Đoàn người đi rồi, vợ chồng ông Tư Nghệ lo sửa soạn chỗ ngủ. Tăng che mưa, cọc mồi đã được Vinh và ông Chín Nếp làm dùm xong hết rồi. Giờ chỉ còn dọn sạch, giăng võng, kiếm thêm ít củi dự trữ giữ lửa cho đống lửa. Không có việc gì nhiều họ cứ lục đục mãi. Họ biết sẽ khó ngủ, nhưng sợ phải lên võng nằm. Ông hỏi bà:
“Bà lạnh không?”.
“Không”, bà đáp. Rồi hỏi lại: “Ông làm cái gì hoài vậy?”.
“Tôi đốt cho bà đống lửa, củi lớn như vầy sẽ cháy suốt đêm. Ở rừng có lửa là vui. Bà ngủ đi, quay chân lại đống lửa nè. Người ta lạnh từ chân, mấy năm ở với người dân tộc thiểu số tôi học được điều đó. Hay bà đưa chân đây cho tôi”.
“Ông làm cái gì?”.
“Tôi bóp chân cho bà”.
“Ôi trời đất ơi, ông kỳ quá đi. Thôi tôi ngủ đây”.
“Bà ngủ đi. Ráng ngủ, sáng ra sẽ khỏe thôi. Không có gì phải lo. Không gấp gáp gì, sáng thức dậy ăn uống xong ta thong thả lên đường, đi chậm thôi, mệt thì nghỉ. Mình tai qua nạ khỏi như vầy là may mắn lắm rồi. Bà ngủ đi!”.
“Ông nói hoài tôi không ngủ được?”.
“Tôi nói thêm chút nữa thôi, tôi có tật nói láp giáp lâu rồi. Gạo nước ta có đủ, thuốc men lương khô cũng có, ở rừng chưa ai bị chết đói cả”.
“Đây là rừng của ông, không phải của tôi”.
“Thì cũng vậy thôi, giờ mình sống chết với nhau”.
“Đừng nói chuyện chết chóc tôi sợ lắm. Nói chuyện khác đi”.
“Ừ nói chuyện gì khác đi”.
Nhưng nói chuyện gì? Ông Tư buồn đến não lòng. Ông cưới bà lúc bà mười sáu tuổi, đến nay đã gần năm mươi năm, ông sống với bà được bao nhiêu ngày? Hôm sau ngày cưới ông đã ra đi, từ đó tới giờ đôi ba năm ông gặp bà một lần, lén lút vụng trộm, nơm nớp lo sợ biệt kích, giặc càn. Và trong đôi ba ngày gặp nhau, nửa thời gian ông dành để diễn thuyết, quen thói rồi. Ông giảng cho bà nghe về địch ta, cách mạng trong nước và thế giới, ai thắng ai, đâu có thời giờ nói chuyện với bà, hỏi thăm chuyện nhà cửa con cái, thật tình những chuyện đó ông không biết và cũng không muốn biết. Ở ông, cái chung trừu tượng át mất cái riêng cụ thể. Nhưng bà không than phiền gì, bà tin ông nghe theo ông. Suốt mấy ngày ông nói theo thao, rồi ông đi, ba năm sau gặp lại giữa đồng, trong một chòi giữ dưa, bà ngồi trên đống rơm ông đi vòng quanh giải thích cho bà biết rằng cách mạng rồi sẽ thành công, mọi người sẽ được ấm no hạnh phúc. Bà nghe ông với niềm tin vô biên, cố ghi nhớ từng câu từng chữ để về kể lại với đám con và bà con chòm xóm. Bao nhiêu năm với những lần gặp gỡ như vậy, bà không hề buồn chán thắc mắc, nghe tin ông nhắn bà tất tả ra đi, vượt qua bao nhiêu đồn bót, ấp chiến lược, những trận càn, những lần bị giặc bắt tra khảo đánh đập, không một lần bà nãn chí, vẫn đến với ông để nghe ông nói, bà ngồi nghe.
Lần này chắc cũng như vậy. Chỉ có điều bà già quá rồi, sức nghe đã giảm, ông cũng không còn sức đâu hùng hồn.
Bà Tư nói:
“Mình nằm lại như vầy là phải ông à, tôi không đi thêm được bao nhiêu nữa đâu. Tôi đi đâu làm gì?”.
“Bà nói gì vậy?”.
“Tôi nói ông đi kháng chiến cả đời, công trạng cũng vừa đủ. Tôi nuôi con cái cũng lớn khôn, xong việc tôi rồi”.
“Bà làm như mình chỉ còn sống đêm nay thôi vậy”.
“Tôi không nói chuyện sống chết, tôi nói mình cần nói chuyện với nhau”.
“Vậy bà nói đi. Giờ đây tôi nghe bà nói, kể bao nhiêu năm bà nuôi con như thế nào”.
Bà biết kể chuyện gì? Chuyện nhà cửa con cái, có đáng kể không? Nhưng không thể hình dung những năm đầu ông Tư ra đi, một mình bà thành người vợ, người mẹ, với bao lo toan chồng chất. Nhà không có ruộng vườn, bà con họ hàng tứ tán, bà gởi con hàng xóm bương ra đường tìm việc làm. Nhưng việc làm ở đâu ngoài đường? Đang đi thấy một quán khách khứa ra vào tấp nập, bà đi thẳng vào, ra sau bếp tgự dọn chén dĩa dơ đi rửa. Người trong nhà thấy bà tự nhiên quá cũng không nói gì, chỉ cười đùa, bà cũng kệ người ta coi mình như người điên khùng. Ngày hôm sau rồi nhiều ngày sau nữa bà cũng làm như vậy. Cho đến một hôm chủ quán kêu bà lại nói: “Cô sao vậy? Bị chồng bỏ, hay bỏ chồng? Hay có chuyện gì khác?”. Bà không đáp. Chủ quán nói tiếp: “Thôi đó là chuyện riêng của cô. Nhưng cô có con chớ? Cô làm không công như vầy con cái ai nuôi? Cô muốn tôi mang tiếng ác với con cô hay sao?”.
Chuyện là như vậy. Bà kể cho ông nghe, cho vui thôi. Rồi nói:
“Ông không biết hồi đó tôi cực như thế nào đâu”.
“Thì tôi cũng cực”, ông chống chế. “Tôi đeo chiếc nóp con dao rựa, người ta chỉ vô một cụm rừng nói: “Vô đó xây cứ đi”. Tôi bắt đầu làm cách mạng như vậy đó”.
“Ông còn có đồng đội, tôi chỉ có một mình”, bà nói.
Điều đó thì đúng, ông nghĩ nhưng không nói ra.
