…”.
“Thôi mà”, một người can.
“Mấy anh có đạn, cho tôi xin một ít được không?”, Vinh nói.
“Không được đâu. Tiểu đoàn xạc tôi một trận rồi, anh không thấy sao?”.
“Vậy thôi tôi đi”.
“Không ăn bánh xèo hả?”.
“Thôi…”.
“Vậy đợi chút. Ôi trời đất ơi...”.
Lâm Rỗ lom khom đi lại góc hầm lục lọi trong đống ba-lô, một lúc trở lại dúi vào tay Vinh băng đạn, nhăn nhó nói:
“Lấy đở bao nhiêu… Tụi này đang kẹt… Bắn cầm chừng thôi…”.
Vinh nhoẻn cười:
“Anh cho băng nữa đi”.
“Trời đất ơi là trời”.
Lâm Rỗ lại lom khom đi lại góc hầm lục lọi, đưa thêm cho Vinh băng đạn, đẩy anh lên hầm:
“Thôi đi đi. Cha ở lại đây thêm nữa, tụi này giao mặt trận cho cha”.
Vinh tìm gặp ông Chín Nếp dưới một hầm, đang kể chuyện gì đó khiến đám lính cười rộ lên:
“…Vậy rồi anh suôi nói với chị suôi: Thôi duyên phận đôi trẻ không thành do phần số của chúng. Còn tình cảm anh chị suôi chúng mình, không vì thế mà phôi pha…”.
Vinh đưa tay ngoắc. Ông Chín Nếp bước lên:
“Sao, có kiếm được gì không?”.
“Được”, Vinh nói. “Ông được gì không?”.
“Được mấy viên thôi. Nói cười mỏi miệng nhưng chúng không chịu cho, lính này khô khan tình cảm quá. Con nhỏ văn công đâu?”.
“Cháu đây!”, Thu Hà từ xa đi lại tươi cười. “Mấy anh rủ cháu ở lại chơi, vui lắm, kể đủ thứ đủ chuyện, hứa đào cho cháu một chiếc hầm thật lớn có đủ giường tủ, bên trên che một chiếc dù nghi trang như ở rạp hát…”.
Vinh gắt:
“Người ta mới đụng trận, ở đó lo giường ngủ với rạp hát. Thôi đi về đi!”.
Thu Hà im bặt. Lát sau lại thỏ thẻ:
“Một băng AK bao nhiêu viên đạn?”.
“Ba mươi viên”.
“Vậy em có được hai băng. Mấy anh cho nhiều lắm, nhưng không có gì đựng, em gói trong miếng vải dù cất trong ba-lô nè. Nhưng đạn rời không có băng, làm sao bắn?”.
“Được”, Vinh nói. “Chịu khó lắp mau, bắn cũng kịp thôi”.
Ba người trở về chỗ đóng quân, nghỉ một chút lên đường đi.
***
Sau vụ giành giựt chiếc xuồng gạo, ba Vinh và ông hàng xóm vẫn quan hệ qua lại, nhưng mối giao hảo cũng thưa thớt dần. Cuộc sống ngày càng khó khăn, họ cũng không thể nào quên chuyện cũ. Giá như hôm đó trong cơn nộ khí không lấy gì làm hay ho ấy, đôi khi từ những chuyện tầm thường vụn vặt không ra gì, lại đẩy con người ta tới những hành động quyết liệt độc ác không lường trước được. Hôm đó một trong hai người bị dìm chết, làng xóm không ai hay biết cả, Vinh cũng không nói ra, chỉ có ba Vinh sốn với nỗi ân hận của mình, sẽ ra sao hằng ngày cứ phải nhìn căn nhà sát bên ấy?
Một buổi trưa anh ghé qua nhà. Nhà vắng tanh, như không có người ở. Ba Vinh nằm trong giường. Má Vinh lặn lội đâu đó sau vườn ngoài ruộng. Anh đi ra vô trước nhà, cảm thấy xa lạ thừa thải, như không phải nhà mình. Một lúc nghe tiếng gọi: “Vinh, rót cho ba ly nước”. Tiếng nghe xa lắc. Vinh vội chạy đi rót nước bưng đến, lúng túng làm đổ ly nước vào mặt ba. Cơn ho vừa kéo tới, cùng với ly nước, ba bị sặc sụa như sắp tắt hơi. Vinh hoảng hồn đứng nhìn, không biết làm gì, như đang chứng kiến giây phút cuối cùng của đời ba.
Nhưng ba không chết. Con người nghèo khổ cứ phải sống. Như những lần ba bị bọn giặc treo lên đánh, đi vào rừng bị rắn cắn, bị pháo dập nằm vắt ngang qua bờ ruộng, ngất đi một lúc tỉnh dậy lặng lẽ đi về nhà. Ba sống mãi như vậy, dai dẳng khô cằn như cây ổi cây trâm ngoài đồng, không chết nhưng không thể gọi là sống. Như để làm nhân chứng cho một nỗi khổ nào đó Vinh không thể nào hiểu được.
Dạo dó Vinh mới mười lăm nhưng cao lớn khỏe mạnh, hứa hẹn thành một thanh niên có sức vóc, gánh vác những công việc nặng nhọc của gia đình. Hôm đó Vinh ân hận, định ở nhà vài ngày tìm công việc gì giúp gia đình. Nhưng lạ sao khi túng quẩn người ta lại không tìm được việc làm. Vườn không có củi, các mương nước không thấy có cá ăn móng. Leo lên mái nhà dậm chỗ này thấy hở chỗ kia. Ra đồng tìm bắt xâu cua đem về, không thấy có vườn nhà có rau cải nấu được nồi canh.
