tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
13.08.2012
Lê Văn Thảo
Con đường xuyên rừng

Có một đoàn khách trên đường dây giao liên, dừng chân ở một trạm, đụng một trận càn, lính Mỹ đổ quân từng sư đoàn chạm súng với bộ đội ta cũng từng sư đoàn, hai bên quần nhau súng nổ mù trời. Trạm giao liên cũng bị đánh trúng, nóng máu chạy quấn theo với đơn vị bộ nổ súng, bỏ mặc đoàn khách chạy táo tác không người dẫn đường, không biết đi đâu làm gì. Hết bị pháo dập đến bị một toán Mỹ đánh thọc vào, đoàn khách chạy tan tác, không ai quen biết ai không thể biết thương vong ra sao, ai còn sống ai đã chết.


Giờ đây họ tập họp lại được trong một vạt rừng thưa, không có được khẩu súng trái lựu đạn, lương thực chỉ còn một ít, sức lực đã cạn kiệt. Chiến sự dịu đi một chút. Quân Mỹ vẫn còn bao quanh, tiếng bom pháo đì dùng lúc gần lúc xa, trực thăng rà sát. Máy bay khu trục, phản lực gầm rú trên đầu.


Buổi trưa nắng trên đỉnh đầu. Trời trong, tiếng bom pháo lại rộ lên, như vào đợt đánh mới, rồi lại lùi xa, chỉ còn nghe văng vẳng. Cụm rừng ở vùng trũng, nhiều cây mật cật cao quá đầu người, tàn lá rộng che kín mặt đất lồi lõm sũng nước, tối mờ mờ, đầy những lá mục. Vắt bò lúc nhúc quơ vòi trên khắp cành lá. Mọi người ngồi lặng thinh trên những mô đất, nhìn nhau qua kẻ lá, tiếng con suối chảy xa xa, bầy mối càn đi ăn rào rào trên lá khô. Vài người đàn ông hút thuốc, những người khác nhai gạo rang, nhá thử miếng cơm vắt đã thiu nhớt từ mấy ngày qua. Một loạt bom nổ làm rung chuyển mặt đất. Rồi lặng thinh, tiếng muỗi vo ve. Nắng xuyên qua kẻ lá, rớt lốm đốm xuống những vũng nước, hắt bóng lung linh trên tán lá cây mật cật xanh mượt.


Một chiếc máy bay trinh sát L19 rè rè ngang trên trên đầu nghiêng ngó dòm dỏ, như muốn hỏi: “Có ai dưới này không?”.


“Không có gì đâu”, một người nói vọng lên, cười cợt, cố phá tan không khí căng thẳng.


Chiếc máy bay qua khỏi. Một người nói:


“Hay ta họp “đoàn” một chút đi, hả các đồng chí?”.


Đó là ông Tư Nghệ, cán bộ Ban tuyên huấn Trung ương cục, tuổi trên sáu mươi, tóc bạc gần trắng, người già nhứt trong đoàn. Ngồi kế bên là bà vợ cũng già như vậy, nhà ở ngoài chợ, ông Tư Nghệ nhắn vô thăm bị trúng trận càn. Không ai đáp lời ông Tư Nghệ. Im lặng một lúc lâu nữa rồi ông Tư Nghệ nói tiếp, giọng đều đều như giảng bài:


“Công việc mình giờ đây là thoát khỏi vòng vây trận càn, bảo toàn tính mạng. Mọi người phải cùng nhau bàn bạc tính toán, chúng ta tuy không cùng đơn vị nhưng không phải một toán người ô hợp. Trước tiên tôi đề nghị chúng ta bầu người trưởng đoàn”.


Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Không ai nói gì. Ông Tư Nghệ tiếp tục:


“Tôi giới thiệu đồng chí này! Nghe nói anh là bộ đội, đã từng bắn rơi máy bay”.


Ong Tư Nghệ chỉ tay về phía một thanh niên tuổi chừng hăm lăm, người to ngang khỏe mạnh, mặt vuông thô, tóc cứng rể tre cắt ngắn, xỉa ra như bông gáo. Anh bận đồ bộ đội nhưng không thấy có đeo súng, lại thấy lủng lẳng bên hông chiếc sáo trúc.


Anh thanh niên vội lắc đầu:


“Không được đâu, tôi không biết chỉ huy đâu”.


“Sao không được?”, ông Tư Nghệ hỏi.


“Tôi là lính trơn, mới nhập ngũ thôi”.


“Lính trơn còn hơn mọi người không ai biết súng ống gì cả”.


“Tôi cũng đâu có súng?”.


“Không có súng nhưng anh biết bắn súng, đúng không? Khác nhau chỗ đó. Anh nhận lời đi. Anh coi đây nè, toàn người già phụ nữ, đến bóp cò súng còn chưa biết”.


“Tôi không có súng”, anh lắp lại.


“Rồi sẽ có. Cái chính là anh đã từng chiến đấu, biết đối phó với bom đạn”, ông Tư Nghệ khoát tay coi như đã xong. “Anh tên Vinh phải không? Anh Vinh bắn rơi máy bay hồi nào vậy?”.


“Máy bay nào?”.


“Tôi nghe anh kể hôm rồi trên đường đi”.


“À, hồi ở dưới quê, tôi làm du kích”.


“Bắn rơi máy bay là khá lắm”.


“Khá khỉ gì! Nó sà xuống chỉa súng vô miệng hầm, mình không bắn nó nó cũng bắn mình. Cả mấy thằng cùng bắn, không biết ai đâu”.


“Đã bắn được là khá rồi”, ông Tư Nghệ khoát tay. “Thôi ta bàn chuyện khác đi”.


Nhưng đâu có chuyện gì để bàn. Mọi người tiếp tục ngồi bó gối nhai gạo rang, bắt vắt, vá lại những chiếc ruột tượng gạo. Tiếng bom pháo chợt yên hẳn, nghe tiếng gió lùa trên ngọn cây mật cật, tiếng con suối chảy xa xa. Cảnh yên bình, như không hề có trận càn. Không hề có chiến tranh bom đạn, máu chảy người chết, mọi người tụ họp chuyện vãn một chút rồi đường ai nấy đi.


Vinh đứng dậy đi rảo một vòng, mặt mày đăm chiêu. Tự nhiên thành người chỉ huy như thế này, cũng phải coi “quân mình” như thế nào, vùng rừng dẫn tới đâu. Chưa có ý định nào trong đầu cả, chưa biết một chút gì. Anh bước xuống lội đi trên rãnh nước ướt lấp xấp đen ngòm tanh tưỡi mùi lá mục, đi lòng vòng không nhìn ai, lắng nghe tìm hiểu gì.


Chợt có giọng trong trẻo cất lên:


“Anh Vinh ơi, em có khẩu súng!”.


Một cô gái ngồi trên mô đất cất tiếng gọi anh. Đó là Thu Hà, cô diễn viên múa của đoàn văn công tỉnh, đang trên đường đi tập huấn trên trung ương, tuổi trên dưới hai mươi. Mấy ngày rày trên đường đi, nhan sắc vóc dáng của cô khiến Vinh thấy khó gần, thậm chí còn có chút ác cảm. Anh vốn xa lạ với những người trong ngành nghề biểu diễn phô trương. Anh thích coi văn công, nhưng cố tránh những người biểu diễn. Ngay hồi nhỏ ở làng, Vinh ghét cay ghét đắng những con nhỏ trạc tuổi bôi môi mắt xanh đỏ diễn tuồng ở đình, mặc dù biết ba má chúng bắt làm, chúng không biết gì.


Nhưng đó là trước trận càn. Giờ đây cô ngồi bó gối, quần xắn cao đầu tóc rối bù mặt tái xanh, không có vẻ gì là văn công cả.


“Em lượm được hôm qua”, cô gái nói tiếp. “Không biết ai làm rớt”. Cô cầm đưa cho Vinh khẩu súng ngắn K54.