Khu rừng sáng dần, bớt u ám quạnh hiu. Có mấy cây dâu trái chín vàng, ông lụm cụm leo bẻ một chùm đem cho bà. Bà ăn khen ngon, nói ngọt không thua dâu vườn nhà. Ông ngồi coi bà ăn dâu. Rồi lập cập đứng dậy xách hăng-gô đi tìm nước, dặn bà ngồi yên trên võng, đừng đi đâu, nghe tiếng động hoặc ai kêu hỏi cũng đừng lên tiếng. Ông đi vòng theo hình trôn ốc để khỏi lạc, theo chiều nghiêng của mặt rừng, dò tìm dấu rãnh nước chảy. Cuối cùng ông gặp được con lạch còn ít nước, có vẻ là ngọn nguồn của một con suối nào đó. Ông múc nước đem về nhóm lửa, bắc hăng-gô lên, đi múc nước nữa, trở lại con lạch thấy một con kỳ đà lớn nghểnh cổ nhìn ông. Ông thốt run lên, không phải sợ, mà nghĩ tới món lương khô có được từ thịt kỳ đà. Ông ngó quanh quất tìm được khúc cây, cầm chắc trong tay từ từ tiến đến. Con kỳ đà không bỏ chạy, không có động tác phản ứng gì, chỉ nghểnh cổ nhìn theo tay ông. Ông lấy hết sức giáng xuống đỉnh đầu nó. Con kỳ đà gục xuống. Ôg giáng tiếp mấy cái nữa, cho đến khi nó chết hẳn. Ông xách con kỳ đà lên, thấy nó gần như bị mù cả hai mắt. Ông thấy chạnh lòng, hơi chút sượng sùng, nhưng cũng xách con kỳ đem về.
“Con gì vậy?”, bà Tư hỏi.
“Con kỳ đà”, ông đáp. “Thịt ngon lắm, như thịt gà. Để tôi nấu cho bà ăn, bà sẽ hết đau chân”.
“Ôi con gì kỳ quá, tôi không ăn đâu”, bà la lên.
“Không ăn nhiều cũng ăn ít”, ông nghiêm khắc. “Đây là chất đạm. Ở rừng không ráng ăn thì chết”.
Bà Tư sực nhớ ra:
“Năm nào má con tôi cũng bị đói một trận”.
“Năm nào?”, ông hoảng hốt. “Ở dưới quê cũng bị đói hả?”.
“Ở dưới đó không có giặc hay sao?”, bà nói. “Ruộng vườn có đó, nhưng bom đạn quanh năm làm sao làm? Rồi hạn hán lúa chết, cá tôm dưới sông cũng chết, mấy đứa nhỏ ngã bịnh, tôi không đi làm được. Tôi chôn có ít vàng sau vườn, nhưng đào lên không thấy đâu, không biết tôi nhớ lộn hay ai lấy mất”.
“Rồi làm sao?”.
“Đâu nhớ làm sao, chuyện lâu quá rồi. Nhưng phải chi lúc đó ông ghé qua với tôi một chút”.
“Tôi ghé làm sao? Lúc đó tụi Tây đang mở cuộc càn lớn, xe tăng đầy đồng, tụi này chỉ còn cách nằm ép mình trong cụm rừng tràm không dám nấu cơm, nhai gạo rang uống nước phèn chịu trận”.
“Rồi ông làm sao?”.
“Cũng đâu biết làm sao, chuyện lâu quá rồi”.
Có tiếng động, Vinh hiện ra mặt mày bơ phờ, nói đoàn người đã dừng lại nghỉ, anh trở lại rước hai ông bà.
***
Con suối lớn nước chảy ầm ào tung bọt trắng xóa, chảy tràn qua những tảng đá nằm lổn ngổn dọc theo lòng suối, nhiều tảng lớn láng bóng phủ rêu đen trủi như lưng trâu. Cụm rừng có nhiều cây cao già cỗi gốc xù xì, mãnh rừng còn sót lại của một dảy rừng già nào đó. Không thấy có dấu chân người, dấu bom pháo, như chiến tranh chưa hề qua đây. Mặt rừng thật sạch, trải cát vàng mịn màng. Một hàng những cây thân mềm mọc theo bờ suối trỗ lá xanh mơn mởn. Thu Hà vừa đặt ba lô xuống chạy tới bứt một nắm nhai thử, nhăn mặt phun lèo phèo, nói chua lòm, chỉ có thể nấu canh. Rải rác có những cây bằng lăng thân lớn cở người ôm,da dẻ óng ả, lốm đốm những họa tiết xanh xám dịu mắt. Tiếp nối là vạt rừng mọc toàn cây lồ ô thân thẳng thớm, vàng ánh, nắng đổ những chiếc bóng xiêng đan chéo nhiều màu sắc đậm lợt như tranh vẽ.
Mọi người sửa soạn chỗ giăng võng, làm bếp, kiếm củi, bàn cách “khai thác” con suối. Vinh mặc ông Ba Quang lo nấu nướng, ra bờ suối ngồi hút thuốc nhìn nước chảy. Anh thấy mệt mỏi, đầu óc nặng trịch. Họ đã đi được ba ngày, kể từ lúc gặp bãi đóng quân của tụi Mỹ. Bà Tư Nghệ quen dần với việc đi bộ, không thấy kêu rên nữa, công lao của ông Tư nhẫn nại khuyên bảo. Thu Hà với đôi chân của người diễn viên múa, đi bộ một cách dẻo dai bền bĩ khác thường. Tổ điện đài vẫn đi miệt mài, người thương binh như một nỗi ân hận đè nặng lên lương tâm họ. Ông Ba Quang ho khúc khắc luôn, người xanh lả, bịnh mãn tính có từ trước. Ông Chín Nếp đi bằng chân và cả bằng miệng, lạc quan vui vẻ, con đường dài ra các câu chuyện của ông cũng lan man không dứt. Họ không gặp ai trên đường, bom pháo cũng không. Nhưng tiếng bom pháo ầm ì vẫn đều khắp, như đang trong vòng vây của một trận chiến sắp nổ ra.
Khu rừng thật yên tĩnh, không khí trong và nhẹ, chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng vỡ tan ra.
“Ôi con suối đẹp quá, mình bắt cá đi anh!”, Thu Hà đứng sau lưng Vinh, kiểng chân trên một cục đá, dáng người càng thêm thon cao.
“Em biết bắt cá không?”, Vinh nói. “Bắt cá dưới suối nước chảy, bằng tay không…Ủa, em đeo bông hồi nào vậy?”.
Thu Hà ngồi xuống cầm lấy hai trái tai, mỉm cười ngượng nghịu:
“Bác Tư gái cho em. Đồ giả anh à, nhưng cũng đẹp quá hả? Bác soạn đồ đạc thấy có đôi bông tai, chắc của hai cô sinh đôi bỏ quên. Em có xỏ lổ tai nhưng chưa đeo bông hồi nào, tập múa không được đeo bông, không được để gì chiếu sáng ngoài bản thân mình. Ôi em buồn quá! Sao mấy bữa rày anh quạu vậy, chỉ huy mệt phải không? Ông bác sĩ quạu hết cở, chỉ có chú Chín Nếp là vui. Đi đường cực khổ ai cũng khó đăm đăm em không chịu được. Em muốn mọi người đều vui vẻ thương yêu nhau. Em kể anh nghe chuyện này. Một đêm sau buổi diễn em ra về, có một toán bộ đội chờ em bên ngoài. Các anh muốn tặng quà cho em, nói em đẹp quá múa hay quá. Các anh đứng sắp thành hàng, cầm trên tay những món quà chẳng dáng giá gì: chiếc đèn dầu bằng chai an-côn, bộ dây dù, chiếc xỏ quai dép… Một anh còn trẻ tặng em tấm vải dù pháo sáng trắng tinh, nói hành quân gấp không biết còn gặp lại em không. Gặp em làm chi? Năm sau đoàn em lại đến diễn ở đơn vị đó, em gặp lại toán bộ đội, nhưng anh chiến sĩ trẻ không còn nữa…”.