Vinh xách cuốc ra ngoài đắp lại chiếc bờ đất. Ba từ trong nhà chống gậy đi ra, dưới ánh nắng ban ngày trông ba càng nhăn nheo tàn tạ. Vinh bước tới ngồi xuống bên ba. Ba thở khò khè, rên rỉ:
“Con sắp đi bộ đội phải không?”.
“Chưa đâu”, Vinh đáp. “Con mới mười lăm tuổi”.
“Ba thấy con cứ đi biền biệt”.
“Con đi theo mấy anh chơi thôi”.
“Chỗ mấy anh đánh giặc, chơi gì con?”.
Vinh nói sang chuyện khác:
“Mấy anh nói con có hai anh đi du kích hy sinh, khỏi đi bộ đội. Nhưng con vẫn xin đi, dự một trận thôi cũng được. Con tìm bắt thằng đánh ba, thằng xước mía ấy. Con chặt khúc mía đánh lại nó không thiếu một roi”.
Ba Vinh không nghe Vinh nói, mải nghĩ điều gì:
“Con đi rồi, nhà không còn ai!”.
Phải chăng đó là điều ba muốn nói, điều dằn vặt ba bấy lâu nay? Ba sống cực khổ, cả đời chịu bao điều tủi nhục. Nhưng chính căn nhà mới là quan trọng. Dấu tích một dòng dõi, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mất nó là mất tất cả. Vinh chứng kiến nhiều bữa ba đi làm đồng về chưa vội vào nhà, đứng bên ngoài một lúc rồi đi sang thù tạc với ông bạn hàng xóm. Giữa khuya ba ngật ngưỡng đi về nhà, nằm vật ra giường nói lảm nhảm suốt đêm. Gần sáng ba tỉnh rượu thức dậy, đến quì ở bàn thờ lầm rầm khấn vái tạ lỗi ông bà, nét mặt thành kính ưu tư. Như ba đang trở về với ngàn xưa, trò chuyện cùng người muôn kiếp trước.
Chao ôi căn nhà! Dòng họ gốc rễ, ông bà tổ tiên! Sức sống nào ăn sâu vào tâm tính người ta, trở về nơi chôn nhao cắt rún đến vậy?
Vinh biết ba nghĩ gì. Vinh đi rồi, ba má già chết đi, căn nhà sụp đổ, tất cả chấm dứt không còn lại dấu vết gì.
Như vậy có ý nghĩa gì? Quan trọng như thế nào?
***
Họ bám được vào với rừng già. Cây cao dần, các vạt rừng nối tiếp nhau, nhiều vạt rừng chỉ mọc toàn một thứ cây như bằng lăng, xăng đá, ngành ngạnh. Tiếp theo là rừng dầu lưa thưa, rừng le rừng buông dày bịt bạt ngàn. Mặt rừng bắt đầu lồi lỏm lên xuống, thỉnh thoảng xuất hiện nhưng ngọn đồi nhỏ, cây con mọc xanh rì, điểm những tảng đá xù xì xám xịt rêu phong. Một hôm họ đi vào một khu rừng cây sao cao ngất, tưởng như sẽ gặp chùa chiềng đâu đây. Mặt rừng trống trải, lá khô trải một lớp dày, trời trưa yên tĩnh, bước chân êm ru, hai bên đường có những tai nấm lớn có thể ngồi lên được. Lại có bữa đi vào một khu rừng tre có bụi tre già trổ bông, ông Chín Nếp mừng rỡ nói dịp may hiếm có, tre hằng trăm năm trổ bông một lần.
Họ đã đi được hơn mười ngày, có thể nửa tháng. Vinh không nhớ đích xác, không thể tính đếm. Họ chỉ có việc đi, vậy thôi. Sức đã cạn, bám vào được rừng già họ đi ban ngày, chiều đến dừng lại nấu nướng ăn uống, tối ngủ lấy sức. Vinh kiểm tra kỷ lương thực, gạo ăn cầm chừng, dành cho người thương binh và bà Tư Nghệ, dọc đường gặp khoai củ đừng lại đào. Rừng có loại khoai. Người dân tộc thiểu số đào bằng đoạn cây trúc, đầu chẻ ra thành hoa nan, đào chụp xuống để lấy đất nên gọi là củ chụp. Một lần họ dừng lại đào cả nửa ngày được một củ lớn hai người khiêng, cứ thế vác đi ăn suốt mấy ngày.
Anh thương binh thứ hai bị thương nằm im lìm suốt ngày trên võng, như anh trước, nhưc chỉ có một anh. Một lần một loạt pháo nổ gần, cả đoàn nhào đến dùng thân mình che cho anh, như loạt pháo chỉ nhằm vào anh.
Nhiều lần họ gặp những tốp máy bay B52 bay ngang, sải cánh thật dài cong cong như những thanh kiếm, trông thật oai vệ. Ông Chín Nếp nhìn theo la lên: “Oi cha, nó tưởng nó là vua ở đây chắc?”.
Máy bay khu trục phản lực bay qua lại, sau đó nghe tiếng nổ rền xa xa.
Thỉnh thoảng họ gặp một đường nhẩm dấu xe tăng, còn mới tinh, đoàn tăng vừa mới qua, những cây con bị xích tăng cán đè đang cố ngoi lên. Họ vội nép qua một bên chờ đợi, không biết chúng núp đâu xả súng bắn lúc nào.