Vinh xem xét khẩu súng, tháo băng đạn thấy chỉ còn mấy viên, đã rỉ sét. Không đáng gì, một khẩu súng ngắn mấy viên đạn cho cả đoàn người. Nhưng dù sao cũng là một khẩu súng. Vinh nhét khẩu súng vào thắt lưng, thấy cần phải nói đôi câu với cô gái:


“Không phải làm rớt đâu”.


“Là sao?”.


“Không ai làm rớt súng cả”.


Cô gái vẫn còn ngơ ngác nhưng Vinh không thể nói thêm, cô gái không thể nào hiểu anh cũng không muốn nói anh chiến sĩ nào đó đã chết hoặc bị thương. Cô không biết súng đạn với anh bộ đội còn quí hơn mạng sống. Mất súng là bị kỷ luật. Anh nói sang chuyện kahcs, tìm chuyện vui vui, kể một lần trong lúc xung phong anh bị phát súng trúng vào báng súng khẩu tiểu liên, khẩu súng văng mất, đồng đội chạy ào tới anh chạy thối lui quờ quạng tìm kiếm, sợ đến phát khóc…


“Rồi tìm được không?”, cô gái hỏi.


“Được”, anh đáp. “Nhưng là một khẩu trung liên. Lần đó tôi bị kiểm điểm nhẹ thôi, do tôi tìm được khẩu súng tốt hơn”.


“Anh ngồi xuống đây đi, ngồi chỗ khô này nè. Anh bắn giỏi lắm hả?”.


“Sao cô biết?”.


“Thì anh bắn rớt máy bay…”.


“May vậy thôi. Nhưng tôi có khiếu bắn súng, có thể bóp cò thật nhanh, bóp cò tiểu liên chỉ nổ hai viên. Không ai trong đại đội bắn được như tôi. Hồi nhỏ ở quê tôi bắn giàn thun cũng giỏi, chim dòng dọc đậu tuốt trên ngọn me cao tôi bắn không khi nào trật. Nhưng nói chơi vậy thôi, đụng trận lộn tùng phèo, ở đó hai viên với ba viên”.


“nói chuyện với anh vui quá! Anh đeo cái gì vậy?”.


“Chiếc sáo. Tôi đem từ dưới quê lên, để thổi chơi vậy thôi. Nhưng chưa khi nào tôi được thổi. Không rảnh. Cũng sợ làm động. Nhiều lúc phục kích không dám ho nói chi tới thổi sáo. Nhà tôi có nghề thổi sáo gia truyền, ông nội tôi thổi sáo nổi tiếng, ba tôi thổi cũng giỏi. Tôi học thổi sáo từ hồi nhỏ, ông chú dạy tôi, nửa chừng bị trúng bom chết…”.


“Thôi thôi, anh…”.


“Ừ thôi nói chuyện khác đi”.


Vinh có nhu cầu muốn nói chuyện. Anh đi bộ đội mấy năm, dự năm bảy trận đánh, thường có những lúc như thế này: đang nổ súng rầm trời bỗng yên phắc, ai nấy ngơ ngác đầu óc trống rổng, cảm giác thèm gần gủi chuyện trò.


“Đúng ra tôi mê bắn giàn thun hơn thổi sáo”, anh tìm chuyện nói, bất cứ chuyện gì. “Chú tôi nói: Tao bắt mày học thổi sáo để mày bớt đi rong chơi. Trong giòng họ tao không thấy ai ham chơi như mày”.


“Anh mấy tuổi rồi mà còn ham chơi?”.


“Mười lăm. Nhưng tôi đâu biết làm gì. Nhà không ruộng không vườn, chỉ mỗi con trâu. Bà con hàng xóm cũng nghèo như vậy. Đám trẻ chúng tôi cắt một đứa chăn cả bầy, còn lại cứ rong chơi, đào dế, hớt cá lia thia, nhổ cỏ chỉ đá gà. Một dạo chúng tôi theo mấy anh du kích phụ đào giao thông hào, gài chông cắm đinh. Nhưng cũng chỉ cốt vui chơi thôi. Con nít mười bốn mười lăm tụ tập là có chuyện vui”.


Gò đất nhỏ xíu, Vinh ngồi sát vào cô gái, chạm vào vai vào tóc cô. Tóc Thu Hà không đẹp, ngắn, hơi vàng cháy, nhưng tỏa mùi thơm. Vinh chưa từng ngồi gần một cô gái như vầy. Bỗng dưng anh thấy cô gần gủi giản dị, không kiêu kỳ xa cách như mấy hôm rày. Có lẻ do trận càn.


“Tôi chỉ thổi sáo lúc ngồi trên lưng trâu”, Vinh nói tiếp, không dừng được. “Bắt chước tấm hình treo nhà chú tôi. Ngồi trên lưng trâu rảnh rỗi không làm gì. Người ta nói “lỗ tai trâu” là không đúng. Con trâu cũng biết nghe. Tôi thổi sáo nó đi chậm lại, quay đầu nhìn tôi hai mắt ướt nhèm. Con trâu sau đó bị lính bắn chết, chúng mổ bụng con trâu nhét xác người du kích vô đó”.


“Thôi đi, anh à”.


“Ừ thôi đi. Nhưng làng tôi ngày nào cũng có người chết, không nói sao được? Quê cô không có giặc càn, máy bay ném bom sao?”.


“Anh xưng hô kiểu gì vậy?”.


“Anh nói với em mà”.


“Được rồi. Em nhỏ lắm, chưa tới mười tám. Em là diễn viên múa nên cao hơn người ta. Anh hỏi quê em làm chi, ở đâu cũng vậy thôi. Nhưng em ở trong đoàn văn công chỉ lo múa hát. Tổ múa của em có năm bảy đứa con gái, hôm rồi có ông thầy múa ở trên về coi chân cẳng em nói có thể múa xô-lít. Em mừng lắm xin đoàn cho đi học”.


“Là múa cái gì vậy?”.


“Múa ba-lê đó anh. Múa một mình, sàn múa thật rộng, láng bóng như gương, có dàn nhạc đệm, đèn màu, em lướt đi như bay như lượn… Anh coi múa bao giờ chưa?”.


Vinh chưa từng coi múa bao giờ. Một lần đơn vị nghỉ quân, nghe gần đó có đoàn văn công ghé diễn trung đội anh xin đi coi. Đại đội trưởng nạt: sắp hành quân coi văn công cái gì. Nhưng cũng cho đi. Bọn anh vắt cơm đi ngay, trời mưa dầm dề, đến tối trời vẫn mưa, văn công không diễn bọn anh quay về. Anh không muốn điều đó với cô gái.


“Coi vẻ anh không thích múa, tiếc quá! Hay lắm anh à, như bay như lượn. Oi trận càn mắc dịch, không giờ này em tới chỗ trường múa trên R. rồi. Ông thầy nói em học múa ở đây xong, sẽ ra Bắc, rồi đi nước ngoài”.


“Em đi… rồi có trở về không?”, Vinh buột miệng hỏi.


“Không biết. Em đã đi đâu! Lên R còn chưa tới mà. Anh hỏi chi vậy?”.


“Hỏi vậy thôi”.


“Em ham học lắm, thành người có tài sướng lắm. Anh ngồi đây hoài có kỳ không? Được rồi, anh ngồi thêm chút nữa đi, em cho anh khẩu súng rồi còn gì. Kể chuyện nữa đi anh! Kể hồi nhỏ đừng kể chuyện giặc giả”.


“Nhưng tôi lớn lên làng đã có giặc rồi…”.