“Thôi mình bắt cá đi”.
“Anh đợi em một chút”.
Thu Hà ôm túi đồ chạy đi, chút sau trở lại với chiếc túi vải may khéo viềng đăng ten thêu kim tuyến lấp lánh, bày ra trên phiến đá các món quà tặng, đồ trang điểm, khăn tay, khăm trùm đầu, kẹp tóc, dây chuyền, đủ thứ vật dụng nhỏ xíu lúc lắc lủng lẳng, không hiểu thứ gì để làm gì. Cô gái thích sưu tầm những đồ vật xinh xẻo, rảnh rỗi bày ra ngắm nghía.
Hai người theo triền dốc đi xuống suối. Con suối có những chỗ rộng phình ra, nước chảy chậm, những vụng ăn sâu vào trong bờ, nước gần như tĩnh lặng, trong vắt có thể nhìn thấy đáy. Cá nhiều vô số kể, vải ánh bạc lội thành từng đàn tung tăng ngược xuôi. Thù Hà vén cao ống quần, đi sát mép nước rình bắt những con cá lội men bờ. Vinh lội giữa dòng quẩy đạp đùng đùng, lặn mò vào tận các hang hốc, bắt cá xỏ xâu vào nhánh cây ngậm ở miệng. Thu Hà không bắt được con cá nào, lên rừng lục sục làm gì trong bụi rậm. Vinh lên bờ ngồi nghỉ, lượm đá cục ném nhưng con cá nằm sát bờ. Hồi nhỏ ở quê ngoài tài bắn giàn thun, Vinh còn có tài chọi đá, chim đậu tuốt trên ngọn cao năm bảy thước anh chọi “bá phát bá trung”. Anh đang say mê mải trò chơi mới, chợt nghe tiếng kêu:
“Anh Vinh coi em nè!”.
Thu Hà đứng thẳng người trên một phiến đá giữa suối, bận bộ đồ áo liền quần đen tuyền lấp lánh, giống đồ tắm Vinh thấy trong các tờ tạp chí. Cô gái nhoẻn miệng cười ngượng nghịu, làm mấy động tác múa rồi chạy ào xuống lội ra giữa lòng suối, ngồi lên một phiến đá, đưa tay ngoắc Vinh:
“Đây là đồ múa của em! Em nhớ nó quá, lâu rồi không có dịp nào bận. Thôi đừng bắt cá nữa anh, mình nói chuyện chơi đi”.
Phiến đá lớn, nhẳn thín dưới dòng nước chảy. Thu Hà ngồi thòng chân khỏa nước, những giọt nước lấp lánh đọng trên đùi, trên hai cánh tay trắng ngần. Một làn bụi nước phủ mờ chung quanh.
“Em buồn lắm”, Thu Hà nói tiếp, gần như thì thầm. “Phải chi được yên được như vầy hoài… Tại sao đám cá cứ lội ngược dòng hả anh?”.
“Chúng đi tìm chỗ đẻ”.
“Cá nhỏ xíu cũng đẻ hả?”.
“Con gì không sanh đẻ. Nghe nói ở Trường Sơn có cá đẻ trên ngọn cây cao”.
“Làm sao nó lên được trên đó?”.
“Không biết. Chắc do đám chim bắt cá tha về làm mồi cho chim con. Hoặc do trứng cá theo bụi bay đi. Mùa mưa nước ngập đầy trong bọng cây, trên mấy ổ rồng, nhiều người leo cây thấy cá lội lăn tăn trong đó”.
“Thương mấy con chim quá! Cũng thương mấy con cá nữa! Hôm rồi anh về quê cưới vợ hả?”.
“Vợ con gì đâu”.
“Anh đang đi bộ đội, cưới vợ làm sao? Mà con trai như anh đã lớn gì đâu?”.
Thu Hà như quên mất trận càn, không nhớ mình đang ở đâu. Cô thòng chân khỏa nước, như muốn ngồi lại mãi. Vinh cũng không gấp gì. Họ còn cả ngày ở đây, không có việc gì làm. Thật thoải mái ngồi nói chuyện tầm phào giữa khung cảnh yên tĩnh, không phải lo nghĩ gì. Thu Hà bắt qua kể chuyện tuổi ấu thơ của cô, về các buổi diễn tập trong đoàn văn công. Vinh cũng đang lơ mơ nhớ về chuyện ngày xưa của mình, chưa biết đích xác chuyện gì. Chợt nghe tiếng ong ong như tiếng ong bay. Máy bay! Vinh kêu lên lôi Thu Hà chạy ào qua con suối, vừa lên tới bờ hai chiếc khu trục loại Xka-rai-đơ xuất hiện trên đầu, đảo vòng hẹp chuẩn bị lao xuống. Vậy là máy bay trinh sát đã ném trái khói màu chỉ điểm, hai người mải nói chuyện không nghe thấy. Dọc theo suối có nhiều đá tảng chồng chất tạo thành nhiều hang hốc rất vững chắc. Vinh xô Thu Hà vào trong một hốc lớn, ngồi chắn bên ngoài. Chiếc máy bay đầu tiên cắm xuống trút bom, nhìn thấy rõ hai trái bom sà xuống tỏa bóng đen xì, hai tiếng nổ vang trời, đất đá văng rào rào. Một đợt bom nữa rồi một đợt bom nữa, tiếng nổ nghe gần lắm, nhưng thật khó xác định chỗ nào. Thu Hà ngồi im thin thít, Vinh thò tay vào đụng hai ông chân run bắn của cô. Bỗng tất cả im bặt, nghe rõ tiếng nước chảy, mùi khói bom, lá cây bị cháy xém. Một con chim bỗng cất tiếng hót lảnh lót.
Vinh lôi Thu Hà ra khỏi hốc đá. Cô vẫn còn run, mặt tái mét, nói không ra hơi:
“Bom nổ gần không anh? Ôi sao mình trúng bom hoài vầy nè? Mình chết hết thôi!”.
“Làm sao mà chết?”, Vinh gắt. “Thôi đi về đi!”.
Linh cảm có chuyện không may, bom nổ gần quá, nhiều quá! Vinh lôi Thu Hà chạy đi băng qua đám cây cối ngã đổ, mặt đất vẫn còn rung giật từng cơn, một thân cây bỗng đổ ào xuống. Thu Hà chạy bám theo Vinh, sa vào đám cành lá, bươi quào thở hổn hển. Gần nửa tiếng đồng hồ họ về tới chỗ đóng quân, quang cảnh hiện ra lòng họ tan nát.