Có một lần họ bị hai chiếc máy bay T28 bắn trúng. Họ đi vào một khu rừng thưa, cây dầu lông mọc xen kẻ cây le. Một chiếc máy bay trinh sát L19 rè rè bay ngang, họ núp kỷ nhưng sơ sót một vật phản chiếu nào đó, chiếc nắp nồi hay chiếc ca Mỹ. Chiếc trinh sát phát hiện có đoàn người, bắn pháo vàng chỉ điểm, hai chiếc T28 sà xuống phóng liền hai chiếc hỏa tiễn. Vinh chỉ kịp nhìn thấy đầu hai trái hỏa tiễn tròn vo, biết nó đi trúng đích, lôi Thu Hà chạy đi, chưa được mười thước tiếng nổ vang lên khói bụi mù mịt. Vinh thấy lạnh sống lưng, có cái gì đó lặp lại như trận bom bên bờ suối. Nhưng anh vẫn chạy, không còn biết phương hướng gì nữa. Thu Hà bám theo. Từng đôi hỏa tiễn tiếp tục nổ chỗ này chỗ kia. Chẳng mấy chốc hai người chạy xa hẳn đoàn người, không biết mọi người tản lạc đi đâu có ai bị thương không. Cuối cùng tiếng nổ chấm dứt, hai chiếc T28 bay đi, chỗ đoàn người khói bụi mù mịt. Vinh rụng rời tay chân, lôi Thu Hà trở lại trong cơn kinh hoàng, nghĩ có không ít người bị chết bị thương, anh sẽ bị chôn vùi dưới lòng căm hận của mọi người.
Nhưng thật là điều kỳ diệu, không ai sao cả, trong cơn tán loạn cũng không ai biết Vinh chạy đi đâu.
Họ tiếp tục đi. Buổi trưa họ qua một con suối, lên một bờ dốc thoai thoải, đất đỏ tươi mọc toàn cây lồ ồ, trong một cụm rừng gặp một tốp dân “đóng quân” ở đó. Mấy năm đi bộ đội Vinh thường gặp những tốp dân như vậy, vài ba chục người đàn ông đàn bà già trẻ bé lớn. Thanh niên trai tráng cũng có. Họ làm nghề buôn bán hoặc làm rẫy, bẫy thú, lượm chai, đốt cây lấy dầu, sống bám theo các cơ quan đơn vị bộ đội. Chỗ ở của họ cũng có giao thông hào, hầm chông hố đinh. Họ cũng ọ HọHcũng chạy càn đội bom đạn, chịu cực khổ gian nan, chỉ thiếu có cầm súng chiến đấu thôi. Một lần Vinh gặp một tốp dân bị trúng bom B52 tan nát cả. Sau đó họ vẫn ở lại chỗ cũ, trên nền rừng dấu vết trận bom vẫn còn nguyên, thậm chí họ còn biến lổ bom thành ao nuôi cá. Lúc đó và mãi về sau này Vinh cứ ngạc nhiên về điều đó. Sao họ không ra ngoài chợ sống Yên bình sung sướng? Đó có thể là điều bí ẩn với cả chính họ.
Tốp dân này cũng giống như vậy. Có vẻ họ vừa chạy càn từ xa tới đây. Chỗ ở mới của họ cũng có đủ cả: hầm núp, nhà căng tăng ni-lông, lò bếp “Hoàng Cầm” đào âm dưới đất. Có cả một đoạn giao thông hào đang đào dở. Một tốp con gái tuổi mười lăm mười bảy gầy yếu xanh xao, tóc rụng xơ xác chạy bám theo Thu Hà trầm trồ: “Chị đẹp qua! Chị là văn công phải không? Làm sao lên sân khấu khỏi run?”. Đám con trai lãng vãng bên ngoài. Một ông già chừng bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng vẫn còn tráng kiện, bận quần cụt đi chân đất, áo bộ đội xăn tới khuỷu, có vẻ một “già làng”, bước tới chào cả đoàn cất giọng sang sảng oai vệ:
“Bà con chạy càn tới đây phải không? Đi lâu rồi, cực khổ lắm phải không? Thôi ở lại đây ít ngày nghỉ khỏe, có thiếu thốn gì tụi này “tiếp tế” cho”. Nhìn vợ chồng ông Tư Nghệ ông nói tiếp: “Già cả như vầy lặn lội tội nghiệp quá, thôi lo “bố trí” chỗ nghỉ đi”. Ông quát mấy người con trai đi lãng vãng bên ngoài: “Nè thằng nào rảnh chọn mấy căn nhà tốt cho bà con, nói có thương binh. Còn mấy con mén này nữa”. Ông quát mấy cô gái bám theo Thu Hà: “Léo nhéo cái gì? Con nít mới nứt mắt nói chuyện tình ái yêu đương hả? Đi đi, xuống suối bắt cá làm cơm đải khách đi!”.
Đám con gái cười rộ lên:
“Tụi con bắt cá! Nhưng ông ngoại lo chồng con cho tụi con nghen?”.
Ông già ngồi xuống với đoàn người, ca cẩm:
“Bận rộn lắm! Phiền nhiễu lắm! Một nhúm người cũng đủ chuyện, có người có việc! Nhưng cũng thương lắm! Con gái sốt rét mặt xanh chành, tóc rụng xơ xác, chồng con ra làm sao!”.
“Nhưng bà con sống cũng tươm tất lắm”, ông Tư Nghệ vừa được phân ở một căn nhà - hầm rộng rải, nói lấy lòng.