Ở chỗ vợ chồng ông Tư Nghệ cũng có một cuộc nói chuyện. Thật ra chỉ có bà Tư nói ông Tư ngồi nghe, thỉnh thoảng đáp lại vài câu nhát gừng, ậm ừ trong cổ họng. Bà Tư than thở chuyện con cái, trách ông nổi hứng kêu bà vô đây trúng trận càn, ở nhà đủ thứ chuyện lu bu không ai lo. Tthằng trai lớn tới tuổi bắt lính, không khéo cha con bắn nhau. Hai đứa con gái sinh đôi đến tuổi lấy chồng không lấy lính lấy ai? Ong Tư ngồi nghe không biết nói gì, những chuyện như Vầy ông không quen. Ong đi kháng chiến từ hồi nhỏ, lấy bà rồi vẫn đi kháng chiến, chống Pháp chống Mỹ ông làm nhiều chuyện lớn có công trạng, nhưng chuyện gia đình chưa một lần nhúng tay vào. Ngồi làm thinh hoài rồi ông đâm bực:


“Tôi được rồi, bà đem đám con vô đây cho tôi”.


“Rồi tôi ở ngoài đó với ai?”, bà Tư nói.


“Thì bà vô ở luôn trong này với tôi”.


“Để ông cằn nhằn bận bịu vợ con không lo chuyện công tác của ông hả? Thôi ông lo việc cách mạng của ông đi, để tôi lo việc dân của tôi”.


Ong Tư tìm cách nói sang chuyện khác:


“Hai đứa con gái bao nhiêu tuổi rồi?”.


“Ong không tính được hả?”.


“Thì bà nói tôi khỏi tính mắc công”.


Những chuyện vậy ông không tính được. Ông luôn thấy khó xử với những chuyện cơm áo gạo tiền, nuôi con cái.  Hồi lấy bà ông nhờ cơ quan cưới cho, nằm khoèo dưới ghe tam bản, anh em trong cơ quan lên nhà nói chuyện, có bà mai phụ giúp. Từ trưa tới xế chiều bà mai xuống ghe hỏi: ông chịu không? Ong đáp: chịu! Dù chưa thấy mặt mủi như thế nào.


Trời đã nghiêng xế, tiếng bom pháo ầm ì xa xa. Mọi người chia thành từng nhóm nổi lửa nấu nước châm bi đông, nấu cơm nắm thành cục lớn gói vào tấm khăn vải dù pháo sáng, giắt vào thắt lưng, mỗi bên hai cục chuẩn bị chập tối ra đi.


Vinh nấu cơm chung với Ba Quang, bác sĩ quân y, không rõ đi đâu bị kẹt như thế này. Ong trạc bốn  mươi, gầy yếu xanh xao, ho khúc khắc luôn, triệu chứng của người sốt rét ở rừng lâu năm. Í khi nào thấy ông la cà chuyện vãn, có mở miệng cũng chỉ nói châm chọc khích bác. Vinh quen ông ta từ những ngày đầu đi đường, trạm sắp xếp tổ nấu nướng ăn cơm chung. Vinh có cảm giác luôn bị ông ta rình rập theo dõi, trên đường đi thỉnh thoảng quay lại thấy ông ta nhìn mình, hai mắt mờ đục không còn chút sinh khí.


“Nấu cơm đi ông bác sĩ ơi!”, Vinh gọi.


“Chà, bây giờ anh là người chỉ huy rồi!”, Ba Quang cười nói.


Vinh tìm củi khô đóng cọc treo hăng-gô nổi lửa nấu nước. Ba Quang xuống suối vo gạo, lửa cháy lớn ngọn không chút khói, nước sôi châm vào bi-đông. Cơm chín hai người bày ra trên mô đất, ngồi xổm hai bên bẻ nhánh cây làm đủa, xắn cơm ăn với gói muối tiêu còn sót lại trong đáy ba lô. Bữa cơm nhẩn nha kéo dài, chờ trời tối, trận càn đã yên rồi sẽ yên hết đêm nay.


Cơm nước xong thu dọn đồ đạc, nhẫn nha mãi cũng chỉ được hơn tiếng đồng hồ, vẫn còn hơn tiếng đồng hồ nữa. Mọi người lại ngồi bắt vắt, đập muỗi.


Vinh nói tiếp chuyện hồi nảy với ông Ba Quang:


“Ong nói tôi là người chỉ huy. Tôi chỉ huy cái gì?”.


“Anh có quyền sai bảo tất cả”.


“Sai bảo ai? Tôi sai bảo ông được không?”.


“Được. Thí dụ như trên đường anh bảo: ông Ba Quang đi lên trước! Tôi chạy lên liền”.


“Không chỉ huy tôi cũng nói được như vậy”.


“Phải. Nhưng mọi người phải nghe lời anh, không sẽ bị kiểm điểm. Tổ chức là như vậy. Sức mạnh của tổ chức cũng ở đó. Nhưng tôi trông anh không ra người chỉ huy, bộ đội cũng không”.


“Ong nói như khám bịnh tôi vậy”.


“Tôi chịu khó quan sát thôi. Hôm đầu gặp anh tôi nghĩ bụng: Anh chàng này làm sao vậy? Cứ lóng nga lóng ngóng, mặt mày láo liêng, như nuốt lưỡi lam trong bụng”.


“Tôi vừa ra khỏi bịnh viện, trên đường về đơn vị, đụng trận càn”.


“Sao anh đi về hướng đồng bằng, đơn vị anh ở trên rừng mà?”.


“Coi như tôi bịnh thêm ít ngày, tranh thủ về quê thăm nhà được không?”.


“Được thôi. Nhưng như vậy là phạm luật. Người chiến sĩ có kỷ luật không làm như vậy”.


“Ong đúng là bác sĩ, chi li dữ quá!”.


“Tôi chịu khó quan sát thôi. Một lần người ta đưa vô bịnh viện một thương binh bị thương ở tay, vết thương nhẹ ở phần mềm. Nhưng tôi hửi thấy có mùi thuốc súng ở tay. Thằng Mỹ kề sát nòng súng bắn vô tay à?”.


“Anh ta tự bắn vô tay hả?”.


“Tôi xét đoán theo chuyên môn của mình, không nhận xét đánh giá gì. Mấy ngày rày tôi cũng thấy anh có cái gì đó không ổn, hoang mang lo lắng, như người đứng ở ngả ba đường không biết đi đâu. Đó là hồi trước trận càn. Giờ chúng ta pahỉ cùng đi chung đường thôi, nương tựa vào nhau”.


“Tôi không nương tựa vào ai hết. Nhứt là với ông”.


“Tùy anh thôi. Nhưng ít nhứt chúng ta phải nấu cơm chung”.


“Tôi sẽ nấu cơm riêng”.


“Đã nói tùy anh mà. Nhưng như vậy tốn củi hơn. Củi đầy rừng nhưng phải kiếm mới có”.


“Củi này tôi kiếm, không phải ông”.


“Nhưng tôi đi lấy nước vo gạo. Đó anh thấy không, chúng ta cũng phải hợp lực nhau thôi”.


Ông Ba Quang ngủ gà gật. Vinh ngồi nhai gạo rang, từng hột một, nghĩ ngợi tính toán. Dù sao anh cũng đã nhận việc rồi. Phải đi ban đêm, ban ngày tìm cụm rừng nghỉ ngơi, lo cơm nước. Cứ đi theo hướng Bắc đi sẽ gặp rừng già, thế nào cũng gặp các cơ quan dân chánh, sống nương nhờ với họ đợi hết trận càn. Vinh không thông thạo vùng rừng này lắm. Chỉ biết cứ đi cấn về bên trái sẽ gặp sông, đoạn sông dài làm biên giới Việt Nam – Campuchia. Rồi nương theo đó mà đi, gặp các đơn vị bộ đội nên tránh, thêm vướng víu phiền phức, có thể chịu đựng bom đạn do vùng chiến sự gây nên. Tóm lại cứ đi, lâu mau gì cũng gặp được người. Gay nhứt là khoản lương thực. Mỗi người một ruột tượng gạo, biết đi bao nhiêu ngày? Tốt nhứt nên đào củ rừng dọc đường. Mùa mưa không thiếu rau rác, măng tre, các loại dây leo, gặp suối có thể bắt cá, mò các loại nghêu sò. Gạo để dành cho trường hợp khẩn cấp. Thuốc men ai cũng có, chưa kể kho thuốc và tay nghề của ông Ba Quang. Lo nhứt là muối, “vàng ròng” của xứ rừng. May mắn sẽ tìm gặp những kho muối dự trữ của bộ đội rải rác trong rừng, nhưng đó là điều không nên mơ ước tới.