Bom trúng ngay chỗ đóng quân, cây cối ngã đổ, mọi người mình mẩy lấm lem, như từ dưới đất chun lên. Thật trớ trêu, như trò đùa, Thu Hà đang bận bộ đồ múa diêm dúa. Vinh bận quần cụt, gói quần áo treo tòn teng ở cổ.
Vinh đứng lặng thinh, tránh cái nhìn của ông Ba Quang. Thu Hà nép sau một bụi cây. Im lặng một lúc lâu rồi ông Chin Nếp kéo anh ra một góc kể mọi chuyện. Tai họa lại nhầm vào tổ điện đài, và nhầm ngay anh thương binh. Anh bị trúng bom đợt đầu tiên, một miểng nhỏ xuyên qua tim, chết ngay khi còn nằm trên võng. Giờ anh vẫn còn nằm đó, như đang ngủ. Thay vào đó một anh điện đài khác bị thương.
Tốp máy bay hình như chỉ ném bom vu vơ, nhằm bờ suối nơi bộ đội thường đóng quân. Họ vừa mới tới nơi đâu có dấu hiệu gì.
Thu Hà bật khóc.
Ông Ba Quang băng bó chích thuốc cho người bị thương, đứng dậy lau tay nói:
“Vết thương nhẹ thôi nhưng cũng phải khiêng. Cô kia nín đi không? Cô khóc ai vậy?”.
“Ta chôn cất anh ấy đi”, ông Chín Nếp nói. “Chặt cây đẻo làm giá, chôn dưới lổ bom để huyệt thêm sâu. Ai cắt đùm tôi ít cỏ. Ở quê tôi tẩn liệm người chết bằng rơm bó, đây ta thay bằng cỏ, cho anh ấy được êm ấm. Ai đào huyệt với tôi?”.
Một vệt nắng dọi sáng lên gương mặt người tử sĩ. Anh trạc ba mươi, người tầm thước, bận quân phục màu xám nhuộm pin đèn, nước da trắng chuyển sang tái xanh. Thuở nhỏ ở quê trước khi đi bộ đội anh có thú nuôi gà đá, nuôi chơi thôi, không đá độ với ai. Anh khâm phục dáng đi kiêu hãnh của giống gà đá, say mê để hết tâm trí vàoviệc nuôi gà, chọn giống, tìm hiểu tính nết gà mẹ gà cha, tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn uống, dự không sót trận đá gà nào, thường là của những người mượn gà của anh. Hôm đi tòng quân anh đem theo con gà đá đẹp nhứt, bồng nó trên tay đi suốt từ đồng bằng lên tới rừng, tiếp tục nuôi ở trại luyện quân một thời gian. Sau về đơn vị không còn thì giờ nữa, tự bản thân anh cũng thấy không thích hợp, anh gởi nó ra một xóm dân, có dịp rảnh rỗi đi công tác lẻ anh ghé thăm, chỉ dẫn người nuôi cách chăm sóc chế độ ăn uống, tỉa lông vuốt cựa. Sau này chuyển qua công tác điện đài, có dịp ở tĩnh tại, anh lại nuôi gà, lén lút làm chuồng ở ngoài rừng, ngày vài lần ra thăm cho ăn uống, nói chuyện rì rầm, nhận xét đánh giá với những thuật ngữ chỉ có anh mới hiểu được.
Bây giờ anh nằm đó, một miểng bom nhỏ chấm dứt tất cả, cuộc đời chiến đấu cùng thú nuôi gà, trò chơi vô vị và cũng vô hại.
Ông Chín Nếp hô:
“Ta đào huyệt đi, anh em!”.
Họ chặt những khúc cây xăng đá, thân cứng cở sải tay, vạt bẹt một đầu làm giá, đào một lúc xơ đầu thay cây khác, đào hối hả, đất toàn sỏi đá, thay nhau múc nước đổ vào, lổ huyệt thật sâu họ vẫn đào. Tiếng ông Chín Nếp rì rầm kể lể:
“Trong đời tôi chôn người chết không biết bao nhiêu lần, chôn người hàng xóm tới chôn đám con tôi. Chúng chết vì bịnh, vì đói, vì bom rơi đạn lạc. Hoặc không vì gì cả, cứ lăn đùng ra chết. Con người ta chết dễ lắm. Tôi có mười một đứa con chưa nuôi lớn khôn đã chết một nửa. Cho tới đợt dịch trái giống năm Mão chết luôn hết không còn đứa nào. Giặc giả chưa đủ, trời còn đem bịnh tới. Bịnh của trời lại hại người. Bó chiếu chôn đứa này xong, đứa kia ngã ra, mùa nước ngập linh láng, trời lạnh như cắt da phải dìm con xuống nước mà chôn. Có phải do tội lỗi của vợ chồng tôi không? Hay là không phải?”.
Người tử sĩ nằm nhắm mắt như ngủ, quần áo vẫn còn thẳng thớm, tóc vuốt thẳng ra sau. Bà Tư Nghệ thấm khăn ướt lau mặt mày tay chân anh, nói lầm rầm như ca như hát. Ong Chín Nếp kể sang chuyện nạn dịch châu chấu, không biết ở đâu. Huyệt đào xong, các góc cạnh thẳng thớm, những nắm cỏ chuyền xuống xếp dày dưới đáy, mọi người cùng ráp lại tháo võng từ từ đưa anh tử sĩ xuống. Ông Chín Nếp cất cao giọng: “Nhẹ tay, nhẹ tay… Người chết là hết, người sống còn gian khổ trăm bề… Anh sống khôn thác thiêng, phù hộ anh em…”. Người tử sĩ nằm ngay ngắn, hai tay chắp trước ngực, nhắm mắt như ngủ. Xong xuôi hết rồi, lấp đất lại thôi. Mọi người cào đất xuống, từng chút một, thật nhẹ nhàng. Những thỏi đất mới tinh được trái bom quăng lên, còn đỏ au, dần dần tuôn xuống lấp đầy lổ huyệt.
“Có cần đắp thành gò mả, ghi tên họ gì không?”, một người hỏi.
“Thôi khỏi cần”, một người khác đáp. “Anh ấy trở về với rừng, với đất thôi”.
Huyệt được lắp bằng, phủ lá khô lên trên, không để lại dấu vết gì.
Họ quyết định đi ngay, dù đang giữa trưa. Cần phải thoát mau khỏi cụm rừng đầy ám ảnh buồn thảm. Họ đi lầm lủi, được một đoạn sa vào một khu rừng cháy đầy những tro than, mặt đất nóng như đổ lửa. Một trái bom cay còn rỉ hơi cay khiến họ ràn rụa nước mắt, đi gần như chạy. Xế chiều trời mát dần, khu rừng thưa mọc toàn sim nở bông tím ngát, trời không gợn một chút mây, mặt rừng phẳng họ đi thảnh thơi, tìm khu rừng rậm để nghỉ. Đó là một vạt rừng buông, lá lớn che kín cả một vùng đất dưới tắng là quanh ănm không gặp ánh nắng mặt trời, mặt đất sủng nước nhớp nhúa, nhung nhúc vắt. Trời tối rất mau.