“Tụi này là dân thường, phải tự lo lấy thân”, ông già nói, giọng mềm mỏng khiêm tốn. “Tụi này mới tới chỗ này, còn bê bối lắm, dân chạy càn mình đồng da sắt gì đâu. Nhưng cũng hầm hố đủ hết. Nhà cửa bếp núc cũng xong. Có luồng bẫy ngoài kia sáng ra có thể kiếm được con cheo con chồn. Muốn ăn cá xuống suối bắt. Gạo mắm trữ đủ, muối mỗi người hai ký, cho thằng Mỹ càn tới Tết luôn”.
Ông Tư Nghệ nói:
“Bà con sống đùm bọc nhau như vầy, cũng yên ấm lắm”.
Ông già cười nở mặt:
“Tụi này sống hòa đồng, ai ghé chơi cũng được, nghỉ vài ngày cũng không sao, khách ghé nghỉ cứ báo cơm ở nhà bếp, coi như nhà hàng căng-tin vậy. Vậy rồi cũng có chuyện. Một tốp bộ đội đặc công hay trinh sát ghé nghỉ, nhờ giếng nấu nước, ở thêm cả tuần lễ, đờn ca xướng hát, đám con gái mò đến cùng cười giởn. Hôm chia tay bỗng có đứa con gái bụm mặt khóc. Thôi rồi. Tôi quát: “Thằng nào?”. Một đứa con trai dập đầu thưa: “Dạ con! Con thương thiệt, chừng giải phóng con sẽ cưới!”.
“Rồi làm sao?”, Vinh cười hỏi.
“Làm sao gì? Bắt nó đóng trăn hả? Không cho nó đi đánh Mỹ hả? Đành thả nó đi, chuyện trai gái hận thù gì. Một lần khác một tốp bộ đội ghé ngang nhờ nuôi một thương binh, họ đang có công tác gấp. Tụi này nuôi nấng chăm sóc tận tình, nhưng anh thương binh không qua khỏi, thương biết chừng nào! Chôn cất xong Mỹ càn tới, ngôi mộ giờ không biết ở đâu, cánh rừng nào”.
“Đời có chuyện vui chuyện buồn”, ông Tư Nghệ nói.
“Phải”, ông già nói, có vẻ không bao giờ hết chuyện. “Nhưng có những chuyện không vui không buồn, chỉ gây nhức nhối trong lòng. Một lần một tốp bộ đội ghé ngang không đờn ca xướng hát, cũng không nhờ nuôi thương binh, căng tăng ở tuốt ngoài rừng chụm đầu bàn tán. Tôi sốt ruột đi ra rình nghe họ bàn chuyện, nửa muốn về đơn vị, nửa muốn về quê. Đào ngũ ấy mà…”.
“Rồi họ đi đâu?”, ông Ba Quang hỏi.
“Không biết. Sáng ra họ đi mất. Rừng thiếu gì đường họ muốn đi đâu thì đi, đâu đính líu gì tới những người dân thường tụi này”.
Trời đã đứng trưa. Vinh quyết định ở lại một ngày với xóm dân hiếu khách. Phút chốc đoàn người hòa vào với mọi người. Lát sau đã nghe tiếng cười nói của ông Chín Nếp trong một nhà. Một nhà khác bà Tư Nghệ lục soạn đồ đạc mãi, lờ đi không như nhìn thấy Vinh. Bà sẽ ở lại đây, không còn dinh slíu với đoàn người nữa. Tổ điện đài ở riêng một góc rừng, ông Ba Quang đi tới lui chăm sóc người thương binh. Thu Hà biến mất với đám con gái.
Vinh dọn chỗ giăng võng, dọn luôn cho Thu Hà và ông Ba Quang. Rồi đi rảo quanh. Các gian lều nằm rải rác, nối liền nhau bằng những con đường mòn có tàng cây che kín, đất đỏ hiện lên dưới những dấu chân. Chợt nghe có tiếng cười nói quen quen. Vinh dừng lại trước một nhà, nhìn thấy hai người buôn thuốc Tây đang cười nói bên cạnh hai chiếc ba lô to kềnh.
“Chào hai ông bạn”, Vinh đi vào cười nói. “Chưa “giải quyết” được hai cục nợ này hả?”.
Người nhỏ thó nhìn ra, cũng tươi cười rạng rỡ:
“Ôi cha, mình lại gặp nhau, vui biết chừng nào! Bà con đây là chỗ quen biết, tụi này qua lại gặp nhau hoài. Tụi này kiếm mấy cha quân y cùng trời hết, đụng mấy trận bom may không việc gì, hai bao thuốc Tây cũng còn nguyên”.
“Giờ tính sao?”, Vinh đùa. “Không lẻ cỏng đi hoài?”.
“Đâu biết tính sao, số kiếp như vậy thôi”.
“Chia cho tụi này một ít được không?”, Vinh chợt nhớ tới người điện đài bị thương.
“Bao nhiêu?”, người nhỏ thó sáng mắt lên.
“Không biết, để tụi này kiểm tiền lại đã. Ông bán rẻ không?”.
“Không rẻ, cũng không mắc. Tụi này không sống hả? Ôi cha, bán lẻ mẻ như vầy chừng nào gom đủ vốn?”.
Người cao lớn nói theo:
“Ừ , bán lẻ mẻ như vầy chết cha rồi”.
Trời chiều. Vẫn không thấy Thu Hà đâu. Vinh nấu cơm nấu nước, giăng võng nằm chờ. Ông Ba Quang về tới lặng lẽ giăng võng nằm trùm kín người.