Vinh hỏi vọng sang chỗ ông Ba Quang:


“Ông đem theo nhiều muối không?”.


“Nhiều là bao nhiêu?”.


“Đại khái… ăn được nhiều ngày… Ai biết là bao lâu, ông biết được hả?”.


Trong đoàn có tổ năm người đàn ông tuổi trung niên, mang vác rất nhiều máy móc, Vinh đoán là máy điện đài. Suốt từ những ngày đầu trận càn họ sinh hoạt gần như độc lập, nấu ăn riêng, chuyện vãn thì thầm, có điều bí mật cần phải giữ, điều thường có trong chiến tranh ai cũng hiểu. Vinh và mọi người tránh nói chuyện với họ, họ cũng ngồi một góc không nói chuyện với ai. Giờ một người bỗng đi đến trước mặt Vinh nói:


“Tổ chúng tôi lạc mất một người, anh cho chúng tôi trở lại tìm”.


“Sao bây giờ mới tìm?”, Vinh lớn tiếng nói.


“Chúng tôi tìm rồi nhưng không gặp”, người điện đài nói, mặt lạnh băng. “Chúng tôi có công tác gấp định đi luôn. Nhưng chúng tôi vừa bàn lại, phải tìm anh ấy thôi, bất kể như thế nào”.


“Phải tìm chớ sao không?”, Vinh nói. “Trường hợp nào cũng phải trở lại tìm. Không được bỏ thương binh, người đi lạc, mấy anh biết rồi mà?”.


Người điện đài vẫn lạnh băng:


“Chúng tôi biết. Nhưng anh không biết công việc của chúng tôi khẩn cấp như thế nào đâu”.


“Đó là chuyện của mấy anh”, Vinh hạ giọng. “Mấy anh đi tìm kịp không? Chút nữa trời tối mình đi rồi?”.


“Chúng tôi sẽ trở lại trước khi trời tối. Không kịp mấy anh cứ đi trước, chúng tôi sẽ đuổi theo sau”.


“Mấy anh có súng không?”.


“Chúng tôi có hai khẩu súng ngắn, một khẩu anh mất tích đang giữ”.


“Lựu đạn?”.


“Có năm trái”.


Tổ điện đài ra đi mang theo tất cả đồ đạc, phút chốc chỗ của họ không còn lại dấu vết gì.


Trời xế chiều.


Chợt có tiếng động. Một người rẻ lá hiện ra. Đó là một ông già chừng năm lăm tuổi, người trong đoàn, mặt nhăn nheo trán bóng nhẩy, hai mắt tròn xoe như sắp cười hoặc sắp khóc. Ong đưa mắt nhìn quanh, giọng ngân nga như hát:


“Oi cha, vậy là gặp được đoàn rồi! Phước đức ông bà! Bà con mình bình an hết hả?”.


Ong Tư Nghệ la lên:


“Ong đi đâu nảy gì, bây giờ mới ló mặt ra?”.


“Chạy giặc chớ đi đâu”, ông già nói, tìm chỗ ngỗi xuống giữa mọi người, tiếp tục giọng kể lể: “Ôi cha, bom đạn quá trời quá đất! Thằng Mỹ có đâu nhiều bom vậy không biết. Sự vụ là như vầy: Nghe bom nổ tôi bắt đầu chạy, bom cứ đuổi theo sau. Tôi là dân đồng bằng, rừng cũng là nhà của tôi, đường sá thông thạo tôi chạy riết. Gặp một chiếc hầm núp tôi nhào xuống, thấy có con chó nhà ai cũng đang núp dưới đó. Con chó không sủa chỉ gầm gừ, không chịu làm quen, bom nổ cứ đòi chun vô trong. Nó đến trước tôi phải nhường nó, nghĩ bụng con chó cũng có mạng sống của nó”.


Đó là ông Chín Nếp vừa đi dự trại sáng tác văn học trên trung ương cục trên đường trở về địa phương. Tại sao vốn là một bầu gánh hát cấp huyện, không dính dáng gì tới văn chương chữ nghĩa, được triệu tập đi dự trại sáng tác văn học? Đó là điều bí ẩn với mọi người, cũng với bản thân ông. Chắc có sự lầm lẩn giấy tờ sao đó. Hoặc giả ông có tài văn chương tiềm ẩn, bậc thức giả nào đó đã nhìn thấy. Dù sao ông cũng đã lặn lội lên rừng dự trại sáng tác văn học, ngày tám tiếng ngồi vào bàn viết, trại trưởng đưa cho ông xấp giấy ông viết kín cả, không chừa lề, không xuống hàng chấm phết, chữ nhỏ rít, xiên xẹo như cua bò, nhiều chỗ chữ nọ chồng lên chữ kia, viết tới đâu giấu kỷ tới đó, đợi ngày bế mạc trại mọi người chia tay lên đường, ông giao đống tập giấy cho trại trưởng, ra trạm giao liên ra về ngay, mang theo nỗi kinh hoàng chín tháng làm anh nhà văn bất đắc dĩ.


Ở trong trại khổ sở bao nhiêu thoát ra được rồi ông vui bấy nhiêu, hí hửng kể chuyện cho mọi người nghe, đọc lại vanh vách những trang ông viết, những câu hò vè những chuyện tiếu lâm, mớ vốn liếng “văn học” ông có thể viết không bao giờ cạn.


Ong Tư Nghệ nói:


“Thôi bỏ chuyện con chó với chuyện văn học đi. Kể chuyện mấy ngày rày ông đi đâu, làm gì?”.


“Nói chuyện tôi làm gì, tôi lo cho anh chị em mình thôi”, ông Chín Nếp nói với giọng khiêm tốn, không mấy thật bụng, mấp máy môi chuẩn bị cho một câu chuyện dài. “Trong cái rủi có cái may. Nhờ chạy lung tung tôi biết được địa hình vùng này. Tôi tuy vốn không ưa rừng, nhưng vùng rừng này không đến nỗi tệ lắm. Đất đai coi có vẻ hiền dịu không khí trong lành. Có con suốt chảy ngang như long mạch, địa thế như thế này đi tới cũng tốt, trụ lại cũng tốt. Tôi thấy mình nên đi theo hướng Bắc, là hướng của vua chúa. Suốt mấy ngày tôi đã chạy qua nhiều cụm rừng có nhiều gò nổng, có vẻ là bãi luyện quân của vua chúa mình ngày xưa. Thấy có những con đường mòn trủng xuống, là đường voi đi. Rải rác có những phiến đá mãi nhẳn, các tráng sĩ đã mài gươm dưới ánh trăng. Chuyến đi của chúng ta hôm nay là chuyến đi về nguồn. Tôi sẽ đi với bà con, bao lâu cũng được. Miễn đừng đưa tôi trở lại trại văn ác nghiệt ấy. Văn chương gì như moi móc ruột gan người ta. Tôi sợ viết văn, không phải sợ rừng. Rừng là nhà của mọi sinh vật. Bà cố nội tôi kể rằng vùng đất phương nam ngày xưa toàn là rừng già, cây cối mọc phủ từ trên núi xuống đồng bằng, ra tới biển. Con người ở trong rừng, sống chung với muông thú, đàn ông cởi voi đi rừng, con nít giởn chơi với cọp beo. Đó là thời kỳ thái bình, không có chiến tranh thù hận. Lâu lâu có cuộc đánh lộn của đám trai giành gái vậy thôi. Cảnh sống yên vui như thế kéo dài, một trăm năm hay một ngàn năm, sử sách không ghi rõ. Bỗng có cơn gió lành thổi tới, nấm mọc đầy rừng, thơm như trứng gà trứng ngổng. Mọi người hái nấm ăn không cần làm lụng, ăn nhiều bụng bự mắt híp không nhìn thấy gì, đi đứng quờ quạng, đụng chạm sanh chuyện xô đẩy kèn cựa. Cảnh bất ổn xảy ra từ đó…”.