Nấu nướng ăn uống xong Vinh lên võng nằm ngay, tuy biết rất khó ngủ. Lát sau nghe tiếng gọi:
“Anh Vinh chưa ngủ hả?”, tiếng ông Ba Quang.
“Tôi ngủ rồi”, Vinh đáp.
“Cho tôi mượn hộp quẹt”.
“Hộp quẹt ông đâu?”.
“Không cháy, chắc bị ướt”.
Vinh trở dậy lấy hộp quẹt đưa cho ông Ba Quang. Ông ta bật quẹt đốt thuốc, đưa trả, rít thuốc, rồi lót dép ngồi xuống dưới võng Vinh. Bên kia Thu Hà lặng yên, Vinh biết cô cũng chưa ngủ. Bom B52 nổ từng tràng dài xa xa. Vinh trở dậy hút thuốc, quay lưng lại với ông Ba Quang. Khói thuốc đọng một vùng trắng trên đầu hai người.
“Vậy là ta mất thêm một người nữa”, ông Ba Quang bắt đầu. Vinh không nhìn thấy mặt ông ta trong bóng tối.
“Tôi đâu biết gì”, Vinh nói. Anh không biết ông Ba Quang định hướng câu chuyện về đâu.
“Phải, đâu ai biết gì”, ông Ba Quang nói tiếp, giọng âm thầm. “Nhưng thằng Mỹ thì biết, như nó theo sát mình từng bước vậy. Mấy giờ rồi?”.
“Khuya lắm rồi, ông đi ngủ đi”.
“Nói chuyện chút đã, cho xong đi. Chuyện gì cũng phải xong trong ngày”.
“Chuyện gì?”.
“Chuyện trận bom hồi sáng”.
Vinh thấy giận ứ lên ở cổ:
“Ông làm như tôi kêu máy bay tới vậy”.
“Đâu phải lỗi tại ai. Nhưng anh em mình chết. Giá lúc đó anh có mặt tại chỗ, anh là người chỉ huy. Anh đi bắt cá hả?”.
Có tiếng Thu Hà trở mình nhè nhẹ. Bỗng nhiên Vinh có ý nghĩ muốn bỏ tất cả, chỉ cần mấy bước biến mất vào rừng, không còn ai biết anh là ai, muốn đi đâu làm gì cũng được, chẳng còn dính líu gì tới đoàn người này chuyến vượt rừng này.
Nhưng Vinh vẫn ngồi yên. Ông Ba Quang nói tiếp:
“Đáng lẻ anh phải có mặt tại chỗ”, ông lặp lại. “Anh là người chỉ huy, phải có trách nhiệm, trong lúc khó khăn, có người chết người bị thương”.
“Tôi đâu muốn làm người chỉ huy?”.
“Nhưng anh đã nhận lời, đúng không? Người chỉ huy nào cũng có lời thề trên nhiệm vụ của mình”.
“Nếu bây giờ tôi không nhận nữa thì sao?”.
“Đâu có sao. Anh không đi với tụi này nữa cũng được. Nhưng dù sao cũng đi với nhau một đoạn đường, đã có người chết người bị thương. Anh muốn đi riêng hả?”.
“Tôi nói vậy thôi”.
“Đó thấy không, anh cũng không tính được. Chẳng làm được chuyện gì khi bụng mình không yên. Tại sao từ bịnh viện về đơn vị, anh lại tính rẻ về nhà?”.
“Ông không biết chuyện quan trọng như thế nào đâu”.
“Kể thử coi”.
“Bọn lính đánh ba tôi bằng cây mía, vừa đánh vừa xước ăn. Ba tôi ói ra từng bụm máu, nằm liệt giường ỉa đái một chỗ. Tôi đi du kích về thăm, ba tôi nói: Con có súng bắn ba một phát đi. Ba đau quá không chịu nổi”.
“Nhà không còn anh em gì sao?”.
“Hai anh tôi đi du kích bị bắn chết mấy năm trước, chúng cột xác sau xe giép chạy về chợ tỉnh, xác chỉ còn mấy khúc xương lủng lẳng”.
Thu Hà lại trở mình nhè nhẹ. Ông Ba Quang không hỏi gì nữa, nhưng Vinh có nhu cầu muốn kể tiếp:
“Hai anh tôi chết rồi, nhà chỉ còn mình tôi. Tôi mặc sức rong chơi, chạy theo mấy anh du kích xin bắn mấy phát súng, nổ khí đá chọc bọn lính trong đồn. Bọn lính tức giận sáng hôm sau vào làng đem ba tôi ra tra hỏi, hầm bí mật đâu, du kích đâu. Ba tôi là dân thường không biết gì, chúng lại đánh, như cố tình tìm người không biết để tra hỏi vậy. Ba tôi không còn máu để ói nữa. Nhưng con người ta sống khổ, chết cũng không dễ. Ba tôi vẫn sống lay lắt, chuyện nhà một tay má tôi lo. Không còn gì ăn má tôi lục lọi sau vườn, đào xới mấy vồng khoai lượm những củ lớn bằng ngón tay, sục bùn ngoài bưng vớt những con tép mòng lẫn rác rến, quanh năm ăn rau là chính, không biết gì tới thịt cá. Người trong xóm cũng đều như vậy, không nương tựa được vào ai. Làng tôi là một làng nghèo bẩm sinh, đất đai cằn cổi dân cư thưa thớt, nước sông khi mặn chát khi chua lòm. Lại sanh giặc giả liên miên, từ thuở nào đã có giặc rồi, bom đạn không lúc nào ngớt, đám lính đồn không cần đi thu thuế ruộng, bắn vài phát pháo báo hiệu, dân làng gom tiền đi nộp cho chúng. Một lần tôi được sai mang tiền đi nộp cho đám linh đồn. Lần đầu tiên tôi thấy đồn lính, ngạc nhiên thấy các gian trại xập xệ thấp lè tè, đám vợ con lính nheo nhóc. Một tên lính ngồi xổm trên thềm nhà cầm cục cơm nhai nhồm nhoàm. Chính tên lính đó sau này càn vào nhà tôi, đốn mía xước ăn đánh ba tôi, ông chết giấc chúng bỏ đi bắt gà nấu cháo ăn. Ba tôi chết đi rồi tỉnh dậy. Cảnh nhà sa sút đến nỗi một lần ghé nhà tôi thấy má tôi vớt rong dưới sông lên nấu ăn. Tôi không thể ăn rong, bỏ đi, bao nhiêu năm đi lang thang không biết gì đến nhà cửa. Tôi đi du kích rồi đi bộ đội, lên rừng xa nhà bỗng nhớ lại tất cả những chuyện đó. Tôi muốn về nhà gặp ba tôi, như nhiều dân làng bình thường khác, chính là những người như ba tôi chịu đựng nhiều nhứt, mọi đau khổ của cuộc chiến tranh dồn lên họ…”.