“Cơm chín rồi, mình ăn đi”, Vinh nói.
“Tôi ăn đằng tổ điện đài rồi”, ông Ba Quang nói lục bục trong võng. “Cô văn công đâu?”.
“Không biết, chắc đi chơi đâu đó”.
“Chơi bời cái gì, vui lắm sao?”.
“Thôi mà, ông khó khăn làm chi?”.
Ông già lớn tuổi của xóm dân đến chỗ Vinh:
“Để hai ông bà già ở lại được không?”.
“Để tụi này bàn lại coi”.
“Để lại đi, tụi này nuôi cho. Già cả lôi đi hoài tội chết”.
Trời tối. Thu Hà về tới giăng võng nằm, cười vui:
“Em ăn cơm đằng mấy con nhỏ rồi. Vui lắm! Chúng cho em cây đèn pin tốt lắm. Chúng kêu em ở lại đây, được không anh?”.
Vinh không đáp, lặng lẽ ăn cơm trong bóng tối. Thu Hà lăn trở trên võng, lại gọi:
“Anh Vinh xuống suối với em một chút được không?”.
“Chi vậy?”.
“Em tắm!”.
Vinh vẫn ăn cơm. Thủ Hà trở dậy lục soạn quần áo, lấy khăn tắm xà bông đứng chờ bên ngoài. Vinh ăn cơm xong nhẩn nha hút thuốc, tàn điếu thuốc Thu Hà vẫn đứng đợi đành đứng dậy đi lên trước. Thu Hà đi theo sau. Con đường nghiêng dần xuống, con suối hiện ra lấp lánh dưới ánh sao. Ban đêm hình như nước chảy chậm hơn, rì rầm một điệu u buồn. Vinh tìm một phiến đá ngồi hút thuốc. Thu Hà lựa bờ dốc thoai thoải đi lần xuống suối, chỉ mấy bước sương mù đã che kín tất cả…
“Gặp được bà con em mừng quá”, Thu Hà nói trong tiếng khỏa nước. “Như được trở về nhà vậy. Mình ở đây lâu một chút đi anh! Đâu có sao, mình còn đi nhiều ngày mà. Anh đừng giận em, em vui một chút đêm nay, ngày mai em đi với anh thôi. Đám con gái dễ thương lắm, chúng muốn được học múa như em, nhưng em nói tụi bây học múa khó lấy chồng lắm… Anh không tắm hả?”.
“Không”.
“Lạnh quá! Em tắm chút thôi, đàn bà con gái khổ lắm, có sắp chết cũng phải tắm một cái. Anh Vinh nè, mấy con nhỏ rủ em ở lại, anh thấy sao?”.
“Bỏ đoàn hả?”.
“Đoàn gì đâu, mình chạy càn đi chung với nhau vậy thôi. Mấy con nhỏ nói anh trở về đơn vị, mấy người khác trở về nhà, về cơ quan mình, còn em đi đâu? Sao em phải chết?”.
Một cơn gió thổi tới Thu Hà kêu lên run lập cập, đứng dậy lấy khăn lau mình bận quần áo vào đến ngồi thụp xuống trước mặt Vinh gài mau những chiếc nút cuối cùng:
“Em kể anh nghe vậy thôi, em đâu muốn ở lại, chỉ cần gắn miếng nấm sáng sau ba-lô em đi theo anh hoài thôi”.
Hai người đi ngược lên bờ dốc, con đường ướt hơi sương lạnh ngắt. Thu Hà đi thật mau, bước chân thoăn thoắt len lỏi qua lại giữa những thân cây lồ ồ. Vinh đi sát theo sau, đường trở về dài ra gấp mấy lần, vẫn không thấy chỗ xóm dân đâu cả. Thu Hà vẫn thản nhiên cười: “Mình lạc thì sao hả anh? Đi hoài như vầy tới đâu?”. Nhưng rồi cũng tới, căn lều vợ chồng ông Tư Nghệ hiện ra, ông Chín Nếp đang ngồi mắt tròn xoe kể chuyện:
“…Anh chị ở lại đây cũng hay, cảnh vật coi hữu tình lắm, cây lồ lồ mọc đều tăm tắp như đủa giắt trong ống, con suối chảy lượn quanh, đất đỏ tươi như máu thịt ông bà, chẳng bù với quê tôi nước ngập quanh năm, kiếm một gò đất cho chó ỉa cũng không có. Thôi chuyện đi ở do trời định, cũng do lòng người, anh chị có căn nhà rộng rải thoáng mát như vầy là được rồi. Hồi thời ông cố tôi phải lặn móc đất đắp nhà, ban đầu chỉ là một gò đất che chòi ở tạm, tối đến phải ngủ ngồi mới đủ chỗ…”.
Vinh kéo Thu Hà vào nhà. Ông Chín Nếp ngưng kể đưa mắt nhìn quanh, mấp máy môi chờ được kể tiếp. Im lặng một lúc rồi ông Tư Nghệ kéo Vinh ra một góc nói, giọng như phân trần:
“Vợ chồng tôi phải ở lại thôi anh à. Hoàn cảnh ngặt quá, cả đời tôi đi kháng chiến chưa khi nào xa rời đồng đội như vầy. Anh hảy tin tôi”.
“Tin cái gì?”, Vinh cười hỏi. Ông Tư Nghệ vẫn nghiêm nghị:
“Tôi tìm cách đưa bà ấy về ngoài chợ rồi tìm đường về với đơn vị, một mình cũng đi, bất cứ như thế nào cũng không để bị giặc bắt tra khảo đánh đập, tôi không chịu nổi cái nhục đó”.