Ong Chín Nếp dừng ngang giữa chừng, nhìn mọi người ngơ ngác, như lấy làm ngạc nhiên về câu chuyện của chính mình. Người khác đang kể chớ không phải ông. Sau đó ông ngồi thu người lại, không nói gì nữa.


Vinh rời chỗ Thu Hà đến với vợ chồng ông Tư Nghệ. Anh rất thích nói chuyện với bà Tư, nghe bà kể chuyện nhà cửa con cái. Bà cũng thích nói chuyện với anh. Bà kéo anh ra một góc, cách xa ông Tư, bắt đầu thăm hỏi:


“Cháu đi bộ đội bao lâu rồi? Về thăm nhà lần nào chưa?”.


“Cháu về một lần rồi. Hồi ở huyện. Cháu đang ở chỗ luyện quân nghe ba cháu bịnh nặng. Thật ra ông bà kêu cháu về cưới vợ”.


“Cưới chạy tang hả?”.


“Không phải. Ba cháu bịnh hoạn gì đâu? Kiểu mấy ông bà già, sợ cháu đi bộ đội chết bị tuyệt tự. Cháu về nhà thấy cô ấy ở trong nhà, mới mười lăm, như đứa con nít, người cao ráo, làm lụng giỏi nên ba má cháu ưa”.


“Rồi có cưới không?”.


“Mới mười lăm cưới cái gì? Cháu đi bộ đội làm sao cưới?”.


“Ừ mười lăm tuổi thì nhỏ thật”, bà Tư thở dài nĩi. “Nhưng con gái mau lớn lắm. Hai đứa con gái sinh đôi của bác, mới đây thôi mà đ ế chồng”.


Lại nghe tiếng sột soạt. Hai người đàn ông hiện ra, một cao lớn dềnh dàng, một nhỏ thó ốm yếu, mang lỉnh kỉnh đồ đạc của người đi rừng chuyên nghiệp, hăng-gô bi-đông lập-là, dao gâm đèn dầu đèn pin, lon nhôm lớn nhỏ, ba-lô đựng quần áo vật dụng cá nhân, thêm hai chiếc to kềnh như người du hành vũ trụ. Đó là hai người buôn thuốc Tây họ gặp qua lại trên đường mấy hơm rồi trước trận cn. Những người dân buôn bán sống bám theo các cơ quan đơn vị bộ đội, hàng hóa thiết yếu mắc tiền giá cả phải chăng. Họ cũng lăn lộn chịu đói khát đội bom đạn không thua bất cứ người chiến sĩ nào, có chuyến lời nhiều có chuyến lỗ nặng, không mấy ai giàu có. Quanh năm suốt thng vẫn cứ thấy họ lặn lội, như một nghiệp chướng.


Hai người buôn thuốc Ty chọn mô đất cao sạch sẽ để đồ đạc, thức ăn khô mặn đựng trong hộp lớn hộp nhỏ, nổi lửa nấu cơm luộc rau hái dọc đường, cơm chín bày ra ăn pha trà vấn thuốc hút, không mời ai, cũng không nhờ vả gì. Phì phà điếu thuốc rồi người nhỏ thó bắt đầu nói, người cao lớn dềnh dàng chỉ có phụ họa theo:


“Chúng tôi ghé qua chút thôi. Đi bên kia bìa rừng thấy có khói bên này, biết mấy ông bạn ở đây, qua nấu cơm ăn nói chuyện cho vui. Bà con mình tai qua nạ khỏi hết ahr? Nhưng cực quá phải không? Tụi này cũng cực. Chưa buôn bán được gì đụng trận càn chạy cà cồng như thế này, hai bao thuốc Tây còn nguyên, móc với đơn vị quân y rồi giờ bom đạn mù trời biết đâu mà tìm. Đành phải đi lang thang. Mớ thuốc Tây có giấy hợp đồng, hư hao mất mát ai đền cho tụi này đây?”.


Người cao lớn dềnh dàng nói theo:


“Ừ, ai đền cho tụi này đây?”.


“Buôn bán kiếm được đồng tiền không phải dễ”, người nhỏ thó nói tiếp. “Nhứt là trong thời buổi giặc giả này. Nên tụi này ráng giữ gìn mạng sống, kiếm được đồng nào hay đồng nấy. Hồi nảy ở bên kia bìa rừng nhìn thấy khói tụ bên này, tụi này bảo: Mấy cha nội này ẩu quá, coi máy bay Mỹ không ra gờ-ram hết”.


Người cao lớn nói theo:


“Mấy cha nấu nướng ẩu quá! Phải kỷ hơn mới được”.


Ong Tư Nghệ nói:


“Tụi này cám ơn hai anh. Nhưng tụi này là cán bộ chiến sĩ, không biết chuyện buôn bán gì đâu”.


“Đâu ai sanh đẻ ra đã biết buôn bán”, người nhỏ thó vui vẻ nói. “Nhưng rán chịu khó rồi cũng làm được thôi”.


“Hai ông bạn không định đi theo tụi này chớ?”, ông Tư Nghệ hỏi sang chuyện khác.


“Không, đi theo làm chi? Cho chết chùm hả?”, người nhỏ thó trợn mắt nói. “Tụi này đi riêng thôi. Buôn bán phải lo nồi cơm của mình. Tụi này ghé đây coi mấy ông bạn có cần giúp đỡ gì không? Đi đứng ra làm sao? Biết đường sá gì chưa? Gạo nước đủ chưa? Không thấy có súng đạn gì hết, gặp tụi Mỹ cắn nó hả?”.


“Tụi này không đến nổi gì đâu, chỉ không rành đường thôi”, Vinh nói.


“Được, để tụi này chỉ cho”.


Người nhỏ thó lấy chân khỏa lá khô, vẽ xuống đất những đường ngang đường dọc, hướng Bắc hướng Nam. Vùng rừng này như vầy. Đây là trảng đây là đường mòn, đường xe bò. Đây là con suối. Sông Vàm Cỏ đây, ngọn nguồn thôi. Các vạt rừng, các trảng, các bàu, lộ đá đỏ, lộ nhựa… Người nhỏ thó trông oai vệ, như vị tướng lãnh trên sa bàn. Vinh và mọi người đứng chung quanh trố mắt nhìn cố ghi nhớ, ngạc nhiên không hiểu sao anh ta chỉ là người buôn bán bình thường biết nhiều như vậy.


“Đi nhiều biết nhiều thôi”, người nhỏ thó xoa tay nói. “Dân làm ăn đầu có xuôi đuôi mới lọt”.


Anh ta kể một lần bị kẹt trong một trận xuýt bỏ mạng. Đang đi trên đường gặp con suối nhiều cá, họ định dừng lại bắt ăn, nào ngờ lọt vào trận địa đôi bên đang nổ súng, chỉ còn cách bám lấy mấy bờ đá chịu trận.


“Sao không chạy?”, mọi người hỏi.


“Chạy đi đâu?”, người nhỏ thó nói. “Tụi này đâu có theo phe nào? Hú hồn hú vía! Rốt rồi trời cũng thương dân mần ăn lương thiện, tụi này sống được đến bây giờ... Thôi chào nghen!”.