Thu Hà lại cựa mình khiếnVinh ngưng câu chuyện giữa chừng. Sao trời nhạt dần. Ông Ba Quang đứng dậy vươn vai nói, giọng đã dịu đi:
“Trời sắp sáng rồi, ngủ chút đi”.
“Còn ngủ gì nữa”, Vinh coi đồng hồ nói. “Tta đi thôi”.
***
Một đêm giữa khuya đang ngủ say, Vinh chợt nghe tiếng gọi:
“Dậy đi! Gặp được người rồi!”.
Vinh choàng dậy khoác mùng bước xuống, nhìn thấy khuôn mặt bóng nhẩy ông Chín Nếp kề sát bên. Anh run lên vì lạnh, cũng vì vui mừng:
“Đâu? Ai đâu?”.
“Nghe đi”, ông Chín Nếp đè đầu Vinh áp nằm xuống đất. “Nghe thấy không? Bước chân rầm rập, mạnh mẽ lắm. Bộ đội phải không? Nghe bước chân như cở tiểu đoàn, tôi sanh giờ Thổ nên cái gì vọng dưới đất tôi đều biết. Nhưng anh là bộ đội chắc biết hơn tôi”.
“Thôi đi”, Vinh cười nói. “Giờ Thổ cái gì, anh thấy họ rồi, đúng không?”.
“Đúng”, ông Chín Nếp cười ngượng nghịu. “Tôi ngủ không được thức dậy thấy họ đi qua, đông lắm, có người mang khẩu súng có bàn đế như vầy nè…”.
“Đại liên Cô-li-nốp đó. Ông đi với tôi”.
Vinh bảo mọi người ở tại chỗ, anh và ông Chín Nếp đi ra coi sao. Bộ đội hành quân không thể chặn lại hỏi han nhơ vả. Chỉ có thể sáng mai đi theo, họ đông người mang vác nặng không thể đi mau, tìm gặp họ ở chỗ nghỉ xin ít gạo đồ ăn, vài tái lựu đạn thủ pháo phòng vệ, hỏi thăm đường đi nước bước. Hai người mang theo hết đồ đạc, rủi ro bất cứ lúc nào, phải lo phòng thân. Đi một đổi nghe tiếng chân đuổi theo sau. Thu Hà hiện ra nói:
“Cho em theo với. Em muốn gặp bộ đội”.
“Ừ đi cho vui”, ông Chín Nếp mau mắn nói. “Đi kế anh Vinh đây nè”.
Trời sáng rất mau. Cây rừng rạng dần. Thấy rõ các thân cây, gò mối, con đường mòn in dấu dép râu. Họ đi mau hơn, theo dấu chân trên đường. Trời đã sáng rõ, nắng lên. Hơn tiếng đồng hồ trôi qua. Bỗng nghe tiếng quát khẻ:
“Ai đó? Đứng lại!”.
Vinh đưa mắt nhìn quanh, ngạc nhiên thấy có đất đào lên còn mới tinh. Đơn vị bộ đội ahửn mới tới, vậy mà đã đào xong đường hào. Một người từ sau một thân cây bước ra, hạ nòng súng trên tay, tươi cười:
“Anh em mình hả? Đi đâu? Có thuốc hút không?”.
Anh chiến sĩ cao lớn, mặt rổ hoa răm, da ngăm đen, bận quần áo vải ka ki nhàu nát, chiếc nón tai bèo cũng bèo nhèo. Anh xưng tên Lâm, gọi Lâm Rỗ, đang gác ngoài này. Anh vừa nói chuyện vừa nhìn Thu Hà:
“Hôm hành quân đem theo cục thuốc bằng đầu gối, vậy mà thằng này thằng kia xin hết. thèm thuốc không chịu nỗi”.
“Có thuốc đây”, ông Chín Nếp nói. Ông không hút thuốc, không hiểu sao có thuốc trong ba lô. “Nhưng tụi này thiếu gạo, súng đạn cũng thiếu”.
“Muốn đổi chớ gì?”, anh bộ đội cười nói, liếc nhìn Thu Hà. “Đi lạc đường hả?”.
“Tụi này đang trên đường dây giao liên, toàn ông già bà già, đàn bà con gái, bị trúng trận càn...”.
“Tụi này đang hành quân chiến đấu, gạo có thể cho một ít, súng đạn không được đâu”.
Anh bộ đội đón gói thuốc từ tay ông Chín Nếp, nhìn Vinh nói:
“Bồ là bộ đội hả? Đơn vị nào? Sao đi lang thang như vầy?”.
Vinh nói phiên hiệu đơn vị. Lâm Rỗ liếc nhìn Thu Hà, quay đi nói:
“Tôi có thằng em bên đó. Hai đứa đi bộ đội một lượt, lên rừng chia hai nơi. Nó viết thư nói bên đó cũng đánh dữ lắm, phải không?”.
“Ở đâu không đánh?”, Vinh nói.
“Nhưng đánh ít đi nhiều. Hành quân liên miên, đi ngày đi đêm, đồ đạc chất đống trên lưng như con trâu thồ, đi tới năm mươi cây số rồi đi thối lui năm mươi cây số. Là để đánh lạc hướng, cha đời không. Vậy rồi mới qua lộ Bảy điện đài chúng đã la: “Thằng Trung Hai đã qua lộ Bảy rồi”. Cứ như chúng cùng hành quân với mình vậy”.
Lâm Rỗ nói thao thao, như cốt để không nhìn Thu Hà. Nhưng rồi vẫn cứ nhìn, ngượng nghịu với chính mình, không nói nữa, điếu thuốc vẫn còn nguyên trên tay.
“Anh ăn gì chưa?”, Vinh nói. “Tụi này có gạo rang, mình cùng ăn cho vui”.
“Ăn đi, tụi này ăn rồi. Gạo rang mà vui cái gì”, Lâm Rỗ nói, lại nhìn. Thu Hà đã hút hết tâm trí anh. “Hồi hôm đang đi, chợt có lịnh truyền xuống: nghỉ tiếng đồng hồ cơm vắt cơm giở. Giữa đương mưa ầm ầm, nấu cơm làm sao? Lịnh lọt cứ như cha người ta vậy. Trời mưa như trút nước, rừng cao su tối đen, nước chảy tràn bùn ngập tới mắt cá chân, vắt bò nhung nhúc, cứ nhằm chỗ hiểm chun vô cắn. Nhưng rồi cứ phải nấu cơm, lịnh xuống rồi. Củi mục ướt nhèm. Cầm vắt như vắt khăn lông, quai dép cắt ra đốt riết rồi cũng cháy. Trời vẫn mưa. Bốn thằng như bốn ông thần rừng cầm bốn góc tấm ni-lông che mưa. Một thằng chổng mông thổi lửa, còn lại chạy táo tác đi tìm củi. Sau hơn tiếng đồng hồ cơm chín mỗi thằng hai vắt cơm đầy đủ, nước sôi châm vào bi-đông, lính mình thật giỏi giang vào bậc nhứt thế giới”.