“Thôi được rồi, chuyện có gì đâu”, Vinh nói. “Hai bác cứ ở lại đây, mình chạy càn chuyện may rủi khó lường, có khi bác gặp đơn vị trước tụi này. Thật ra hổm rày mình đi chỉ vì phải đi, không thể ở một chỗ, có biết đường sá gì đâu”.
“Phải phải”, ông Tư Nghệ nói. “Nhưng giờ tôi ở một chỗ không còn liên hệ với ai nữa”.
Trong nhà Thu Hà nói với bà Tư Nghệ:
“Đêm nay cháu ngủ với bác, hai bác cháu mình nói chuyện với nhau…”.
Vinh trở về căn lều, ông Ba Quang đã ngủ yên, đống lửa cháy âm ỉ. Anh vun củi vào, hút điếu thuốc lên võng nằm mãi không ngủ được. Anh không có ý đợi Thu Hà, cô ngủ đằng nhà bà Tư Nghệ, nhưng không hiểu sao anh không thể ngủ. Anh hút thêm điếu thuốc nữa, nhớ tới chuyện ngày mai ra đi không có vợ chồng ông Tư Nghệ, cảm thấy thiếu cái gì.
Ông Ba Quang trở dậy lom khom đi đến bên đống lửa xoa tay lấy hơi ấm, hỏi:
“Anh không ngủ hả?”.
“Tôi ngủ nảy giờ rồi”.
“Tôi không ngủ được”, ông bật ho sù sụ. “Tôi yếu phổi, về sáng trở lạnh ngực đau ran”.
“Ông còn thiếu bịnh gì nữa không?”.
“Tôi bị tù bảy năm, ra tù nằm hầm ba năm. Rồi lên ở rừng Đông Bắc, Mả Đà sơn cước anh hùng tận, vùng đất người chết nhiều hơn người sống. Cô văn công ngủ đằng bà Tư hả?”.
“Chắc vậy”.
“Văn công cũng là cách mạng, nhưng mỗi ngành nghề mỗi khác, anh đừng thành kiến làm gì”.
“Tôi thành kiến cái gì?”.
“Tôi nói vậy thôi. Và nếu có lời khuyên anh nên tìm con gái nhà lành mần ăn chăm chỉ cưới làm vợ, đàn bà để sanh con đẻ cái, không phải để bóng sắc chưng diện”.
“Ông có vợ không?”.
“Tôi không chủ trương cưới vợ”.
“Ông khó tánh quá không ai dám lấy ông phải không?”.
“Thật ra tôi cũng suýt lấy vợ, chút xíu có con, nhưng rồi chuyện không thành”.
“Lý do?”.
“Cô ta nuôi tôi dưới hầm, tên trưởng đồn cùng đám lính đóng quân trên nhà. Cô ta thương tôi, nhưng tên trưởng đồn có thế hơn, nó ở trên đầu tôi. Một bữa nó dẫn cô ta đi mất”.
“Tiếp theo?”.
“Không có tiếp theo. Cô ta làm vợ tên trưởng đồn, đẻ con lấy tên tôi đặt tên con, thằng nhỏ lớn rồi không chừng đang cầm súng bắn lại tôi”.
Vinh trùm võng cố ngủ. Thu Hà vẫn chưa về. Anh thấy không yên, cảm thấy có cái gì đó không bình thường. Quả nhiên gần sáng có tiếng ồn ào, ông Chín Nếp chạy tới báo Thu Hà đã bỏ trốn cùng anh con trai trong xóm.
***
“Bậy quá! Nhục nhã quá!”, ông già dậm chân la trời la đất. “Ai ngờ nó làm chuyện bậy bạ như vậy? Thử hỏi còn có “lập trường” gì không? Dẫn con gái người ta đi đâu, giữa rừng trong lúc giặc càn, không sợ bom đạn cũng phải nể trời phật”. Khi được biết đứa con trai chỉ có mười bảy tuổi, ông càng la dữ: “Nó chỉ là một đứa con nít, ai xui nó làm chuyện bậy bạ như vậy? Có phải do trận càn mắc dịch này không?”.
“Chỉ có hai người lang thang trong rừng đi đứng ăn ngủ làm sao?”, ông Chín Nếp than vãn. “Có đem theo đủ gạo nước không? Vùng rừng này có cọp không?”.
“Con nhỏ dại quá”, bà Tư Nghệ nói. “Con gái bỏ đi hoang mang tiếng biết chừng nào”.
“Ngữ ấy lo gì mang tiếng”, ông già làng nói. “Cặp tay nhau ra đi lòng nhẹ nhàng phơi phới! Tức chết đi thôi! Đứa nào đi lôi cổ nó về đây”.
“Tôi đi”, Vinh nói. “Chú Chín đi với tôi”.
Vinh xin thêm anh con trai dẫn đường. Ba người lên đường đi ngay. Ông Chín Nếp mặt mày căng thẳng, như đang lao vào một trận chiến mới. Anh con trai dẫn đường luôn miệng càu nhàu: “Sao phải đi tìm, ăn cắp cái gì? Đang giữa trận càn đi phơi lưng như vầy, coi như nạp mạng cho tụi máy bay”. Không thấy anh dẫn đường gì cả, cứ nhắm mắt đi tới, ngả ba ngả tư rẻ đại một đường nào đó. Có vẻ anh ta cũng không thể biết đường sá gì, cây kim dưới biển mò làm sao. Anh nói anh sắp cưới vợ, không phải đám con gái ốm nhách xanh lét ở đây. Anh cưới con gái ngoài chợ, có dạm hỏi rồi, một cô nàng mập mạp sẽ đẻ cho anh một đống con.