Hai người buôn thuốc Tây ra đi, khuất sau khóm cây đầu này vạt rừng. Tổ điện đài về tới, đem theo người bị thương. Họ tìm thấy anh trong đống lá khô, kiến bu đầy người, bất tỉnh nhưng tim vẫn còn đập, cáng khiêng anh đi liền. Một toán lính Mỹ vẫn còn lùng sục gần đó. Ông Ba Quang xem xét các vết thương của người bị thương, nói không sao, chỉ có mất nhiều máu, hơi nguy hiểm nếu đi xa đường. Vinh kêu mọi người chuẩn bị đi. Tổ điện đài cột kỷ lại chiếc cáng. Mọi người mang vác đồ đạc đứng thành hàng. Thu Hà đứng sau Vinh. Vợ chồng ông Tư Nghệ lục soạn đồ đạc, mang cái này lên rớt cái kia xuống. Bà Tư ở chợ mới vô chưa quen đi rừng. Ông Tư cả đời đi kháng chiến chống Pháp chống Mỹ, nhưng vốn vụng về cũng không hơn gì. Ong Chín Nếp cảm thấy giờ phút nghiêm trọng, đưa mắt nhìn từng người. Tất cả mười một người, kể cả người bị thương. Vinh sẽ đi trước với Thu Hà. Ong Chín Nếp, vợ chồng ông Tư Nghệ đi kế. Ong Ba Quang đi với tổ điện đài. Nắng đã tắt nhưng trời hảy còn sáng.


Một người trong tổ điện đài kể chuyện trong lúc chờ khởi hành:


“Anh ấy bị thương bò đi một khoảng xa nằm lại, gom lá cây phủ lên người, các dấu máu cũng được xóa kỷ. Vậy là anh ấy còn tỉnh lắm, lâu sau đó mới ngất đi. Hay anh ấy bị thương lần nữa, sau lúc bị thương? Có thể như vậy lắm. Đạn trong khẩu súng ngắn vẫn còn nguyên, khẩu súng đã lên cò, . A ấy nằm chờ, tụi Mỹ xả súng bắn, anh ấy trúng đạn lần nữa, vẫn nằm yên. Thật không thể tưởng tượng được”.


Vinh nói lớn:


“Thôi ta đi đi!”.


Đoàn người bắt đầu đi.


 


***


 


Khu rừng mật cật trải dài, có con suối vắt ngang, cạn nước, đầy lá mục, nhưng đáy suối trải đá sỏi rắn chắc. Vinh cho mọi người đi giữa lòng suối để tránh vắt, theo ngược đường nước chảy anh nhắm là hướng Bắc. Trời tối rất mau, pháo sáng giăng tỏa lung linh trên nền trời. Họ đi thật chậm, lặng im, chỉ nghe tiếng bước chân khua nước lỏm bỏm. Khu rừng tối dần, sậm màu lá khô, thỉnh thoảng có những chỗ trống quang, dấu vết của bom pháo. Con suối không lớn không nhỏ, một cở kéo dài. Theo lời chỉ dẫn của người buôn thuốc Tây, có thể con suối đổ ra con sông dọc biên giới. Vinh rất muốn đến được đó. Như là một cái đích nhắm đến, không biết để làm gì. Dù sao con sông cũng là cái gì đó thân thương. Nhưng anh ngờ bọn Mỹ theo đó làm hành lang tiến quân.


Thu Hà đi liền kề. Vinh cảm thấy hơi thở của cô sát phía sau. “Cô ta là diễn viên múa, chân dẻo dai, chắc đi bộ giỏi lắm”, Vinh bắt đầu nghĩ ngợi lung tung. Như hồi ở đơn vị, những đêm hành quân, bắt đầu đi, bước chân đều đều anh thường sa vào những cơn mơ màng như vậy. Những hình ảnh lộn xộn, không đầu đuôi, thường là những xưa cũ hiện ra liên miên. Anh vội lắc đầu như để xua đuổi. Giờ anh không còn là người lính, anh là người chỉ huy. Phải cáng đáng mọi việc, căng mắt nghe ngóng quan sát. Nhưng chỉ được chút thôi, đầu óc trống rổng cơn mơ màng vẫn kéo đến.


Anh nhớ lại chuyện hồi ở dưới quê. Nhà anh nghèo lắm, chỉ là một túp lều xiêu vẹo, một cơn gió lớn là đổ sập. Trước cửa nhà là cánh đồng, xa nữa là chiếc bưng rộng suốt ngày bọn trẻ trầm nghịch, vốc bùn chọi nhau, leo lên lưng trâu rượt đuổi. Cạnh bưng có chiếc bờ đất không biết của ai, đắp lên để làm gì, hàng cây trâm bầu cằn cổi lá đầy sâu, mấy cây ổi “chim ỉa” cành lá xơ xác trái nhỏ lăn tăn, đầy hột, năm này tháng kia không lớn lên cũng không chết đi. Lần nào ra đó bọn trẻ cũng leo lên mấy cây ổi hái trái ăn nhăn mặt phun phì phì. Vinh gắn bó với mấy cây ổi, không hiểu ra sao, nhắm mắt lại là thấy hiện ra. Anh cũng nhớ cây trâm đầu làng, đến mùa trái chín tím thẩm, anh leo hái cởi áo bọc đem về, bọn con gái chạy theo hỏi xin anh chỉ cho một ít. Anh không ghét chúng, nhưng anh thương đám bạn trai của anh hơn. Anh có đám bạn trai “chí cốt”, chia sớt các thứ đồ chơi, chiếc giàn thun con trâu đất. Rồi cải vã đánh nhau, đứa nào cũng đủ thứ tật xấu, nhưng chỉ mấy hôm chơi lại với nhau. Đó là những ngày buồn thảm cơ cực kéo dài, nhưng anh không hề biết, không cảm thấy. Anh vẫn đi rong chơi. Cha bịnh nặng nằm liệt giường anh về ngồi bên một lúc, có thằng bạn kêu réo thế là anh lại chạy đi. Bọn anh bày trò chơi đánh giặc giả, hồi hộp gay cấn không thua những trận đánh thật sau này. Làng bên sông Vàm Cỏ, dân cư sống âm thầm lặng lẽ. Máy bay đầy trời, bom nổ chỗ này chỗ kia, dân làng vẫn cắm cúi làm ruộng, gạt lúa ma, giăng câu đánh lưới, ngày hai bữa cháo rau. Gia sản chỉ có chiếc xuồng cụt mủi, chiếc nóp bàng, chiếc áo tơi lá cần đóp. Ngày Thanh Minh ngày Tết vui hơn một chút. Nhà cửa đường sá quét dọn sạch sẽ, trẻ con bận đồ mới. Vinh đốn một gốc tre lớn làm súng bắn khí đá, tụ tập chơi trò đánh giặc giả nhưng không khi nào đủ bọn cả. Cầu sập, xuồng vô nước, cha mẹ bị bịnh, trâu nhà bị pháo bắn trúng, có đứa này thiếu đứa kia, cuộc vui thường bị ngắt ngang tạm dừng.


Chiến tranh là như thế. Đó là cảm nhận đầu tiên của Vinh về chiến tranh, cái gì cũng đứt đoạn giữa chừng.


Vinh nhớ quá chừng con trâu nhà, nó rất hung dữ, chém lộn không thua con trâu nào. Nhưng với Vinh nó rất hiền, anh cởi nó đi đủng đỉnh về chuồng đút rơm cho nó, nó nhìn anh mắt ươn ướt, thở phì phì nóng hổi vào tay anh. Chính con trâu sau này bọn lính bắn chết, nhét xác người du lích vào đó, cho xe tăng kéo ra giữa dồng. Nhiều ngày trôi, qua xác con trâu trương phình lên, không ai dám ra sợ đám lính rình phục. Suốt tuần cả làng như có một dám tang lớn, lặng thinh lặng ngắt, nỗi đau không thể giải bày cùng ai.