Anh ngưng bặt, như quên mất mình đang nói gì. Rồi nhìn Thu Hà, trở lại vẻ lầm lỳ cau có:
“Mấy bạn cần gì? Muốn gặp tiểu đoàn trưởng không? Đợi chút có người thay gác tôi dẫn vô”.
Chút sau có người từ trong ra thay gác, Lâm Rỗ dẫn ba người vào.
Đó là một cứ cũ Vinh đã quá quen thuộc, các đơn vị bộ đội thường có sẳn những trạm như vậy ghé nghỉ chân. Khu rừng bị chất độc hóa học cây trụi lá gần hết, chiến sĩ đào hầm, chất cành nhánh bên trên nghi trang. Từng tốp chiến sĩ chạy từ hầm này sang hầm khác, tụ lại nấu cơm, vá ruột tượng gạo, cười nói chọc phá nhau. Mọi ngưng bặt nhìn Thu Hà đi ngang, cười nổi lên phía sau:
“Như đám rước dâu vậy. Coi ông già “anh suôi” kìa, vui quá không?”.
“Cô đâu đẹp lắm!”.
Họ được đưa đến một chiếc hầm núp lớn có thể chứa vài chục người, cây đà nắp hầm ba bốn gang tay. Có tiếng quát tháo từ dưới hầm vọng lên. Lâm Rỗ chun xuống một chút trở lên, nhướng mắt chỉ xuống bên dưới, rồi bỏ đi. Vinh lần đi xuống hầm. Một chiếc bàn dài bằng vạt tre, băng ngồi hai bên, đầu bàn đặt máy điện thoại, cuộn dây “sừng bò” bên dưới. Người đàn ông tuổi trung niên, thấp lùn, mặt vuông cạnh, tay chân ngắn gân guốc, đang nói chuyện trên điện thoại. Tiếng quát tháo vọng lên là từ đó. Có thể đoán đó là tiểu đoàn trưởng. Đầu đằng kia một người đàn ông trạc tuổi, gầy yếu xanh xao, ngồi chồm hổm, quần xăn tới gối, tay gải sồn sột vào ống chân, mặt mày trầm tư buồn bã.
Tiểu đoàn trưởng dập máy, quay số gọi tiếp:
“Cho tôi nói chuyện với trung đoàn tưởng… Sao không được? Bận hả? Vậy tụi này rảnh hay sao? Cắm máy đi thằng nô bộc, không tao bẻ cổ bây giờ. Tại sao trên cứ lịnh xuống, dưới không được nói lên? Nói tôi là tiểu đoàn trưởng, có chuyện muốn nói… Tên tôi hả? Không biết tên thì đừng có lịnh… Dạ báo cáo anh, tôi đây! Thằng khốn khổ này đây! Anh bảo cứ theo hợp đồng tiếng súng mà đánh hả? Rõ! Không biết chúng đổ bao nhiêu quân, vào lúc nào, tụi này chỉ cứ việc chạy ra tiếp cận trận địa hả? Rõ! Phải súng ống đầy đủ? Được. Nhưng đạn đâu? Chúng tôi vừa mới đụng trận, đạn chỉ còn một ít. Anh bảo phải tự kiếm, chúng tôi kiếm ở đâu? Đạn mọc trên cây hả?”.
Tiểu đoàn trưởng dằn mạnh ống nghe xuống bàn, quay nhìn người ngồi đầu bàn:
“Anh nghe hết rồi chớ gì, đồng chí chính trị viên? Đồng chí chỉ đạo tôi làm sao đây?”.
“Được thôi được thôi”, chính trị viên cười ề à, giọng hiền lành. “Chuyện khó gì rồi cũng tính được thôi”.
“Ai cũng tính giỏi cả”, tiểu đoàn tưởng vẫn la lối. “Chỉ có thằng này làm thôi”.
Bỗng tiểu đoàn trưởng nhìn thấy Vinh:
“Chuyện gì nữa đây?”.
“Dạ, chúng tôi cần giúp đỡ”, Vinh nói.
“Chuyện gì?”.
“Chúng tôi đi lạc đường, cần ít súng đạn, gạo muối”.
“Súng đạn hả?”, tiểu đoàn trưởng gầm lên. “Nảy giờ anh không nghe gì hết hả?”
“Dạ, tôi có nghe”.
“Vậy sao xin súng đạn?”.
“Dạ, không được thì thôi. Chúng tôi cũng xin ít gạo muối, chúng tôi có ông bà già, đàn bà con gái…”.
“Thấy rồi”, tiểu đoàn trưởng nhìn Thu Hà nói. “Nhưng sao lại đi lạc, không có bản đồ hả?”.
Anh cho biết họ đang ở vùng Đông Bác, đi tiếp nữa có thể gặp các cơ quan dân chính, ngược lại chỉ gặp bộ đội, trận địa đang nổ súng.
“Ở rừng đi lạc là sự thường”, chính trị viên can. “Anh em gặp hoàn cảnh khó khăn, mình không giúp nhiều cũng phải giúp ít”.
“Còn ai giúp tôi?”, tiểu đoàn trưởng vẫn gay gắt. Rồi bước tới đứng trước mặt Vinh. “Nhưng anh là ai, sao đi lang thang trong rừng? Hay đào ngũ?”.
“Thôi mà”, chính trị viên lại can. “Ở rừng với nhau, có chuyện gì ta cứ bàn”.
“Được, ta cứ bàn”, tiểu đoàn trưởng nói, vẫn nhìn Vinh. “Nhưng anh muốn gì? Cử một đại đội đưa anh, cô kiều nữ và ông thái thượng hoàng này đi. Rồi mặt trận này ai lo? Sẽ có ít nhứt một tiểu đoàn Mỹ đổ quân xuống đây, tại chiếc trảng ngoài kia kìa, không biết ngày nào. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải tiêu diệt chúng. Ngày nào cũng phải bám ra đó, bất kể B52, bom bi, pháo bầy. Để chúng đi vuột chúng tôi sẽ bị kỷ luật, cạo đầu đi tù. Vậy thì sao? Chúng tôi rảnh đưa anh đi dạo mát hả?”.
“Thôi mà, dạo mát cái gì?”, chính trị viên nói. “Gạo muối mình thiếu gì, súng đạn cũng có thể cho một ít”.
“Súng thì được, đạn không được. Một viên cũng không”, tiểu đoàn trưởng nói. “Chúng tôi có dư súng là do có người chết, anh hiểu không? Hay là không hiểu?”.
“Tôi hiểu”, Vinh nói. “Tôi cũng là bộ đội. Chúng tôi chỉ cần giúp đỡ”.
“Thôi được rồi”, chính trị viên nói. “Anh đi lấy khẩu súng đi. Hai khẩu được không?”.
“Một thôi”, tiểu đoàn trưởng nói.
“Không có đạn tôi lấy súng làm gì?”, Vinh nói.
“Không biết, đó là chuyện của anh”, tiểu đoàn trưởng nói. “Tôi không lo hết mọi chuyện trên đời được”.