“Rồi anh ra ở ngoài chợ hả?”, Vinh hỏi.
“Không, ở trong này. Tôi không theo giặc, để vợ ngoài đó mần ăn kiếm tiền nuôi con”.
“Thanh niên như anh không đi bộ đội, lo cưới vợ”.
“Cưới vợ trước, đi bộ đội sau. Tôi chết ai đẻ con cho tôi?”.
“Làng tôi xưa cũng có một đôi trai gái bị cưởng hôn, bỏ trốn như vầy”, ông Chín Nếp cất cao giọng kể lể. “Đêm mưa tầm tả, nước ngập tràn đồng. Gia đình đôi bên cho người đi tìm khắp cả, không thấy tăm hơi. Nhiều năm trôi qua. Một hôm có chiếc ghe ghé vào làng, hai ông bà đầu tóc bạc trắng bước lên. Đó chính là đôi trai gái bỏ trốn năm xưa, giờ đã già lão, con cháu đầy đàn, về đây tạ tội với gia đình và bà con chòm xóm…”.
“Ông già kể chuyện bá láp”, anh con trai dẫn đường ngắt ngang. “Ông là nhà văn hả?”.
Con đường dẫn lên một đỉnh đồi lộng gió. Vinh cho dừng lại tìm chỗ cao ngó bốn bên. Hai người bỏ trốn thế nào cũng phải dừng lại nấu cơm, có thể nhìn thấy khói bốc lên đâu đó. Nhưng không có gì cả. Rừng xanh trải dài ngút ngàn, đồi núi chập chùng nối tiếp nhau.
Có gì giống con sông xa xa.
“Có phải sông kia không? “, Vinh chỉ tay hỏi.
“Phải”, anh con trai dẫn đường đáp. “Bộ tính đi tới đó hả?”.
“Ta đi đi”.
“Tôi không đi đâu”.
“Sao không đi?”.
Vinh quay nhìn anh con trai, khẩu súng quay theo. Nhìn thấy nòng súng chỉa thẳng vào mình, anh con trai há hốc miệng:
“Anh làm gì vậy?”.
“Tôi hỏi anh đi hay không?”.
“Tôi đâu phải người của anh? Chuyện bậy bạ của thằng kia mắc mớ gì tới tôi?”, anh con trai nói như khóc.
“Nhưng anh đã nhận lời dẫn đường cho chúng tôi, đúng không?”, Vinh nói. “Đã nhận rồi phải đi tới nơi”.
“Tới đâu?”.
“Thôi để cháu nó đi”, ông Chín Nếp can. “Đi đi cháu! Mình đi thong thả như dạo chơi, cực khổ gì đâu. Hai đứa kia cũng đâu làm chuyện bậy bạ gì”.
Anh con trai bước đi, vẫn không chịu thôi:
“Anh định bắn tôi phải không? Có phải anh muốn bắn tôi không?”.
Họ theo sườn đồi đi đổ xuống, hơn tiếng đồng hồ tới sông. Bờ sông dựng đứng, đúng ra là một con suối lớn, nước chảy gầm gàu, đục ngầu bùn đất. Nhìn dòng sông bỗng dưng Vinh tắt hy vọng tìm thấy Thu Hà. Dọc theo bờ sông có con đường mòn nhỏ của những người câu cá hái măng. Vinh theo đó đi về hướng hạ lưu, anh đoán là gần vùng đồng bằng, hai người trẻ tuổi chắc muốn trốn chạy về đó. Họ đi mải miết. Trời ngã chiều. Một bến sông hiện ra, trống vắng, nhẩm dấu chân người qua lại, lò bếp than củi vương vãi. Các thân cây nhẵn thín dấu giăng võng. Vinh cho dừng lại nghỉ nấu cơm ăn, tranh thủ chợp mắt một chút. Anh định sẽ đi suốt đêm, có con sông rồi không sợ bị lạc. Ông Chín Nếp kiếm củi nhóm bếp. Vinh xuống sông bắt cá, kêu anh con trai kiếm rau nấu nồi canh. Vinh mò sục vào trong các hốc đá, nước chảy xiết, có loại cá môi dày bám vào gờ đá, anh mò bắt được mấy con. Thêm mớ sò đen trủi rong rêu. Có chiếc nón sắt Mỹ nằm ven bờ, anh lượm rửa sạch, bỏ tất cả vào đó bưng lên. Ông Chín Nếp ngồi nói chuyện rì rầm với ngọn lửa. Vinh bỏ mớ sò vào hăng-gô bắc lên bếp, quay ra làm cá. Chợt nghe tiếng chân thình thịch, anh con trai hiện ra mặt tái mét:
“Có người chết! Có người chết!”.
Ông Chín Nếp vụt đứng lên, thanh củi cháy còn cầm trên tay. Vinh cũng quăng mấy con cá. Anh con trai đứng lại thở hào hển không nói được, đưa tay chỉ ra rừng. Hai người chạy đi, Anh con trai chạy theo sau. Họ luồn qua các khóm cây bụi gai, dừng lại một chiếc võng giăng mùng trắng toát, hiện ra lờ mờ sau nền rừng tối đen.
Vinh hiểu sự thể như thế nào. Một chiến sĩ bị bịnh, sốt rét hay từ trong bịnh viện ra, đi rớt lại phía sau, dọc đường giăng võng mắc mùng nằm nghỉ, cơn sốt kéo đến anh nằm lại vĩnh viễn. Người qua lại tưởng anh chiến sĩ nằm ngủ, không ai hay biết gì cả.
Vinh bước tới vén mùng lên. Một hình người nằm trên võng, bộ xương với bộ quần áo, chiếc nón tai bèo, chiếc khăn rằn. Dưới gốc cây cạnh đầu võng còn nguyên chiếc ba-lô trên mấy thanh cây cột chéo, đôi dép râu đặt ngay ngắn cạnh bên.
Ông Chín Nếp nói:
“Mình chôn anh ấy đi!”.
Họ chặt cây làm giá dào đất, không có lổ bom để lổ huyệt thêm sâu. Ông Chín Nếp gom cành cây khô đốt một đống lửa “cho bớt u ám một chút”. Vinh giở ba-lô anh chiến sĩ ra, bộ quần áo mục nát rả ra theo tay. Quyển sổ giấy tờ cũng mục, không tìm thấy ghi tên tuổi địa chỉ. Họ chôn tất cả cùng với anh chiến sĩ, giữ lại con dao gâm và chiếc bi-đông.
Họ trở lại chỗ cũ nấu cơm ăn, lên đường đi ngay. Trời có trăng non. Họ đi âm thầm trên con đường rợp bóng cây cao bên bờ sông. Con sông lớn dần, chảy êm đềm, buồn bã. Thú rừng xuống sông uống nước chạy qua lại trước mặt. Họ đi một mạch đến nửa đêm dừng lại giăng võng ngủ ngay, không chuyện vãn nấu nướng ăn uống.
Vinh chợp mắt một chút thức dậy mở mắt thao láo một mình trong đêm. Con mển “tác” xa xa. Con chim đáp muỗi kêu “tóc tóc”. Con ó Mã Lai kêu “má ơi” nghèn nghẹn. Rồi tất cả lặng đi, nghe rõ tiếng con sông chảy êm đềm cạnh bên. Trên ngọn cây đầu võng, đám sóc con kêu “chút chút”, giành nhau chun nằm dưới bụng mẹ.
Lần đầu tiên kể từ lúc đoàn người ra đi, tối nay Vinh nằm ngủ không có Thu Hà bên cạnh. Ban ngày cũng vậy, cô luôn đi sau anh, qua rừng qua suối. Cuộc chạy càn không có ý nghĩa gì, nói chung là vô vị, nhưng cũng có niềm vui nho nhỏ. Số phận run rủi cô đi với anh, chỉ có mấy người với nhau, cô chọn anh làm người nương tựa. Trên đường cô đi kề sát phía sau, tối ngủ giăng võng sát kề bên, đầu hai người gần chạm nhau. Anh dẫn cô đi tắm suối, gần như trông thấy cơ thể để trần của cô. Vậy rồi cô bỏ đi, không nói một lời. Như tất cả những chuyện đó là không có thật, như mây khói huyển hoặc.
Vinh thấy lòng nặng trĩu, và lạ sao cũng không thấy giận. Trong đêm nằm một mình anh nhớ đến cô, từng cái nhăn trán nhíu mày, cô đưa tay vén mớ tóc bên tai, hình ảnh chung chung mờ ảo tràn ngập yêu thương. Cây cối đã bắt đầu cựa mình thức giấc, chim chóc xào xạc bay đi ăn, Vinh nằm yên, sợ những hình ảnh tan biến. Ở một góc rừng nào đó Thu Hà đang nằm co ro, cô có biết anh đang lặn lội đi tìm cô không?
Ông Chín Nếp khoát mùng ngồi dậy, mở mắt tròn xoe ngơ ngác nhìn quanh, kêu lên:
“Ôi trời sáng rồi, ta đi thôi. Tôi nằm chiêm bao thấy cọp liếm mặt, ghê quá!”.
Anh con trai ngồi dậy càu nhàu:
“Thấy cọp liếm mặt không hay ho gì đâu”.
Họ nhai một ít gạo rang, lên đường đi ngay. Con đường mòn bắt đầu rời bờ sông, lên cao mãi, như họ đang đến một vùng cao nguyên. Lại bắt đầu lang thang, một cuộc đi trong một cuộc đi. Anh giở sổ tay ra ghi chép để nhớ đường về. Qua một con suối họ đi lên một con lộ ủi, hai bên rừng dầu lưa thưa đều tăm tắp. Bỗng thấy có bóng người đằng xa. Vinh khoát tay mọi người nép qua bên đường chờ đợi. Hóa ra là hai người buôn thuốc Tây! Hai người đi hối hả, cúi rạp người dưới hai chiếc ba lô to kềnh. Vinh bước ra tươi cười:
“Hai ông bạn đi tới đây rồi hả?”.
Hai người đứng lại, vẫn để nguyên ba-lô trên lưng, thở hào hển. Người nhỏ thó nói:
“Mấy người đi tìm cô văn công hả? Về đi! Cô nàng về rồi, đang khóc rùm đằng nhà. Tụi này ghé đằng đó rồi mới đi đây”.
Hóa ra họ đã đi lòng vòng, không xa chỗ nghỉ bao nhiêu. Đường về rất mau. Về tới nhà Vinh giăng võng ngủ ngay, không gặp Thu Hà, cũng không gặp ai khác.
(còn tiếp)
Nguồn: Con đường xuyên rừng. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|