Con chó nhà anh cũng bị tụi lính bắn chết. Đi càn vào tới đầu làng chúng xả súng bắn. “Cho có trớn” chúng nói. Con chó bị trúng nguyên một băng đạn vào bụng, không thể băng bó gì được, nằm thoi thóp nước mắt chảy dài, ba ngày mới chết. Đó là một con chó xấu xí của nhà ai lạc vào, lông xám xịt tai nhọn như tai chuột, mắt ti hí, rất tinh khôn, biết đào hang bắt chuột, bắt rắn, lội ra bưng đuổi chim, lùa vịt về chuồng. Không có chuyện gì làm, nó bày trò vui nhộn như giả chết, chạy ba chân. Vinh rất thương con chó, nhưng nhiều khi cũng không gái nổi. Đang giữa trưa bỗng nghe nó sủa mãi, nhìn chăm chăm vào một con vật vô hình nào đó dưới gốc cây chuối. Anh đi chơi đâu nó cứ đòi đi theo, anh xua đánh nó lủi trốn, nhưng ra tới đầu ngõ thấy nó đứng đợi ở đó, anh bẻ một cành cây lớn vung lên nó quì mọp bò lết lại liếm tay anh. Có một lần anh cùng nó lội qua sông, tới giữa dòng anh giả chết đuối đập tay loạn xạ, lặn núp dưới chùm rể cây. Con chó hoảng hốt lội vòng quanh kêu rên rỉ, leo lên bờ ngồi chồm hổm cất tiếng tru dài như khóc.


Những chuyện không đáng gì như vậy, lan man vô vị, không hiểu sao anh cứ nhớ hoài, mỗi lần nhớ lại thấy đau nhói trong lòng. Dạo năm Thìn bão lụt nước ngập tràn đồng, nhà cửa đường sá cũng ngập, ngoài sông lớn nước chảy cuồn cuộn. Trong đồng nước ngập trắng, ruộng vườn bị ngập lúa chết hết, cây trái thúi ủng. Người lớn kêu trời than vãn, con nít vui mừng thả bè đi giăng câu, đâm chuột, vớt lục bình bắt những con le le mới nở. Vinh đóng một chiếc bè thật lớn ra sông vớt đồ đạc, không có gì đáng giá, mấy trái dừa khô, một con vịt chết, một chiếc rương giống như rương đựng vàng trong các truyện cổ tích, nhưng mở ra chỉ thấy toàn giấy vụn, mớ hột giống đã lên mầm. Nhưng Vinh vui lắm, được bập bềnh trên sông hồi hộp tìm kiếm. Hôm đó như mọi lần Vinh chống bè ra sông, cặp vào một chùm rễ gừa, mắt nhìn gườm gườm như một tên cướp biển. Đồ đạc trôi tới, lục bình rác rến, những cành cây những gốc cây, một chiếc cà-ròn căng phồng, một chiếc rương Vinh cho qua luôn. Một chiếc xuồng trôi tới, trên xuồng có mấy bao bàng căng phồng chắc đựng lúa gạo. Xuồng nhà ai bị đứt dây trôi đây, của trời cho dịp may hiếm có. Vinh tháo dây bè định bơi ra bỗng thấy gần đó có chiếc xuồng đâm ra. Đó là ba Vinh, ông không bỏ lở dịp may này. Rồi lại thấy ông hàng xóm cũng bơi xuồng đâm ra, nhằm vào chiếc xuồng đang trôi tới. Hai chiếc xuồng của ba Vinh và ông hàng xóm cùng ra một lượt. Hai người thường ngày nhậu với nhau, giờ đây lặng lẽ níu lấy chiếc xuồng trôi, giành giựt níu kéo. Hai chiếc dầm vung lên, hai chiếc xuồng quay ngang ngửa rồi lật chìm. Hai người tiếp tục quần nhau trên sóng nước, mệt đuôi sức lặng lẽ leo lên xuồng bơi về nhà.


Đêm hôm đó Vinh chứng kiến cảnh ba Vinh nằm úp mặt khóc trên giường. Bên kia chắc ông hàng xóm cũng khóc như vậy. Vinh thôi đi bè từ đó, tuổi thơ chấm dứt. Năm Thìn đói kém như cột mốc của đời anh, cũng đã tới tuổi biết thế nào là những giọt nước mắt xót xa cay đắng. Cũng chính từ đó anh lớn lên.


Con suối đột ngột biến mất chấm dứt những hồi ức của Vinh. Một con đường xe bò trắng toát nằm vắt ngang, đung đưa dưới ánh pháo sáng. Vinh cho mọi người dừng nghỉ, bàn với mấy anh điện đài nên đi đường nào, đi trên đường xe bò hay tìm đường mòn trong rừng. Tổ điện đài muốn đi đường xe bò để dễ khiêng cáng thương. Ong Ba Quang muốn đi đường mòn. Đoàn người lỉnh kỉnh như vầy đi phơi lưng dưới ánh pháo sáng trên đường rộng thênh thang, chẳng khác nào làm điểm cho pháo bắn.


“Ý bác thế nào?”, Vinh hỏi ông Tư Nghệ.


“Tùy mấy anh thôi”, ông Tư Nghệ đáp. “Vợ chồng tôi không đi tiếp được. Bà ấy bị đau chân, dân chợ đâu quen đi rừng”.


Vinh đứng lặng, cảm thấy bị đòn đánh đầu tiên:


“Không rán được chút nào sao?”.


“Bà ấy nằm bẹp, đòi chết kia kìa!”.


Vinh thấy cần phải cương quyết:


“Được. Hai bác nằm lại nghỉ ngơi rồi đi lần theo sau. Cháu đưa đoàn đi tới chỗ nghỉ, quay lại rước. Mình sẽ đi theo kiểu nhảy cóc. Đó là ngày mai, còn bây giờ nói với bác gái rán đi một đỗi nữa. Đi trên đường xe bò cho dễ”.


Vinh ngạc nhiên về giọng nói của chính mình. Con đường xe bò rộng, thẳng, hai bên cây mọc thưa thớt, tầm nhìn rộng, thật nguy hiểm nếu gặp biệt kích. Mọi người bắt đầu đi, qua những vạt rừng thưa những trảng cỏ, những vạt rừng đang ngún cháy, những thân cây khô bốc lửa như một ngọn đuốc. Nhiều lúc pháo sáng tắt hẳn, tiếng bom pháo vẳng xa, như mặt trận đã lùi về phía sau. Đoàn đi chậm, đợi vợ chồng ông Tư Nghệ và tổ điện đài, hơn hai tiếng đồng hồ chỉ đi chừng bốn năm cây số. Con đường xe bò vẫn thẳng một chiều, nhưng cũng không chắc lắm. Thỉnh thoảng Vinh rẻ vào vệ đường xem vỏ cây một thân cây, bên nào cháy xém nhiều đó là hướng Đông. Anh cố ngăn mình không chuyện vãn, dừng lại nghỉ chân ngồi riêng ra một góc, sợ phải nghe những khó khăn mới. Họ đi thêm hơn tiếng đồng hồ nữa con đường xe bò bỗng đứt ngang. Ông Tư Nghệ giải thích đây là đường chở gỗ của Trần Lệ Xuân, năm 60 nổ ra chiến tranh việc cưa gỗ phải chấm dứt. Vinh sục qua hai bên đường, tìm thấy con đường mòn nhỏ lẩn khuất trong bụi rậm phủ đầy lá khô, hẳn lâu rồi không có người đi. Anh coi đồng hồ: bốn giờ sáng. Anh bước tới chỗ vợ chồng ông Tư Nghệ:


“Bác gái sao rồi?”.


“Bà ấy đi như bò lết, tội nghiệp quá!”.


“Hay ta cùng ở lại, địa thế vùng rừng coi cũng tốt?”, ông Chín Nếp góp ý.