Tiểu đoàn trưởng lạch bạch đi lên khỏi hầm. Chính trị viên bước tới vỗ vai Vinh:
“Được thôi mà, rồi sẽ có đạn. Anh cầm tờ giấy này xuống kho lảnh gạo muối, khẩu súng cái đã”.
Thu Hà theo xuống hầm. Chính trị viên nhìn Thu Hà:
“Cô này là ai đây?”.
“Em là văn công”, Thu Hà đáp.
“Ôi trời đất ơi, văn công!”, chính trị viên kêu lên. “Lâu rồi lính tụi này không được coi văn công. Đánh trận liên miên mà. Anh làm gì có được cô văn công dẫn đi tòn teng như vầy?”
“Đụng trận bị lạc gặp nhau thôi. Vậy là không có đạn hả?”.
“Anh không có cách gì kiếm được vài băng đạn hả? Anh không phải là lính hả?”.
Vinh lên khỏi hầm. Tiểu đoàn trưởng đứng đằng xa chống nạnh tay quát tháo:
“Nè thằng kia có chịu xuống hầm không? Rừng trống trơn cứ đi tới lui nhởn nhơ, nhử máy bay tới hả?”.
“Em đi mượn thằng Hùng chai dầu gió”, người chiến sĩ đáp.
“Vợ mày đẻ hả?”.
“Em bị kiến cắn”.
Họ xuống kho lảnh gạo muối, khẩu súng. Vinh kêu mọi người chia nhau xuống các trung đội “kiếm” ít đạn.
“Ăn cắp hả?”, ông Chín Nếp la lên. “Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa làm chuyện đó nghen!”.
Vinh xuống một hầm, có Lâm Rỗ ở đó. Anh ta nhoẻn miệng cười:
“Cha làm tôi bị tiểu đoàn trưởng sạc một trận quá cở. Kiếm được khẩu súng rồi hả? Không có đạn hả? Tụi này cũng hết đạn rồi, không cho được đâu”.
Chiến sĩ trong hầm đang lau súng, vá quần áo, cảnh quen thuộc như Vinh đang ở trung đội mình. Một chiến sĩ vá chiếc ruột tượng gạo, đắp thêm miếng vải bên ngoài, may lẹm như lẹm buồm, hai bàn tay to lớn vụng về xoay trở tỉ mẩn, lật tới lui xem xét, để hết tâm trí vào đó, không còn việc nào quan trọng hơn. Người lau súng cũng tỉ mẩn, liên tục tháo ra lắp vào, đưa lên nhắm ngắm, đặt trở xuống ngẫm nghĩ, lại tháo trở ra.
Một người nghiền bột làm bánh xèo, gạo ướt đêm qua không để làm gì, dùng khúc cây làm chày nghiền trong ca Mỹ như ngoáy trầu, kêu Vinh ở lại chút lát nữa ăn bánh.
Lâm Rỗ đang lục soạn chiếc ba-lô của một người tử sĩ, lấy ra món này, cất vào món kia. Chẳng có gì nhiều, bộ quần áo, chiếc khăn tắm, quyển vở, hộp giấy đựng hình thư từ, kim chỉ, vải vụn, chiếc xỏ quai dép, ống đá lửa, một mớ hộp quẹt không có cái nào còn nguyên vẹn.
Lâm Rỗ nói:
“Đây là ba-lô của thằng Hùng Râu. Nó không có cọng râu nào, có cái thẹo vắt ngang trên môi nên gọi như vậy. Nó trữ nhiều hộp quẹt, khoái lửa hơn mọi thứ trên đời. Lâu rồi thành nghề, chuyên sửa hộp quẹt. Ai có hộp quẹt hư đưa nó, sẽ được thay liền cái hộp quẹt tốt. Đi đường ai cần đốt thuốc, kêu một tiếng thấy nó xỉa tay, liền có lửa cháy lên. Hành quân tới chỗ nghỉ, mọi người loay hoay với việc căng tăng làm cây mồi giăng võng, chỗ nó đã có đống lửa. Trận vừa rồi nó chết vì súng phun lửa. Nó vừa vượt qua bờ rào, một lằn lửa phun tới, đốt cháy nó như một ngọn đuốc…”.
“Thôi mà”, một người can.
“Mấy anh có đạn, cho tôi xin một ít được không?”, Vinh nói.
“Không được đâu. Tiểu đoàn xạc tôi một trận rồi, anh không thấy sao?”.
“Vậy thôi tôi đi”.
“Không ăn bánh xèo hả?”.
“Thôi…”.
“Vậy đợi chút. Ôi trời đất ơi...”.
Lâm Rỗ lom khom đi lại góc hầm lục lọi trong đống ba-lô, một lúc trở lại dúi vào tay Vinh băng đạn, nhăn nhó nói:
“Lấy đở bao nhiêu… Tụi này đang kẹt… Bắn cầm chừng thôi…”.
Vinh nhoẻn cười:
“Anh cho băng nữa đi”.
“Trời đất ơi là trời”.
Lâm Rỗ lại lom khom đi lại góc hầm lục lọi, đưa thêm cho Vinh băng đạn, đẩy anh lên hầm:
“Thôi đi đi. Cha ở lại đây thêm nữa, tụi này giao mặt trận cho cha”.
Vinh tìm gặp ông Chín Nếp dưới một hầm, đang kể chuyện gì đó khiến đám lính cười rộ lên:
“…Vậy rồi anh suôi nói với chị suôi: Thôi duyên phận đôi trẻ không thành do phần số của chúng. Còn tình cảm anh chị suôi chúng mình, không vì thế mà phôi pha…”.
Vinh đưa tay ngoắc. Ông Chín Nếp bước lên:
“Sao, có kiếm được gì không?”.
“Được”, Vinh nói. “Ông được gì không?”.
“Được mấy viên thôi. Nói cười mỏi miệng nhưng chúng không chịu cho, lính này khô khan tình cảm quá. Con nhỏ văn công đâu?”.
“Cháu đây!”, Thu Hà từ xa đi lại tươi cười. “Mấy anh rủ cháu ở lại chơi, vui lắm, kể đủ thứ đủ chuyện, hứa đào cho cháu một chiếc hầm thật lớn có đủ giường tủ, bên trên che một chiếc dù nghi trang như ở rạp hát…”.
Vinh gắt:
“Người ta mới đụng trận, ở đó lo giường ngủ với rạp hát. Thôi đi về đi!”.
Thu Hà im bặt. Lát sau lại thỏ thẻ:
“Một băng AK bao nhiêu viên đạn?”.
“Ba mươi viên”.
“Vậy em có được hai băng. Mấy anh cho nhiều lắm, nhưng không có gì đựng, em gói trong miếng vải dù cất trong ba-lô nè. Nhưng đạn rời không có băng, làm sao bắn?”.
“Được”, Vinh nói. “Chịu khó lắp mau, bắn cũng kịp thôi”.
Ba người trở về chỗ đóng quân, nghỉ một chút lên đường đi.
(còn tiếp)
Nguồn: Con đường xuyên rừng. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012.
www.trieuxuan.info
|