“Ở lại đến bao giờ?”, ông Ba Quang nói. “Mình có thương binh phải đưa gấp tới bịnh viện”.


Vinh giải quyết theo cả hai hướng: vợ chồng ông Tư Nghệ nghỉ lại đây. Anh đưa đoàn đi tiếp một đỗi, sáng ra trở lại rước. Người nghỉ được nghỉ, người đi vẫn đi. Riêng anh phải đi đoạn đường gấp đôi.


Ông Chín Nếp dẫn vợ chồng ông Tư Nghệ vào cụm rừng cách đường chừng trăm thước, cây cối tương đối rậm, bên dưới trống trải, có thể giăng võng ngủ ngay. Vinh chặt cây làm cây mồi, làm giá để ba-lô, căng ni-lông. Ông Chín Nếp gom cành cây khô đốt một đống lửa nhỏ, xoa tay:


“Thôi êm ấm quá rồi! Bắc hăng-gô nước pha trà uống được rồi. Ở rừng nấu nướng thật sướng”.


Cụm rừng nhiều cây tai nghé và cây săng đá, cành lá héo úa như vừa bị một đợt chất đọc hóa học, mặt đất chai cứng, không hứa hẹn có khoai củ gì. Vinh nói, quay nhìn ra ngoài, sợ bắt gặp ánh mắt ông Tư Nghệ:


“Thôi tụi này đi. Hai bác cứ giăng võng ngủ. Sáng mai bác trai đi tìm nước, theo triền dốc, thấy có dây mây mọc nhiều là gần tới suối. Kẹt quá có thể tìm dây kim cang hoặc dây cổ rùa chặt khúc, hứng lấy nước nhựa màu đỏ, uống ngọt như nước củ dền”.


Ong Tư Nghệ nói:


“Bà nhà tôi mới đi rừng còn lóng ngóng, anh thông cảm. Còn tôi kháng chiến cả đời, anh đừng lo. Sáng mai anh trở lại chớ?”.


“Cháu sẽ trở lại. Nhưng bác phải đề phòng trường hợp xấu nhứt”.


Vinh không nói trường hợp nào, bị trung bom, đi lạc, biệt kích đánh cắt, sa vào một trận càn khác. Chắc ông Tư Nghệ phải hiểu.


Không quay lại Vinh đi luôn. Ong Chín Nếp đi theo sau nói lầm bầm điều gì. Pháo sáng gần như tắt hẳn, con đường mòn uốn lượn ngoằn ngoèo, thấp dần xuống, con suối hiện ra nước chảy loang loáng. Vinh dừng lại. Thu Hà đến liền kế bên. Đoàn người phía sau vẫn còn chưa lên tới. Vinh nói:


“Để anh lội qua trước coi sao”.


Vinh trải tấm ni-lông choàng, cởi quần áo đặt vào đó cùng với ba-lô, khẩu súng, đôi dép râu, buộc túm lại bằng sợi dây thun căng che mưa, làm thành một chiếc phao lớn, một tay níu chặt đầu phao tay kia để lên trên đi lần ra mép nước, dò dẩm đi tiếp ra giữa suối. Bỗng có tiếng kêu khẻ. Thu Hà đang lội sát theo sau, cũng bắt chước y như vậy, chỉ có khác để nguyên quần áo trên người. Nước lạnh ngắt, sâu tới ngực rồi tới bụng. Có chỗ sâu quá đầu phải lội bập bềnh. Hai người qua hết con suối, leo lên bờ vẫn không thấy đoàn người phía sau  lên tới. Vinh tìm chỗ bụi rậm bận quần áo, giở thuốc ra hút. Thu Hà vẫn ngồi co ro vì lạnh. Vinh gắt:


“Em để nguyên quần áo lội nước, bao nhiêu quần áo cho đủ?”.


Thu Hà rên rỉ, co ro ôm bọc đò đi vào bụi rậm. Vinh rít khói thuốc trong lòng bàn tay, hỏi vọng vào:


“Sao không thấy mọi người lên tới? Em đi sau mà?”.


“Em không biết”, Thu Hà đáp vọng ra. “Em nghe chú Chín đi sát sau em”.


“Em tưởng vậy thôi”, Vinh nói. “Người đi trước phải chú ý tới người đi sau, đứt chỗ nào lỗi người chỗ đó. Thôi để anh…”.


Thu Hà đứng sát bên Vinh, có thể nhìn thấy cơ thể để trần của cô. Đôi vai hẹp, vú thật nhỏ, dáng người thon cao, mờ ảo trong màn sương. Vinh thấy thoáng rung động nhè nhẹ, vẫn ngồi yên, điếu thuốc trong tay. Anh chưa từng nhìn thấy cơ thể để trần của phụ nữ, lại gần sát bên như thế này. Anh đã nhìn thấy một lần, hồi ở quê. Nhìn từ xa, các cô gái tắm ao giữa đồng. Anh nằm ngủ trên bờ đìa, trong rặng trâm bầu, nghe tiếng con gái đùa giởn, thức đậy nhìn ra, giữa trưa nắng một đám con gái trần truồng lặn hụp cười giởn té nước vào nhau, chỉ thấy những bóng trắng nhỏ xíu, trong ánh nắng lung linh. Anh ngồi yên, các cô tắm xong lên bờ bạn quần áo ra về anh vẫn ngồi. Tối về ngủ trong cơn mơ màng anh nhìn thấy lại cảnh đó, thật ra không thấy gì cả, chỉ là một mớ những bóng trắng, những cánh tay giơ cao trong ánh nắng lung linh.


Tiếng Thu Hà:


“Ôi cái gì sáng quá vầy nè, như đom đóm vậy”.


“Nấm lân tinh”, Vinh nói, thở ra nhè nhẹ. “Em lấy một miếng giắt vô ba-lô, lát nữa anh dòm đi cho dễ”.


Đoàn người phía sau lên tới, lao xao bên kia bờ suối. Ong Chín Nếp lội qua trước, ba lô giơ cao trên đầu, run lập cập. Báo cho biết do anh thương binh bị ngất, ông Ba Quang phải dừng lại chăm sóc. Vinh lội trở qua tiếp đưa cáng thương sang. Có nhiều người lội qua, nước suối bớt lạnh hơn.


Tiếng ông Chín Nếp reo lên bên kia suối:


“Ôi cha, nấm lân tinh sáng quá! Hồi xưa mái nhà ông nội tôi có nấm lân tinh, ban đêm nhà sáng lên như nạm ngọc”.


Họ tiếp tục đi. Trời hửng dần lên ở chân trời, một chiếc trảng lớn lộ ra. Bãi đóng quân của tụi Mỹ! Trước mặt là một cảnh huy hoàng với xe tăng, máy bay trực thăng, những dãi lều bạt, những lô cốt bằng bao cát, bồn nước cao su, vô số những đụn đất cao bằng thân người. Đèn pha chiếu sáng cả một vùng rừng, khung cảnh càng thêm lung linh rực rỡ.


Vinh và mọi người vẫn đứng trố mắt, lặng thinh ngỡ ngàng. Tiếng ông Chín Nếp:


“Ôi cha, quá sức thằng Mỹ không? Nó dời nước Mỹ của nó qua đây hay sao vậy?”.


Thu Hà bước tới đứng sát bên Vinh, thở mạnh:


“Như chợ vậy. Nhưng làm sao đi?”.


“Cứ đi thôi”, Vinh nói.


Vinh dẫn đoàn người rẻ sang hướng khác, đi vòng quanh bái đóng quân của tụi Mỹ. Hơn tiếng đồng hồ sau trời sáng, họ tìm cụm rừng dừng lại nghỉ. Suốt ngày hôm đó hình ảnh bãi đóng quân của tụi Mỹ choán chật hết tâm trí Vinh.


(còn tiếp)


Nguồn: Con đường xuyên rừng. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012. www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »