tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
04.12.2012
Lê Văn Thảo
Con đường xuyên rừng

Họ chia tay xóm dân, vợ chồng ông Tư Nghệ. Bà Tư áy náy, nghĩ mình là người có lỗi, vì bà ông Tư phải ở lại. Bà là gánh nặng cho ông, cho cuộc kháng chiến. Bà kéo Thu Hà vào nhà trần tình mãi, nhét cho cô chai dầu cù là, chai thuốc kim đan trị đau bụng, mớ nút áo không biết để làm gì. Bà không nhắc gì tới chuyện cô bỏ trốn, cô tiếp tục đi với đoàn cũng đủ chuộc lại lỗi lầm. Ông Tư Nghệ ngồi dựa gốc cây bên ngoài, tưởng như mọc nhánh mọc rể luôn ở đó.


Vinh chào từ giả mọi người, đến với ông Tư Nghệ:


“Hai bác ở đây với bà con, xong trận càn nhờ người đưa về đơn vị”.


Ông Tư Nghệ rút gói giấy đưa cho Vinh, nói:


“Đây giấy tờ của tôi anh cất dùm, giao cho ban chỉ huy của anh cũng được. Đâu cũng là tổ chức. Tôi ở đây không còn liên hệ với ai, không làm gì, không ai biết tôi là ai”.


Vinh không hiểu ra sao, cũng cất gói giấy vào ba-lô. Bao nhiêu năm ở rừng Vinh ít gặp người già, hầu như không gặp. Đơn vị chỉ có thanh niên trai tráng, ban chỉ huy cũng chỉ tuổi trung niên. Lâu lâu lên sư đoàn gặp người già cũng chỉ thấy từ xa. Vinh chưa từng thấy cảnh người già mủi lòng như thế này.


Cuộc hành trình tiếp tục vào giữa trưa, đi thật chậm, cốt kéo dài thời gian để gặp được người. Người bị thương đã đở nhiều nhưng ông Ba Quang bắt phải khiêng, thà cực một lần để sau này không cực thêm nữa. Những vạt rừng dầu nối tiếp nhau một cách đơn điệu nhàm chán, những vùng đồi uốn lượn lên xuống, cây cối chằng chịt dây leo. Họ qua suối liên tục, Vinh ngờ rằng chỉ một con suối uốn lượn qua lại.


Họ tiếp tục đi thêm hai ngày. Sang ngày thứ ba, đêm trăng sáng, đang đi tổ điện đài bỗng dừng lại ngó quanh, nhìn ra con đường vùng rừng quen. Họ đã về tới chỗ họ muốn đến, một ngọn đồi đã định sẳn. Họ mời đoàn người ở lại nghỉ qua đêm với họ, sáng đi cho khỏe.


Vinh cũng muốn nghỉ. Thu Hà mệt rồi. Nhưng anh ngại gặp gỡ công việc bí mật của họ. Họ đứng lại một lúc, ba lô trên lưng. Ngọn đồi không cao lắm, bờ dốc thoai thoải, cây mọc từng khóm nhỏ. Một con đường mòn thẳng từ chân đồi lên đỉnh đồi. Trăng sáng đến có thể đọc sách được.


Vinh nói:


“Đồi trống trải quá! Không sợ máy bay sao?”.


“Chịu vậy thôi”, một người điện đài nói. “Cả vùng chỉ có ngọn đồi này”.


“Bị bao vây thì chết, trống trơn như vầy bám đánh vô đâu”.


“Tụi này cũng bị một trận rồi”.


“Anh với mấy anh đây hả?”.


“Không, chỉ mình tôi. Mấy anh kia chết hết rồi”.


“Thôi, tụi này đi đây”, Vinh nói.


“Ừ, mấy anh đi đi”, anh điện đài nói.


Họ tiếp tục đi. Trăng vẫn sáng. Qua một khu rừng chồi bằng phẳng, ông Ba Quang bỗng dừng lại, ho khan một lúc rồi nói:


“Trở lại ngủ với mấy anh điện đài đi, tôi mệt quá rồi”.


“Em cũng mệt quá rồi”, Thu Hà nói.


“Hành xác làm gì”, ông Chín Nếp nói. “Ngủ lại với anh em chuyện vãn thêm được một đêm”.


“Anh Vinh nghe mọi người đi!”, Thu Hà nói giọng cáu gắt. “Sao anh cứ làm theo ý anh vậy?”.


Vinh khoát tay cho mọi người trở lại. Họ hối hả đi theo con đường mòn nhỏ leo lên đồi, len lách qua các khóm cây, những tảng đá lớn chồng chất tạo thành những hang hốc tối đen. Ngọn đồi không cao lắm cũng đủ tầm nhìn bao quát chung quanh. Trên đỉnh có một khóm cây, chỗ tổ điện đài làm trạm quan sát, có mấy căn nhà nhỏ lợp lá trung quân. Tất cả đã mục nát, các lò bếp sạt lở, các con đường phủ dày lá khô. Không thấy có dấu vết trận đánh. Chắc đã lâu, mưa gió xóa đi hết.


Tổ điện đài mừng rỡ đón tiếp mọi người, tuy họ mới chia tay nhau trước đó mấy phút. Họ nhanh chóng thu xếp chỗ ở, tổ diện đài nhường cho mấy căn lều. Các lò bếp phút chốc cháy đỏ. Mọi người căng tăng, giăng võng, chạy qua lại thăm hỏi, như lâu rồi mới gặp nhau.


Thu Hà giăng võng nằm trùm kín người. Vinh đi vòng quanh coi vị trí các khóm cây tren đỉnh đồi. Ông Chín Nếp đi theo, nói:


“Con nhỏ sốt rồi, gay quá!”.


Vinh trở lại, đến bên võng Thu Hà:


“Hà à, em sốt làm sao? Ăn cơm được không?”.


“Em không đói”, Thu Hà đáp vọng ra.


“Rán ăn một chút được không?”.


“Đã nói em không ăn”.


Ông Ba Quang gắt:


“Tôi cho uống thuốc rồi, để nó nghỉ một chút. Bắt ăn cho ói ra hả?”.


Vinh vẫn đứng bên võng Thu Hà. Đây là lần đầu tiên từ ngày Thu Hà bỏ trốn, hai người nói chuyện với nhau. Thật ra Vinh đã quên chuyện đó từ lâu. Mấy ngày lặn lội trong rừng, trở về nhìn thấy Thu Hà vùi đầu vào ngực bà Tư Nghệ khóc rấm rứt, anh chán nãn về chỗ giăng võng nằm, không nhớ gì tới chuyện Thu Hà bỏ trốn. Nhiều ngày về sau trên đường đi, dừng lại nấu nướng ăn uống, tối giăng võng nằm kề bên, Vinh không nhắc gì tới chuyện đó, cũng không chút gợn trong lòng.


Vinh vẫn đứng kế bên, tiếp tục gọi, cuối cùng rồi Thu Hà trở dậy, lầm lỳ bưng ca cháo húp mấy muỗng, rồi trở về võng nằm xuống kéo chăn trùm kín.


Ông Chín Nếp đưa mắt về chỗ võng Thu Hà, hỏi nhỏ Vinh:


“Con nhỏ sốt, tính sao? Ngày mai có đi không?”.


Vinh quay sang ông Ba Quang:


“Tính sao ông bác sĩ?”.


Ông Ba Quang nói phân đôi, không rõ ra sao. Nói Thu Hà đang sốt bắt đi thật tội. Lại nói ở lại chỉ làm phiền, công việc điện đài cần có chỗ riêng tư để giữ bí mật.


“Vậy sáng mai ta đi”, Vinh quyết định.


Tổ điện đài trữ nhiều gạo mắm, mời cơm nhưng không ai ăn. Vinh nhai nắm gạo rang, đến từng nhà các anh điện đài rờ từng khẩu súng băng đạn, bàn chuyện các anh bị tụi Mỹ bao vây đánh xuống như thế nào, máy bay ném bom tránh né ra sao. Mấy anh điện đài vui vẻ tiếp chuyện, anh thương binh cũng góp vào. Giữa khuya Vinh trở về võng ngủ, Thu Hà trở dậy kêu khát nước. Nhìn thấy khuôn mặt tái xanh cảu Thu Hà Vinh thấy tràn ngập thương mến:


“Em thấy trong người ra sao?”.


“Không biết sao. Người em nóng như lửa đốt, em uống hết bi-đông nước của em rồi. Chú Ba cho em uống thuốc, mai hạ sốt em đi được thôi”.


“Để tính lại đã”.


“Tính cái gì, hồi nảy anh nói đi rồi mà”, Thu Hà nói, cơn sốt khiến mắt cô sáng long lanh. “Em đi bao lâu cũng được. Nhưng mình thoát ra khỏi trận càn chưa hả anh?”.


“Chưa đâu”.


“Ôi trời đất ơi! Cũng chưa xa chỗ đóng quân của tụi Mỹ hả?”.


“Không biết được”.


“Ôi em sợ lắm!”.


Thu Hà nằm xuống đầu thò ra ngoài, nói tiếp giọng như ướt nước mắt:


“Anh giận em lắm phải không? Đừng giận em. Tánh em nông nổi lắm, để bụng làm gì. Nhưng em không đi học múa về nhà lấy chồng đẻ con, mắc mớ gì em phải chết?”.


Vinh nhớ lại một chuyện. Hồi ở đơn vị, một hôm cùng tiểu đội đi tải gạo, giữa đêm dừng nghỉ chân trong cụm rừng hoang vu, chợt thấy xa xa có ánh đèn dầu le lói. Vinh tò mò lần đi đến, thấy một căn lều, một cô gái ngồi im phắc bên ngọn đèn dầu, khuôn mặt tái xanh tỏa ra một vùng sáng nhỏ. Cô gái làm gì giữa rừng hoang vu như thế này? Nhiều năm về sau tìm người hỏi thăm, Vinh không biết gì hơn. Có thể cô gái làm công tác điện đài, như các anh này đây. Nhưng không hiểu sao Vinh không tin như vậy. Hình ảnh ấy theo anh mãi, ngày càng huyền hoặc, như của thần linh.


Thu Hà ngủ thò một tay ra ngoài. Vinh bước tới đở cánh tay đặt trở vào trong võng, sửa lại vạt mùng, trở về võng nằm, trằn trọc mãi. Cuối cùng rồi Vinh cũng ngủ, giấc ngủ thật nặng nề, mơ thấy đủ chuyện: bãi đóng quân rực rỡ của tụi Mỹ, ông Tư Nghệ ngồi dựa gốc cây, người chiến sĩ nằm chết khô trên võng, cánh đồng chói chang ánh nắng, bầy con gái bơi lội vẫy vùng…


 


***


 


Họ đi dưới trời mưa. Trời tối đen xòe bàn tay không thấy, chỉ có thể nương theo những ánh chớp lóe thỉnh thoảng lóe lên. Mưa ầm ầm, gió giật tứ tung, cây cối vặn mình kêu răng rắc. Vinh khép chặt hai mép ni-lông, cố giữ chiếc ba lô và khẩu súng không bị ướt, nòng súng chúc xuống. Thỉnh thoảng quay lại nhìn Thu Hà sau màn mưa.


Lúc chiều Thu Hà đã bớt sốt Vinh quyết định ra đi, trời vẫn xanh trong. Đâu ngờ chập tối bỗng đổ mưa, cơn mưa dữ dội như thế này. Họ như lạc vào cảnh hổn mang của trời đất.


Không thể mong gặp được ai trong lúc này. Nước chảy tràn, nhiều chỗ biến con đường thành con suối nhỏ. Họ bám sát nhau. Thỉnh thoảng nghe tiếng ông Chín Nếp hỏi: “Đi được không cháu?”. Tiếng Thu Hà đáp lại: “Cháu không sao đâu”. Mặt đường nhiều lúc mất hút, Vinh đi theo quán tính, bước thật đều để Thu Hà dễ bám theo. Sấm chớp xé trời, con đường bồng bềnh chao đảo. Nhiều lúc như đang đi trong mơ.


Rồi cơn mưa cũng dịu đi, bắt đầu rả rích, theo kiểu mưa rừng, hứa hẹn kéo dài tới sáng.


Ông Ba Quang chen lên chỗ Vinh:


“Hình như có người theo mình”.


“Ai đâu?”.


“Không biết. Mưa gió ầm ầm như thế này. Nhưng tôi cảm thấy có người theo mình”.


Họ đứng lại giữa trời mưa. Vinh hỏi:


“Ông thấy gì?”.


“Có ánh nhá hộp quẹt, nhiều lần, bám theo sau”.


“Sao ông không báo tôi?”.


“Thì tôi báo đây nè”.


“Chú Chín có thấy không?”.


Vinh quay lại ông Chín Nếp. Ông Chín Nếp quay đi lắc đầu, vẻ không cương quyết lắm:


“Không có ai đâu. Mưa gió như vầy, họa chăng là ma”.


Họ đứng rũ người ra dưới mưa. Thu Hà kêu lên:


“Em lạnh quá, mình tìm chỗ nghỉ đi”.


“Em sốt nữa hả?”, Vinh sờ tay Thu Hà. “Rán đi chút nữa được không?”.


“Em không rán nổi, chân em tê cứng đây nè”, Thu Hà nói như khóc. “Anh muốn giết em hả?”.


“Thôi được rồi, mình nghỉ đây đi”.


Vinh đạp cây đi vào bên đường. Mọi người đi theo, trời tối níu thân cây bước từng bước một. Mưa vẫn rả rích. Cụm rừng không rõ như thế nào, chỉ thấy mù mịt, ướt đẫm, nước chảy tràn dưới chân. Vinh dò dẫm tìm một chỗ tương đối ít ngập nước, nhanh chóng làm chỗ ngủ cho Thu Hà. Cô đứng đợi, người thon cao bó sát trong tấm ni-lông, nước chảy thành dòng trên vai trên cổ. Vinh làm cây mồi, căng tăng, làm giá để ba lô, giăng võng, dìu Thu Hà lên nằm. Cô gái run bắn trong tay anh.


Vinh đến chỗ ông Chín Nếp:


“Tôi hỏi chuyện chú một chút. Chú đã gặp ai phải không?”.


Ông Chín Nếp khoát mùng ngồi dậy, tránh cái nhìn của Vinh, lắc đầu yếu ớt. Vinh hỏi tiếp:


“Sao chú lại dấu tôi? Hồi nảy ai nhá hộp quẹt, người hay ma?”.


“Tôi không biết gì đâu”.


“Chú biết. Thằng con trai đi theo Thu Hà phải không?”.


“Oi trời đất ơi…”.


“Tôi đã đoán ra ngay từ đầu. Chú là người móc nối, đúng không?”.


“Tôi làm gì bậy bạ tôi chết, thằng già này chỉ có ngu thôi”, ông Chín Nếp phân trần. “Thằng đó chỉ có thương con nhỏ quá thôi. Nói chết cũng không bỏ. Tôi nói mày là thằng con nít, con Thu Hà là chị mày. Nó nói tình yêu không phân biệt tuổi tác. Nó sẽ đi theo con Thu Hà đến cùng trời cuối đất. Hoặc tự tử chết. Tôi biết thế nào nó cũng đi theo, mấy ngày rày có ý theo dõi. Hôm qua đến gần ngọn đồi cảu mấy người điện đài, tôi đi đái gặp nó. Tội nghiệp quá chừng! Suốt mấy ngày nó đi lẻo đẻo theo sau, không ăn uống, không bòng bị gì cả, chiếc tăng đi mưa chiếc dép râu cũng không, đầu trần chân đất cứ vậy mà đi. Thôi chuyện đâu còn có đó, anh dừng làm dữ, để tôi liệu bề nói chuyện với nó”.


“Tôi làm dữ cái gì?”, Vinh nói. “Tôi mắc mớ gì tới chuyện này?”.


“Khổ là khổ chung cho tụi mình, cho cả trời đất”, ông Chín Nếp nói. “Sao nó không bị rắn cắn chuột rút chết đi cho rồi. Thôi anh đừng nói cho ai biết chuyện này”.


“Đó là điều tôi muốn nói với ông. Thu Hà biết chuyện này ông chết với tôi”.


Vinh trở về võng nằm trong cơn mưa rả rích kéo dài.


 


***


 


Họ đi trong ánh hoàng hôn đỏ bầm. Ông Chín Nếp ngân nga kể một chuyện:


“Ôi đời sao cơ cực! Có ai thấy nghề kỳ lạ như vầy không: ngồi trên bè cho người ta xô ra ngoài biển chết mất xác để lãnh món “tiền tử” dành cho vợ con. Đó là tục lệ tống ôn xứ tôi, người giàu trừ khử tà ma, người nghèo thế mạng vô đó. Khổ cực lắm! Đau xót lắm! Thường không ai sống sót trở về. Năm khi mười họa có người lạc vào hoang đảo, hoặc bám vô các cọc đáy, tàu ghe đánh cá gặp vớt đem về, sau đó cũng nhiễm đủ thứ bịnh sống vật vờ, vài ba năm sau cũng chết. Ông nội tôi làm nghề đó. Thuở tôi lên bảy lên tám, một lần ba tôi dắt tôi ra bờ biển tiễn ông nội tôi đi trên bè tống ôn. Ông ngồi xếp bằng giữa bè, gọi là nhà giàn, giăng hoa kết tụa, nhang đèn, đồ ăn thức uống bày trên sàn, trước mặt là chiếc đầu heo quay, sau lưng là mâm ngủ quả, để nội tôi sống được lâu ngày. Ông nội tôi ngồi oai vệ lắm, còn ba tôi thì ôm mặt khóc ròng. Tôi không biết gì cũng khóc theo. Nhưng lần đó ông tôi không chết. Nhiều lần sau cũng vậy. Những người khác đi biệt tích, ông tôi trở về tiếp tục đi cúng giàn lãnh tiền nuôi đám con cháu chúng tôi. Cuối cùng rồi ông tôi cũng không trở về, ba tôi lấy ngày ra đi làm ngày giỗ. Nhiều năm sau có người đi biển về, nói có gặp ông tôi ngoài một đảo hoang, người ốm nhom râu tóc mọc dài, quần áo bằng vỏ cây, không nói được tiếng người chỉ ú ớ chỉ chỏ. Ông tôi nhắn bảo rằng ông tôi sẽ không trở về, không muốn ngồi lên “nhà giàn” thế mạng cho bọn nhà giàu, tủi hổ vong linh ông bà tổ tiên và con cháu mai sau…”.


 


***


 


Buổi trưa họ đi qua một con suối nước lạnh ngắt, qua một trảng cỏ cháy bỏng, đi vào một khu rừng bằng lăng râm mát. Bỗng họ gặp lại hai người buôn thuốc Tây.


Thật không ngờ, như hai người có thuật đi mây về gió, có thể đi khắp rừng trong phút chốc.


Người nhỏ thó tươi cười nói:


“Tụi tôi giỏi gì đâu, có đi có tới vậy thôi. Tui tôi là dân buôn bán, phải chịu khó đi nhiều nơi, gặp nhiều người”.


Họ báo có trởi lại xóm dân, gặp vợ chồng ông Tư Nghệ. Bà Tư Nghệ chưa tìm được đường ra chợ. Ông Tư Nghệ râu tóc để dài suốt ngày đi kiếm củi câu cá đào củ, tối đến đốt một đống lửa lớn soi tập vở ghi chép. Suốt ngày ông không nói chuyện, từ bỏ nghề tuyên huấn của ông xưa kia chỉ có nói là nói.


Hai người cũng nghe tin tổ điện đài về được chỗ ở, cũng mừng. Nhưng không ghé, phải biết phận mình.


“Cái gì hai ông cũng biết hả?”, Vinh nói.


“Có đi có biết thôi”, người nhỏ thó cười nói.


Họ chia tay hai người buôn thuốc Tây, nghĩ bụng sẽ gặp lại họ nay mai thôi.


 


***


 


Họ đi qua một vùng núi chập chùng, men theo một sườn đồi chằng chịt những dây leo, những cây ngành ngạnh cây cằng thăng đầy gai. Họ lên cao mãi, rồi bắt đầu đổ dốc, con đường đẩy họ xuống gần như chạy.


Ông Chín Nếp la lên:


“Đi xuống âm phủ hay sao vầy nè?”.


Nhưng con đường vẫn nghiêng xuống. Họ đi mãi, hơn tiếng đồng hồ trôi qua, cho tới lúc một vùng sáng hiện ra, những mái nhà lô nhô, những bụi chuối với những tàu lá rách te tua dưới gió khiến họ đứng lại ngẩn ngơ. Làng xóm gì ở đây? Nỗi nhớ thương quê hương làng xóm khiến lòng họ bùi ngùi. Những ngày dài gian khổ thiếu thốn, trận càn bom đạn người chết, bịnh sốt rét, tất cả đã không còn. Họ sẽ ở lại đây, sống cuộc sống yên bình dân dã của họ trước đây.


Nhưng xóm nhà vắng tanh không một bóng người. Mọi vật dụng vẫn còn nguyên. Chiếc gáo múc treo đầu cọc cạnh lu nước. Chiếc thùng gỗ đặt cạnh giếng nước. Nhưng người đâu không thấy, một cơn gió lạ đã thổi bay tất cả.


Họ đi dọc theo xóm. Nhà cất theo kiểu miền núi, sàn nhà cao, bên dưới làm chuồng súc vật. Mái nhà nhọn, lợp bằng thân cây lồ ồ chẻ đôi, giếng nước dùng chung cho cả khóm nhà, chiếc cần vọt cao nghệu. Xóm có chừng vài chục căn nhà. Thang lên xuống là một thân cây đẽo thành bực sơ sài. Ông Chín Nếp rủ Thu Hà lên từng nhà lục tìm. Ông Chín Nếp dân miền Tây quen đi cầu khỉ, leo cầu thang thoăn thoắt. Thu Hà là diễn viên múa cũng đi giỏi không kém. Nhiều nhà rộng chứa vài chục người, có thể đoán nhà của “già làng”. Lại có căn nhỏ cao nghệu như chuồng chim, tối đến chỉ có thể ngủ ngồi. Một chiếc cối giả gạo bằng một khúc cây mấy người ôm, rắn chắc dùng đến mấy đời người. Có mấy chiếc lồng lớn treo lơ lửng trên cành cây. Thu Hà reo lên: “Chuồng chim lớn quá!”. Ông Ba Quang giải thích đó là lồng nuôi gà, ở rừng phải nuôi như vậy để tránh chồn và mèo rừng. Có một ống bương dẫn nước từ trên triền đồi xuống, nhưng không thấy có nước, chắc bị đứt đoạn ở đâu đó. Không thấy có chiếc hầm núp nào. Cũng không thấy có dấu bom pháo, như chiến tranh chưa hề qua đây. 


Vậy dân ở đây bỏ đi đâu? Một cuộc di dân thường lệ của người miền núi, hay nghe phong thanh có trận càn bỏ đi? Hay trực thăng đổ xuống xúc đi hết?


Ông Chín Nếp đang đứng trên một sàn nhà, đưa tay ngoắc mọi người: “Có rượu cần, lên uống! Ngọt lắm!”. Thu Hà cũng hiện ra, mặt đỏ gay: “Như nước cơm rượu vậy”. Ông Ba Quang la vọng lên: “Yên rồi hả? Tới lúc nhậu nhẹt rồi hả?”. Vinh cũng la vọng lên: “Thu Hà không được uống nhiều, rượu ngọt nhưng mau say lắm!”.


Họ chọn căn nhà đẹp nhứt, lớn nhứt để ở. Thu Hà quét tước dọn dẹp. Ông Ba Quang ngồi gác cửa. Ông Chín Nếp sục sạo các nhà bên cạnh, tha về bắp khô khoai khô, một mớ các thứ đậu, một miếng gỗ hình bùa chú kỵ rắn rít thú dữ.


Vinh nằm sải tay giữa sàn nhà thán phục nhìn lên những tấm lợp bằng ống bương đều tăm tắp, ngói lợp ở thành phố cũng không sánh bằng.


Họ quyết định ở lại, chuyện đi đứng tính sau. Ông Ba Quang bàn mọi người nên ở dưới nhà, ở trên sàn có B52 nhảy gảy cổ cả đám. Nhưng không ai nghe, không có bom đạn gì ở đây. Ông Chín Nếp suốt ngày chạy tới lui, tiếp tục tha về một miếng da trâu, một hủ mắm bốc mùi không thể ăn, vô số những miếng gỗ hình bùa chú, hối Thu Hà nổi lửa lên các bếp.


“Bếp nhà phải có khói”, ông nói. “Không thì như nhà ma!”.


Không tìm được hột muối nào. Muối là của quí hiếm đối với người thiểu số. Có thể do hết muối họ chuyển đi nơi khác chăng?


Thu Hà suốt ngày bận rộn, chiều đến nằm trùm chăn một góc nhà.


“Lại sốt nữa hả cháu?”, ông Chín Nếp than thở. “Để ông nấu cho cháu nồi cháo khoai, ăn chén cháo nóng ra mồ hôi hết bịnh thôi. Không ai thương mình bằng cơm gạo đâu. Chuyện kể năm xưa có người lạc rừng cả tháng trời, ăn vỏ cây đất cục, chỉ còn da bọc xương. Về đến nhà ăn liền hai nồi cháo, bụng như cái trống, đi dạo quanh làng trẻ con tưởng ma, hoảng sợ bỏ chạy tán loạn”.


Mọi người nhai bắp trệu trạo. Ông Chín Nếp nói:


“Hay ta đem ché rượu về uống, cho trôi thứ bắp khô cứng như răng quỉ này?”.


“Biết nấu bằng thứ gì mà uống?”, ông Ba Quang nói.


“Gì cũng khoai bắp xứ mình. Anh tưởng đây là đâu?”.


Không ai uống rượu, ông Chín Nếp cũng không uống. Ông chạy đi một vòng, đem về giò phong lan ổ ong ruồi. Giò phong lan treo ở hàng hiên, ổ ong ruồi vắt lấy nước cho Thu Hà uống. Thu Hà thường sốt vào buổi chiều, người nóng hâm hấp, vẫn đi đứng chuyện vãn nhưng người sút hẳn. Đôi khi bất chợt cô gái có những cơn hoảng loạn, nói lảm nhảm những câu vô nghĩa, giật thót người trước một hình bóng vô hình. Ông Ba Quang vẫn cho uống thuốc, nhưng các cơn sốt không thấy thuyên giảm. Họ vẫn ở trên nhà. Ông Ba Quang cằn nhằn chuyện mất cảnh giác. Đang trong trận càn, B52 có thể rải bom bất cứ lúc nào. Buổi sáng ông Chín Nếp đi rừng cải hoạt, hái rau, thăm một luồng bẫy, đem về nắm lá, con chồn con cheo. Vinh xách súng đi cảnh giới một vùng rộng, không thấy gì ngoài đồi núi chập chùng, trở về ngồi hút thuốc trước sàn nhà.


“Mai ta đi được chưa?”, một bữa Vinh hỏi mọi người.


“Thu Hà đã hết sốt đâu?”, ông Chín Nếp nói.


“Nghỉ ít bữa nữa, cho em đở sốt đi!”, Thu Hà nói.


“Nhưng em sốt nặng thêm thì sao?”.


Ông Ba Quang không có ý kiến gì. Chuyện đi ở tạm thời gác lại.


Tuần lễ trôi qua. Buổi sáng trời mù sương. Ông Ba Quang ngồi gác trước cửa. Vinh xách súng đi rảo một vòng về ngồi hút thuốc ở hàng hiên. Thu Hà rì rầm chuyện vãn với ông Chín Nếp:


“… Nhà cháu nghèo lắm! Thấy cháu cao lớn trắng trẻo như vầy, ai cũng lầm tưởng cháu con nhà giàu. Chưa khi nào má cháu sắm cho cháu được bộ quần áo. Cháu đi làm đồng suốt ngày da vẫn trắng, hàng xóm nói cháu là con tiên. Má cháu vui lắm. Nhưng đêm nằm má cháu buồn rầu nói: “Con trai đi đánh giặc hết rồi, làm sao má gả chồng cho con đây?”. Rồi cũng có người hỏi cháu. Năm đó cháu mới mười lăm, nhưng cao lớn. Một chiều cháu tắm sông, có chiếc ghe đi ngang, anh con trai dừng ghe nói với cháu: “Lên ghe làm vợ anh đi”. Cưới vợ cái gì kỳ cục vậy? Nhưng ghe đang ở giữa sông cháu không sợ. Cháu chọc trở lại: “Ghe anh nhỏ quá em không chịu đâu. Anh sắm cho em chiếc ghe thật lớn đi”. Anh cười, chèo ghe đi qua. Vậy rồi sau mấy năm, vừa mới đây thôi, cháu sắp lên rừng học múa, có bà mối tới hỏi cưới cháu cho một người, nói người đó đã gặp cháu rồi, sắm cho cháu chiếc ghe thật lớn…”.


Vinh gọi ông Chín Nếp:


“Chú Chín đi tắm với tôi”.


Ông Chín Nếp lẵng lặng đi theo Vinh. Hai người đi một đỗi xa, đến bên chiếc giếng, Vinh kéo ông Chín Nếp dừng lại:


“Thằng kia có ở đây không?”.


Ông Chín Nếp cúi đầu buồn bã:


“Có”.


“Nó ở ở đâu?”.


“Ở ngoài kia. Con chồn con cheo tôi bẫy hổm rày là của nó. Mấy bữa rày nó sốt không ăn uống gì được, người ốm nhom như con cò ma, nằm một chỗ chỉ đòi chết”.


“Cho nó chết”, Vinh nói. “Nhưng nó chưa chết bảo nằm yên đó. Không được xáp vô đây, dù chỉ một bước”.


“Lỡ nó “đột nhập” vô thì sao?”.


“Nói với nó tôi có súng. Và vì nó muốn chết, tôi chỉ cần cho nó một phát”.


“Không cần phải bắn. Nó sắp chết rồi. Thôi cũng đành, coi như xong một đời người”.


“Ông nói tại tôi hả?”.


“Đâu phải do ai, tại nó thương quá thôi. Nó chết rồi mối càng sẽ ăn xác nó, ngày trước ngày sau không còn dấu vết gì. Không ai biết cụm rừng này có thằng nhỏ chết vì tình”.


“Thôi ông ca hát làm gì. Tốt nhứt ông xin ông Ba Quang cho nó viên thuốc, nói đợi mình đi rồi hẳn chết”.


“Có người! Có người!”, tiếng ông Ba Quang la.


Một người từ xa đi vào, trang bị đầy đủ, súng đạn dao gâm giá đào đất, thêm chiếc bao lớn quảy trên vai.


“Đừng bắn đừng bắn!”, anh bộ đội la lớn. “Tôi biết mấy cha ở đây đem đồ ăn tiếp tế cho đây. Ăn đồ hộp Mỹ không? Hay không ăn?”.


Vinh ra đón anh bộ đội dẫn vào, giúp anh leo lên thang. Mọi người bu quanh. Anh ngồi xuống giữa sàn nhà lôi từ trong bao ra đủ thứ thịt hộp cá hộp, phô-mai, kẹo bánh, thuốc lá, tăm xỉa răng, khăn lau miệng… Không có đồ uống, thằng Mỹ chết khát giữa vùng rừng nhiệt đới này.


“Đồ hộp nhiều quá, mấy bạn lấy một ít”, anh tiếp tục lôi ra các thứ trong chiếc bao thần. “Tôi là lính trinh sát. Đừng hỏi tôi ở đơn vị nào, đến đây làm gì. Tôi tính đem mớ đồ hộp này về đơn vị, nhưng lính ngàn không thấm vào đâu. Có đậu phộng nghiền nè ăn không? Bột trứng nữa nè. Cái này không ăn được. Đây là cục chất đốt. Lính công tử Mỹ ăn đồ nguội sình bụng, đem theo cái này để đốt hâm. Thịt bò ngon lắm nè, ăn thử một hộp đi. Cô nàng cao nhòng này biết ăn phô-mai không? Thằng Mỹ làm súng đạn tốt, làm đồ ăn cũng ngon. Anh em mình lấy nhiều đi, tôi ăn hổm rày ngán rồi. Chỉ thèm cơm. Cả tuần nay đi trinh sát, lo lượm đồ hộp rớt mất ruột tượng gạo. Tôi alf dân ruộng, không có hột cơm trong bụng không chịu nổi”. Anh nhìn Thu Hà: “Hay cô nàng ăn bơ thử đi, hôi như dầu lau súng vậy”.


Vinh nhìn anh trinh sát chăm chú:


“Sao anh biết tụi tôi ở đây?”.


“Hai người buôn thuốc Tây chỉ. Nói mấy bạn lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo, cần được giúp đỡ”.


“Nhưng anh tìm đồ hộp ở đâu?”.


“Ở đây, tụi Mỹ đóng quân sát bên đây nè”.


Mọi người đưa mắt nhìn nhau, mặt tái xanh. Không thể tưởng tượng được. Họ đi bao nhiêu ngày, để đâm sầm vào trận địa như thế này.


Anh trinh sát thu dọn mờ đồ hộp còn lại vào trong bao, tươi cười:


“Mấy bạn không biết gì hết phải không? Để tôi chỉ cho. Một tiểu đoàn Mỹ hơn tám trăm quân đóng ở khu lòng chảo đằng kia. Đó là một sân bay cũ. Chúng có đủ xe tăng, trực thăng, pháo tự hành 30. Chúng ém thật kỷ, tụi này đi qua lại không nghe động tịnh gì. Có vẻ chúng định phối hợp với một cánh quân khác, đánh ép mình lên biên giới”. Anh nhìn Vinh: “Anh cũng là bộ đội phải không?”.


“Anh chỉ cho chúng tôi đường đi tránh đi”, Vinh nói. “Có đường khác nào không?”.


“Không có đâu”, anh bộ đội nói. “Cũng không có đường lui. Chỉ còn độc đường phía trước, qua hẻm núi. Tốt nhứt anh chờ đây. Tụi này đang đánh lên, đánh vận động, đánh xong đi qua luôn. Mấy anh bám theo sau, xung kích nổ súng khống chế mấy khẩu đại liên mấy anh chạy băng qua... Đi liền bây giờ đi”.


“Tụi tôi đi liền đây”.


“Đi cặp theo bìa rừng để tránh mìn. Coi chừng đám trực thăng. Anh có khẩu súng kia được rồi”.


“Tôi có ít đạn, anh cho thêm vài băng được không?”.


“Không được đâu. Ai lại xin đạn xung kích? Có lấy đồ hộp thì cho. Lấy đồ hộp nữa không?”.


“Thôi”.


Vinh đưa anh bộ đội xuống nhà. Hai người đứng giữa sân. Anh bộ đội bẻ nhánh cây vạch xuống mặt sân chỉ chỏ, Vinh đứng nhìn lắng nghe. Anh bộ đội ra đi. Vinh trở lên nhà xách chiếc giá, nói của anh bộ đội cho. Thu Hà hỏi:


“Anh Vinh gặp bộ đội rồi phải không? Có đơn vị anh ở đó không?”.


Vinh không đáp, đến ngồi một góc sàn nhà tháo khẩu súng ra lau, lấy ít bơ của Thu Hà tra vào cơ bẩm, ổ cò, ổ khóa. Tháo hai băng đạn ra lau từng viên, lảy thử độ nhạy của lò xo. Sau đó xé miếng vải dù gói số đạn rời thành từng túi nhỏ, tất cả bốn túi cột vào thắt lưng. Rồi coi lại nòng súng, đầu ruồi, đưa lên lấy đường ngắm, rờ rẩm hình vẽ lờ mờ ở báng súng. Rồi tháo ra lắp lại lần nữa.


Còn mấy tiếng đồng hồ đợi trời tối ra đi. Vinh cho nấu hết số gạo còn lại, chia đều số đồ hộp cho mọi người, Thu Hà cũng phải mang một ít.


“Mình không đi chung hả?”, Thu Hà lo lắng.


“Đi chung”, Vinh nói. “Nhưng phòng hờ trường hợp xấu nhứt. Chú Chín ra tôi nói chuyện này”.


Hai người xuống nhà ra cạnh giếng nước. Vinh hỏi:


“Thằng nhỏ còn ngoài kia không?”.


“Còn”.


“Tính sao?”.


“Phải bỏ nó lại đây thôi”.


“Thì phải như vậy rồi. Nhưng phải báo cho nói biết. Nói có đơn vị Mỹ đóng gần đây, bộ đội mình sắp nổ súng, tùy nó định liệu. Chú đi lẹ đi, về đừng báo lại với tôi làm gì. Tôi không muốn nghe chuyện này nữa”.


Cơm vắt gói trong vải dù chia cho từng người, nước chín đổ vào bi đông. Trời còn nắng, mọi người chợp mắt một chút. Vinh ngồi vào một góc nhà nhắm mắt, nhưng không ngủ. Anh hình dung xung kích đang tập kết trong một cánh rừng nào đó, súng cầm tay, bắt đầu chạy âm thầm trên những con đường mòn, hướng về khu lòng chảo bãi đóng quân của tụi Mỹ. Tất cả ba lô nịt đạn gọn gàng, tiểu liên AK, trung liên RPD hai cơ số đạn, đại liên Cô-li-nốp, cao xạ mười hai ly tám nặng tám mươi ký chỉ một người vác. Có thể đó là đơn vị anh, chỉ có thiếu anh!


“Thôi ta đi đi”.


Vinh đi trước. Mọi người đi theo sau, theo thứ tự như cũ. Họ ra đường lớn, đi tiếp con đường đã đi. Mặt trời đã xuống khỏi ngọn cây. Khóm nhà đã khuất phía sau. Họ đi vào hẻm núi, hai bên dốc cao dựng đứng. Trời tối rất mau, nhưng mặt đường phẳng dễ đi. Vinh đi chậm, đợi Thu Hà, và cũng đợi xung kích anh đoán đã lên gần tới. Quả nhiên lát sau nghe có tiếng chân, rồi tốp người chạy tới. Nhưng chỉ là một toán dân công chừng vài chục người, vác đạn cối, đạn pháo, những chiếc bòng nặng trịch đựng đạn tiểu liên. Có mấy người vác hỏa tiễn H12 và đạn chống tăng B40. Họ chạy lúp xúp, cúi khom người, chen qua bọn Vinh chạy vượt lên trước.


Thật quá ngạc nhiên, không ngờ được, tiếp theo sau đoàn dân công là hai người buôn thuốc Tây! Vinh níu họ lại hỏi chuyện:


“Sao bị kẹt vô đây?”.


“Đâu biết sao”, người nhỏ thó nói. “Bị cuốn vô vậy thôi. Cực với hai bao thuốc này quá trời quá đất! Nhưng không lẻ bỏ? Đành vậy thôi. Cố tìm đơn vị quân y giao đại, tiền bạc tính sau”.


“Có trở lại xóm dân không?”.


“Có. Ông già tuyên huấn gởi vợ ra ngoài chợ rồi. Nhưng lại rước đứa con trai vô, hai cha con đang lang thang trên đường. Tổ điện đài bị một trận bom, ngọn đồi tan hoang cả. Nhưng người không sao, như có phép thần thông…”.


“Có thấy thằng con trai xóm dân đi theo tụi này không?”.


“Thấy”.


“Nó đâu?”.


“Trong đoàn dân công này nè. Nói đi để chết. Làm sao mà chết? Thôi tụi này đi. Chào! Như vầy coi như đánh giặc rồi còn gì”.


Hai người buôn thuốc Tây đi qua. Không thấy anh con trai đi lên, chắc tránh đâu đó. Lại nghe tiếng chân phía sau. Trung đội xung kích đi lên, đội hình quen thuộc. Vinh kéo mọi người đứng nép sang bên. Một chiến sĩ dừng lại sửa chiếc quai dép, ngước nhìn Vinh: “Sao đứng đây?”. Rồi chạy qua luôn.


Trung đội một qua khỏi. Trung đội hai đi tiếp theo, trung đội trưởng nón tai bèo thả ra sau. Ban chỉ huy đại đội đi kế tiếp. Đại đội trưởng dáng chắc nịch, chính trị viên sốt rét mặt vàng bủng. Trung đội ba đi sau cùng. Xạ thủ đại liên Cô-li-nốp chúi người về phía trước, đi gần như chạy, bị sức nặng của khẩu súng đẩy đi. Đại đội qua hết. Lại thấy một chiến sĩ hối hả chạy theo sau, mang một đống nồi chảo trên lưng, đi khuất rồi vẫn còn tiếng long cong vọng lại.


Đơn vị xung kích qua khỏi một lúc lâu, mọi người định đi theo nhưng Vinh đưa tay cản:


“Khoan đã! Còn hai đại đội nữa. Đơn vị bao giờ cũng hành quân cấp tiểu đoàn”.


Đại đội kế tiếp đến liền sau đó, vẫn y đội hình như thế. Vinh háo hức đứng nhìn, tưởng như nhìn thấy đại đội mình. Không thể tưởng tượng được, bỗng dưng có một chiến sĩ chợt dừng lại, nhìn Vinh kêu lên: “Mày đó hả Vinh? Hổm rày trốn đâu? Thôi vô đội hình đi, cũng may vừa về kịp”.


Bỗng Thu Hà kêu:


“Chú Ba xỉu rồi!”.


Ông Ba Quang đứng dựa vào một thân cây. Vinh bước tới đưa tay đở nhưng ông gạt đi:


“Không sao đâu. Tôi uống thuốc rồi. Tim bẩm sinh! Tệ quá, nhằm ngay lúc này”.


“Ông còn thiếu bịnh gì nữa không?”.


Họ đi tiếp trong tiếng pháo nổ rền xa xa. Rồi một loạt pháo nổ ngay trên đầu, mọi người nằm xuống ngay giữa lòng đường, đất cát cành cây rơi phủ lên người. Loạt pháo vừa dứt họ tốc dậy chạy đi trong tiếng pháo gầm rú liên hồi, máy bay xuất hiện đảo vòng cắm xuống trút bom.


“Xung kích nổ súng rồi, ta chạy mau đi”, Vinh hô.


Nhưng xung kích phía sau lại lên tới, họ phải đứng sang bên nhường đường. Một chiến sĩ hỏi Vinh: “Còn xa không anh?”. Vinh lắc đầu. Có tiếng đại đội trưởng hô: “Chạy mau lên anh em!”. Anh chiến sĩ chạy đi, ngoái đầu nhìn Vinh, vấp chiếc rể cây chúi đầu lảo đảo, gượng lại được phóng chạy để lại phía sau tiếng kêu rên rỉ.


Vinh coi đồng hồ: nửa đêm. Phải bám ra mau, trận đánh sẽ không hơn tiếng đồng hồ. Đánh vận động, nhanh chóng giải quyết trận địa trước khi trời sáng.


Đã nghe rõ tiếng súng bộ binh. Tiểu liên AK từng tràng dài, AR15 nổ lẹt đẹt, chấm dứt bằng trái đạn M79 nổ “ùm”. Pháo sáng bắt đầu le lói. Phút chốc cả khu rừng sáng bừng lên. Con đường lộ ra đến từng dấu chân, cảm giác phơi mình ra khiến họ chạy mau hơn. Con đường rộng dần, cây thấp lưa thưa, có thể nhìn thấy từng chùm pháo sáng treo lơ lửng.


Rồi tất cả trống quang. Khu lòng chảo sân bay cũ hiện ra với tất cả vẻ huy hoàng rực rỡ của nó. Đèn pha rọi sáng choang. Những dảy nhà bạt, lô cốt bằng bao cát, xe tăng đậu vòng trong vòng ngoài, trực thăng chớp đèn xanh đỏ. Họ dừng lại ở bìa rừng. Một loạt pháo bay tới, kêu hú, nổ thành hàng trước mặt, lửa bựng lên. Đám trực thăng hoảng hốt vụt bay lên, đảo vòng quanh. Đám tăng bật đèn sáng chạy túa ra rừng. Súng liên thanh nổ từng tràng dài, vệt đạn thành những đường lửa cong cong.


Cả vùng lòng chảo sân bay đục ngầu khói bụi, trắng bệch ra dưới ánh pháo sáng. Quang cảnh mờ ảo, lộn xộn, kỳ quặc.


Vinh nhanh chóng tìm được một đường rãnh sâu tới gối, đường hào cũ hay đường nước chảy, kêu mọi người xuống núp, lấy giá ra đào, kêu ông Chín Nếp cùng đào, chiếc hào sâu tới bụng rồi tới ngực. Vinh đào không ngừng nghỉ, cảm giác đang trong đội hình chiến đấu, mồ hôi tuôn ướt đầm quần áo. Đất toàn sỏi đá, nhiều lúc phải dùng tay bươi từng viên một. Gặp những cục đá lớn, lưỡi giá chạm vào tóe lên những tia lửa nhỏ.


Pháo sáng dày đặc trên nền trời. Máy bay trinh sát tè tè bay ngang, từng dảy pháo sáng tuôn ra giăng treo lơ lửng, nổ lụp bụp, sáng bừng lên rồi tắt dần. Liền sau đó dảy khác lại hiện ra, những chiếc dù trắng nhỏ theo gió bay là đà, chao đảo, hạ dần xuống, rớt nằm xòa trên mặt cỏ, từng chập được gió thổi bùng lên lại là là bay tiếp.


Chỗ họ đứng là gò đất cao, có thể quan sát khu lòng chảo, nhìn thấy rõ các cở đạn pháo tập trung vào đó. Vinh biết lát nữa họ sẽ vượt qua đó, thoát khỏi vòng vây.


Vinh vừa đào vừa cố lắng nghe tiếng lựu đạn nổ ùng oàng trong các hầm ngầm, đoán hướng tiến quân của xung kích. Một tốp dù pháo sáng là là bay ngang, trôi về phía bên kia sân bay. Một loạt pháo kêu hú qua đầu, nổ bùng bên kia chi khu. Hai chiếc phản lực lướt tới đảo vòng, một loạt bom bi nổ vắt ngang bên kia rừng, lửa lớp chớp đỏ trời, tiếng nổ lụp bụp như cháy rừng. Loạt thứ hai thứ ba cũng ở bên kia rừng. Có vẻ bọn Mỹ đoán sai hướng tiến quân của xung kích. Vinh vẫn hối hả đào. “Hàm ếch” đã vừa chỗ người ngồi, anh kéo Thu Hà vào ngồi, ông Ba Quang ngồi kế bên. Cần phải đào thêm chỗ cho ông Chín Nếp. Bom bi vẫn nổ thành vành đai chung quanh khu trung tâm, tiếng súng bộ binh cũng bắt đầu dai dẳng, Vinh hình dung xung kích đang luồn sâu vào các đường hầm. Trận đánh có vẻ đang gặp khó khăn, không hứa hẹn chấm dứt trước khi trời sáng. “Lộ lưng” là điều sợ nhứt trong các trận đánh tập kích như thế này. Xung kích tiếp tục chạy vô, không thấy chạy trở ra. Trận đánh chỉ có một chiều, người sống người chết đều đi qua luôn.


Những chiếc dù pháo sáng càng lúc càng nhiều, đậu trắng cả một vùng trước mặt, là là theo gió bay tiếp từng đôi ba chiếc.


Vinh nhìn chăm chăm vào những chiếc dù, một ý nghĩ thoáng qua. Vinh nhớ lại một trận, không chứng kiến nhưng có nghe kể. Một tốp xung kích bị bao vây, đã núp trong những chiếc dù pháo sáng vượt qua trận địa, thoát ra ngoài. Vinh nhìn những chiếc dù, nhìn khoảng rộng trước mặt, ngẫm nghĩ. Từ đây tới bìa rừng, khoảng cách không xa lắm. Từng người chun trong những chiếc dù, vung vẫy hai tay như nó đang bay, từ từ đi qua. Không phải là hay lắm, nhưng hay hơn những gì có thể.


Không có gì cụ thể trong chuyện kể, Vinh phải hình dung ra thêm, quan sát, tính toán. Không thể không liều lĩnh trong tình hình này.


Hồi nhỏ ở quê một lần Vinh cởi con trâu nhà, bỗng nó nổi khùng xông vào con trâu nhà bên cạnh. Vinh còn nhỏ, tay chân chưa đủ dài bám vào lưng trâu, trong lúc hai con trâu điên khùng lao ầm ầm vào nhau. Nhảy xuống rất nguy hiểm, ngồi bám trên lưng trâu cũng không an toàn gì hơn. Nhưng không hiểu sao Vinh tin con trâu nhà sẽ thắng. Nó là con trâu của anh. Hằng ngày anh tắm rửa cho nó, dắt nó đi ăn. Tối đến anh đốt khói un cho nó, nó hiền từ mắt lim dim phả hơi thở nóng hổi vào mặt anh. Anh hiểu nó. Anh cứ bám riết, nhứt định nó sẽ đuổi con trâu kia đi. Anh hét lớn: “Chém nó đi! Chém nó đi!”. Con trâu dũng mãnh xông lên quơ sừng chém tới, con trâu nhà bên cạnh vùng vẫy một lúc cong lưng bỏ chạy.


Giờ đây anh cũng có lòng tin đó. Anh tin vào cánh đồng này, con hào này, bờ bụi những bờ đất những gò mối này. Tin vào vận may với những chiếc dù pháo sáng này. Đây là của trời cho, anh phải nắm lấy chúng, hành động dứt khoát, thừa lúc bọn Mỹ lơ đễnh nhứt.


Dù pháo sáng vẫn trôi tới, gió đưa về phía bên kia, mọi chuyện dường như đều may mắn, ít nhứt cho tới lúc này. Bom pháo đã ngớt, chỉ còn văng vẳng xa xa. Họ ngồi lên đường hào, cách xa nhau, không ai nói gì. Vinh không dám coi đồng hồ, anh biết trời sẽ rựng sáng bất cứ lúc nào. Tiếng súng bộ binh đã thưa hẳn, thỉnh thoảng vẳng lại chỗ này chỗ kia, xung kích đang tìm diệt những ổ đề kháng cuối cùng. Hoặc lạc lùng bùng trong đó. Hoặc cả hai. Thời gian trôi thật chậm. Khói bụi dày đặc, không thể nhìn xa hơn vài chục thước, cũng là điều may. Vinh căng mắt nhìn, như nghe có ai gọi, hoặc anh tưởng tượng ra. Dù pháo sáng nhiều đến nổi có thể thò tay ra vớ ngay một cái, mỏng tang nắm gọn trong lòng bàn tay. Có mấy trái pháo nổ gần Vinh khoát tay kêu mọi người nằm xuống, nhưng anh vẫn đứng, không bỏ lở cơ may gặp được người.


Trong lúc chán nản không còn hy vọng gì, chợt một anh chiến sĩ nhảy tọt xuống đường hào.


“Trận đánh kỳ cục quá! Chưa từng thấy!”. Anh chiến sĩ thở hào hển, kẹp sát khẩu súng, quay nhìn về hướng trận địa: “Có ai chạy ra đây không?”.


“Không”, Vinh đáp.


“Không ai hết hả?”.


“Nảy giờ tôi chỉ gặp mình anh”.


“Ôi trời đất ơi! Kỳ cục quá trời quá đất!”.


“Cái gì kỳ?”.


“Không có gì”, anh chiến sĩ như quên mất điều mình đang nói. “Thật ra cũng không có chuyện gì, trận này còn dễ hơn trận Bù-đốp. Bom không nhiều. Pháo cũng vậy. Chỉ ngặt nổi các đường ngầm sao mà chằng chịt. Rồi lại thằng đại liên mắc dịch nữa”.


“Thằng đại liên nào?”.


“Nó ở trong lô-cốt kia kìa”, anh chiến sĩ đưa chỉ bâng quơ trước mặt. “Chút nữa đánh lên anh sẽ biết. Tụi này tọng vô đó không biết bao nhiêu lựu đạn thủ pháo, nó vẫn cứ lẹt đẹt, như ma quỉ vậy”.


“Tiểu đội anh đâu hết rồi?”.


“Chết hết rồi. Đường hầm ngầm chằng chịt. Tụi này chun xuống đánh một hồi lạc nhau, tôi tìm được một miệng hầm ngầm trồi lên không thấy ai. Thằng Mỹ đến đây từ hồi nào đào hầm ngầm nhiều vậy?”.


“Lạc nhau chưa chắc đã chết, anh trở vô tìm đi”.


“Tôi sẽ trở vô. Nhưng nghỉ chút đã. Anh vô với tôi không?”.


“Không…”.


“Sao không?”. Anh chiến sĩ nhìn thấy Thu Hà, nói tiếp: “Bị kẹt đống nợ này hả? Được rồi, tôi trở vô một mình. Anh còn thuốc không? Thôi tôi đi đây!”.


Anh chiến sĩ nhìn mọi người. Vinh hiểu cái nhìn ấy. Đó là giây phút nắm nuối, một chút nghỉ ngơi, giữa sự sống và cái chết, giữa ngắn ngủi và vô tận. Vinh quay đi, nghe bước chân anh chiến sĩ bước lên đường hào, viên sỏi lăn rào xuống rãnh. Rồi tiếng chân nặng nề chạy đi, mất hút vào vùng khói bụi trước mặt.


Trận địa càng thêm đục ngầu, đặc quánh, tiếng súng không thoát ra được, lục bục trong đó. Mặt đất rung giật từng cơn, tắt lịm đi trong tiếng gầm gào bốn bên rừng núi dội vào.


Lại một chiến sĩ nhảy tọt xuống đường hào:


“Có ai chạy ra đây không?”.


“Có một người”.


“Thằng Hùng hả?”.


“Không biết”.


“Nó còn sống hả?”.


“Anh ấy vừa chạy trở vô”.


“Được rồi. Vậy là còn được một thằng. Có thằng Hùng bắn che cũng đở. Nó lẹ tay lắm. Tụi tôi phải diệt thằng đại liên ác nghiệt kia”.


“Tôi biết rồi”.


“Anh ở ngoài này làm sao biết được?”.


“Tôi nghe kể”.


“Nghe kể cũng không biết. Làm sao biết được hầm ngầm chằng chịt như thế nào, thằng đại liên ác nghiệt ra sao. Ôi trời đất ơi, đánh giặc sao lúc nào cũng hết hơi hết sức như vầy. Anh ra ngoài nói với ban chỉ huy có gặp tôi ở đây. Nói tôi nghỉ chút rồi chạy trở vô. Mà thôi tôi vô liền đây. Đâu phải tôi dự trận đầu, trận Bù-đốp còn khó gấp mấy như vầy”.


Lặng thinh một lúc, Vinh quay lại anh chiến sĩ đã biến mất. Từ trận địa bay ra một làn khói nồng nặc mùi thuốc súng.


Vinh đón ngọn gió kéo bốn tấm dù xuống đường hào.


Vinh phổ biến kế hoạch đi băng qua trận địa. Đi từng người một, cách khoảng nhau, nhằm đợt ngưng tiếng súng. Mỗi người vung vẫy trong tấm dù pháo sáng đi lần tới, làm động tác như nó đang bay là là trên mặt đất. Nhắm ngọn đồi bên kia chạy băng qua. Anh chiến sĩ nói dưới chân ngọn đồi có con đường xe bò, cứ theo đó đi tới, không phải đợi người đi sau.


“Còn trực thăng?”, ông Ba Quang hỏi.


“Tôi sẽ bắn dụ nó. Chú Chín đi trước đi”.


“Cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa từng đi một mình như vầy”, ông Chín Nếp rên rỉ, loay hoay trùm tấm dù lên người. “Như xông ra trận địa rồi còn gì. Lại không có súng! Tôi không sợ chết nhưng không muốn chết lẻ loi đơn độc, không nhìn thấy ai, không có ai nói chuyện…”.


“Để tôi đưa ông đi một đoạn”, Vinh nói. “Chạy giặc chớ đi ăn giỗ hay sao đòi đông vui?”.


Vinh sửa lại tấm dù cho ông Chín Nếp, chun thử vào trong, nhìn đôi mắt tròn xoe của ông trong bóng tối.


“Ta đi đi”, Vinh nói.


“Ừ mình đi đi”, ông Chín Nếp lúng búng trong tấm dù.


Vinh ghìm súng chạy lên trước, ông Chín Nếp vung vẫy tấm dù chạy theo sau. Khẩu đại liên đã im tiếng từ lâu, đám trực thăng cũng không thấy xuất hiện. Mặt đất phẳng và cứng, có nhiều chỗ như tráng xi-măng, dấu vết đường băng sân bay hồi chiến tranh chống Pháp. Hai người đi nhẹ nhàng trong cảnh im lặng đáng sợ. Qua một bãi cỏ lúp xúp, một đường băng rồi một đường băng nữa. Ông Chín Nếp đi như bơi trong tấm dù, đầu thò hẳn ra ngoài, hai mắt tròn xoe ngơ ngác. Họ đi được chừng hai trăm thước. Phía trước vẫn mù mịt, có lẻ sân bay rộng hơn anh xung kích chỉ dẫn. Nhưng rồi cái bờ đất cũng hiện ra, lờ mờ trong ánh pháo sáng. Vinh mừng rỡ:


“Giờ ông đi một mình được rồi. Đi cặp theo bờ đất này. Tôi trở lại rước mấy người kia”.


“Mình gặp nhau không?”, ông Chín Nếp hỏi.


“Cứ đi đi đã”.


“Cầu trời phật phù hộ mọi người!”.


Ông Chín Nếp bước thấp bước cao, vung vẫy chiếc dù một cách vụng về, bên cạnh chiếc dù “thật” bay là là trước mặt. Một loạt pháo kêu hú, nổ chát chúa trên đầu. Ông Chín Nếp mất hút trong đám khói bụi. Rồi lại thấy ông hiện ra, chiếc dù vung vẫy bay alf đà trên mặt đất.


Vinh trở lại chỗ ông Ba Quang:


“Ông đi một mình được không?”.


“Được”.


“Có cần tôi đưa đi một đoạn không?”.


“Khỏi”.


“Thấy ngọn đồi bên kia không?”.


“Thấy rồi”.


“Đi đi. Ông nằm xuống không đứng dậy nổi đâu”.


“Tôi là bác sĩ mà, anhđừng lo”. Ông Ba Quang cố leo lên bờ hào, quay lại đưa Vinh miếng giấy xếp tư: “Anh cất cái này”.


“Cái gì vậy?”.


“Thư tôi viết gởi đơn vị báo chuyện anh đào ngũ. Nhưng tôi quên số hòm thư. Anh về đưa thẳng ban chỉ huy, hoặc không đưa cũng được”.


Vinh cầm miếng giấy, không biết cất vào đâu. Ông Ba Quang nói tiếp:


“Cám ơn anh đưa tụi tôi tới đây. Anh chỉ huy khá lắm. Nhưng làm người lính không ra gì! Ai lại bỏ ngũ trong lúc này?”.


Có tiếng trực thăng. Vinh nhìn quanh tìm kiếm, quay lại không thấy ông Ba Quang đâu nữa.


Thu Hà đến bên Vinh, người hơi run nhẹ:


“Mình đi hả anh?”.


Vinh nắm tay Thu Hà, đảo mắt tìm chiếc trực thăng:


“Ừ mình đi… Nhưng đợi một chút… Em đừng sợ…”.


“Em không sợ”.


Thu Hà càng run dữ. Vinh dìu Thu Hà lên đường hào đứng nhìn bao quát, giủ chiếc dù trùm lên người cô. Anh chỉ chun ghé vào một góc, nửa người để bên ngoài, để dễ bề thao tác khẩu súng, cầm chúc nòng, hai băng đạn cột cặp đôi, hơi vướng một chút nhưng có thể nhanh chóng thay băng. Anh thử xoay người qua lại, chiếc giá Mỹ cũng cột thật chặt, tất cả đều gọn gàng. Họ bắt đầu đi. Pháo nổ rời rạc, xa xa bên kia mí rừng. Khẩu đại liên bắt đầu nhả đạn từng chập, xoay về hướng khác. Thu Hà đi lao chao, người run rẩy.  Khẩu đại liên bỗng đổi hướng nổ một loạt chát chúa, đạn ghim lúi chúi vào mô đất trước mặt. Thu Hà té quị xuống. Vinh vội dìu cô đứng dậy quát:


“Chạy đi! Nó bắn vu vơ không thấy mình đâu”.


“Em sợ lắm”, Thu Hà rên rỉ.


“Đừng sợ! Thở mạnh vô!”.


“Em không thở được”.


“Nghe anh nói nè”, Vinh kéo Thu Hà, xoay nhìn vào tận mặt: “Mình đi được tới đây rồi, phải rán thêm chút nữa. Bìa rừng kia kìa, qua đó là thoát. Em nghe anh không?”.


“Em nghe… “.


Vinh lôi Thu Hà chạy đi. Mặt đất lởm chởm đá. Họ băng qua đám cỏ trên đường băng, bờ đất vẫn không thấy đâu, như nó lặn mất, hay Vinh đi sai hướng. Khẩu đại liên vẫn bắn tới, từ khá xa, không hiểu sao đường đạn thấp được như vậy.


Mải theo dõi khẩu đại liên Vinh không thấy hai chiếc trực thăng lên tới.


Đó là hai chiếc “cá lẹp” mỏng dính, chiếc trước chiếc sau hiện ra từ sau ngọn đồi, vụt sà thấp, Vinh nâng súng lên nhưng chúng đã bay qua khỏi, đảo vòng rộng nhắm hướng sà xuống nữa. Chúng có nhìn thấy gì không? Có nghi ngờ chiếc dù của hai người không? Vinh thấy lạnh toát sống lưng, níu lấy bất cứ chỗ nào trong người Thu Hà lôi chạy đi, cái bờ đất bây giờ là vật thiêng cứu mạng sống hai người. Nhưng cái bờ đất vẫn bặt tăm, trong lúc hai chiếc trực thăng lại sà xuống, và lần này xả súng bắn. Vinh chỉ kịp nhìn thấy đường bay chiếc trực thăng chúi xuống, nòng khẩu đại liên chỉa thẳng. Vinh lôi Thu Hà nhào qua một bên, vừa lúc đường đạn rạch một đường dài tóe lửa. Chiếc thứ hai sà tới liền sau đó. Vinh kéo Thu Hà nhào qua một đống đen xì tưởng là gò nổng, hóa ra chỉ là một bụi cỏ, đường đạn tiếp theo cũng rạch sát cạnh bên.


Vậy là chúng nhìn thấy họ thật rồi. Khó trụ lại bắn, cũng không thể bỏ chạy. Thu Hà mềm nhũn trong tay Vinh, mọi chuyện anh phải tự tính lấy. Chung quanh vẫn không thấy có hầm hố gò nổng, trống lơ trống lốc. Hai chiếc trực thăng đang đảo vòng rộng, định hướng chúi xuống nữa. Mọi quyết định phải thật nhanh, chỉ trong vài giây.


Vinh nói:


“Em đi một mình nghen Hà?”.


“Anh bỏ em sao?”.


“Anh không bỏ. Anh bắn dụ chúng ra xa, lấy đường cho em đi”.


“Chúng bắn chết anh thôi”.


“Không thì chết hết. Em đi một mình được mà, đúng không? Bờ đất kia kìa! Em đi đi… Không còn thì giờ đâu… Đi lẹ đi… Về nhà học múa…”.


Vinh xô Thu Hà ra. Cô quay nhìn anh, khuôn mặt tái xanh đẫm nước mắt. Đó là hình ảnh cuối cùng.  Anh tốc chạy tạt ngang, hơi chếch hướng ngược lại, bao ý nghĩ chật cứng trong đầu. Rồi tan biến hết. Việc duy nhứt trong đầu là phải tìm cái gì đó bám lại, không thể để hai chiếc trực thăng bắn xuống anh không kịp bắn trả. Anh vừa chạy vừa đưa mắt tìm kiếm. Một vệt đen xa xa, như xác một chiếc tăng, anh đã nhìn thấy lúc đưa ông Chín Nếp đi qua. Giờ đây nó là vật cứu tinh. Anh chạy riết lại đó, ước lượng khó kịp trước khi hai chiếc trực thăng bay tới. Còn phải chịu một đoạn phơi lưng cho nó bắn. Anh tính toán độ chúi xuống của nó. Vừa thấy cái đầu dẹp hiện ra lồ lộ, anh liền nằm xuống lăn mấy vòng, nhằm vào chiếc bụng lép kẹp chớp đèn xanh đỏ giương súng bóp cò. Tiếng nổ nghe rất nhỏ, cùng lúc đường đạn nổ rạch một đường dài sát bên. Chiếc thứ hai anh cũng nhằm bắn như vậy, và tốc chạy đi. Nhưng xác chiếc tăng không thấy đâu, anh sợ đến điếng người quờ quạng tìm kiếm, lơ láo như người mất phương hướng. Nhưng đây rồi nó ở sát cạnh bên, anh mừng rỡ nhào tới bám lấy nó như người đồng hành thân thiết.


Chiếc tăng loại M113, cháy gần rụi cả, chắc bị nguyên trái B40. Cả một đống thép bị đốt chảy quặn quẹo thành hình thù kỳ dị, nhiều chỗ bị cháy ruỗng bên trong, cỏ mọc luồng trong đó. Anh nép người vào bên hông chiếc tăng, tì súng vào bệ sắt lạnh ngắt, chờ hai chiếc trực thăng bay tới. Chúng đây rồi, vẫn bay xắn xả, chiếc bụng lép kẹp chớp đèn xanh đỏ. Anh định bắn ngay khi chúng sà xuống, nhưng bất ngờ chúng lách ngang, đảo vòng theo hướng khác. Đùa giởn như mèo vờn chuột chăng? Anh nhanh chóng đổi hướng núp, đón chúng trở lại. Lần này hoàn toàn chính xác, thật cương quyết, anh nổ liền mấy phát vào chiếc đầu tròn vo của nó. Khẩu súng tóe lửa, run thật nhẹ, anh biết mình đã bắn trúng. Và gần như cùng lúc, loạt đạn xé gió bay xuống, anh thấy mình bị hất ngược ra sau, đùi chân trái nóng buốt như bị lửa đốt. Anh biết mình đã bị thương.


Thật không may bị thương sớm như thế này. Xác chiếc trực thăng không phải là một chỗ núp lý tưởng, nhiều chỗ rổng bên dưới, một viên đạn đã chun qua đó. Đành vậy thôi, không thể mong mọi chuyện đều tốt đẹp được. Anh nhanh chong lấy băng ra băng vết thương, nắn bóp, đứng dậy đi thử coi có bị gảy xương không, tì một chân lên bệ chiếc tăng, đưa mắt tìm hướng bay trở lại của hai chiếc trực thăng. Chúng vẫn bay xắn xả, mấy viên đạn của Vinh không làm chúng hề hấn gì. Vinh trông rõ hai chiếc càng của chúng sà thấp, tưởng chúng đâm sầm vào xác chiếc tăng. Anh bắn liền ba phát, cùng lúc loạt đạn bay xuống, dội vào tóe lửa bên kia chiếc tăng. Lần này đôi bên không hề hấn gì. Hai chiếc trực thăng bay lên, Vinh cũng không bị thương.


Vết thương rỉ máu, ấm nóng trong lần băng. Vinh cố không động đậy để máu đủ thời gian đông lại. Hai lần tiếp theo Vinh ngồi yên mặc cho chúng bắn, tìm chỗ núp kỷ, tránh những khe hở mục ruỗng loạt đạn có thể luồn qua. Lần kế tiếp, để chúng biết anh vẫn còn sống, bằng một chân anh vụt đứng dậy thật mau, bắn ngay vào chiếc trực thăng vừa trờ tới, gần như không nhắm. Mấy viên đạn đã chạm đích, đầu chiếc trực thăng tóe lửa, cùng lúc loạt đạn bay xuống. Anh không trúng đạn nhưng tối tăm mặt mày. Có lẻ do vết thương bị chấn động. Anh đưa tay xoa mặt lẩm bẩm: “Phải bình tĩnh! Thật bình tĩnh!”, cố chịu đựng cơn choáng qua đi. Chúng biết rõ anh ở đây, né tránh đường đạn bắn lên của anh, do đó khó bề nhắm trúng anh. Đợt kế tiếp anh cũng bắn y như vậy. Nhưng trong băng chỉ còn một viên, phát đạn lẻ loi mất hút vào khoảng không. Chỉ mất mấy giây anh tháo hai băng đạn cặp đôi, quay lộn đầu lắp trở lại. Anh lại bắn. Có cảm giác hai chiếc trực thăng đứng nguyên trên đầu bắn xuống, anh đứng xổng lưng bắn lên. Xác chiếc tăng dội lên từng cơn dưới những loạt đạn kéo dài. Nhiều lúc tưởng chừng xác chiếc trăng xê dịch, đi hoặc bốc cháy một lần nữa. Không còn nhớ hai chiếc trực thăng đảo vòng bao nhiêu lần bắn xuống. Và bao nhiêu lần anh bắn lên. Đầu óc lùng bùng điếc đặc, anh không nghĩ tới bất cứ chuyện gì khác. Chúng đến là anh bắn, theo dõi kỷ đường sà xuống của chúng để đoán biết đường đạn né tránh, nhắm ngay vào đầu, nơi có nòng khẩu liên thanh chỉa xuống.


Không biết từ lúc nào anh ngất đi. Anh tỉnh lại trời đã sáng, nhìn thấy rõ một vùng rộng chung quanh, chi khu tụi Mỹ đen xì xa xa. Kế đó là mí rừng lờ mờ trong màn sương. Hai chiếc trực thăng đã bay đi mất. Chúng tưởng anh đã chết. Hoặc chúng hết đạn, đang trở về thay ca. Không sao cả. Chúng trở lại là anh bắn, anh còn đạn rời trong ba lô. Số phận anh đã gắn chặt với chúng, chính anh dụ chúng ra đây. Giờ đây với một chân bị thương, trời đã sáng rõ như thế này, anh chẳng còn đi đâu làm gì được. Anh ngồi duỗi chân ra, kéo tấm dù che nửa người. Đột nhiên cơn khát nổi lên thật ghê gớm, bi-đông nước còn lưng nửa, anh nhìn chăm chăm không dám đụng tới. Có cảm giác vết thương vẫn đang rỉ máu. Ngồi một chỗ như vầy cơn choáng sẽ dễ kéo tới, nhưng không còn cách nào khác. Bìa rừng đã hiện rõ, xác chiếc tăng nằm trơ trọi giữa bốn bề trống trơn của sân bay. Hai chiếc trực thăng vẫn không thấy trở lại. Băng đạn thứ hai chỉ còn một ít, anh lấy đạn rời trong ba lô lắp vào, cột hai chiếc băng ngược đầu nhau như cũ. Số đạn rời còn lại cột vào thắt lưng. Tất cả đã gọn gàng, mọi động tác đều thuận lợi. Có lẻ không cần thiết phải bắn hai chiếc trực thăng, mặc chúng bắn bao nhiêu thì bắn. Với xác chiếc tăng và kinh nghiệm nảy giờ anh có được, anh có thể tránh né, thỉnh thoảng bắn vài viên chứng tỏ anh vẫn còn sống.


Cái anh sợ là đám bộ binh từ trong chi khu kéo ra. Nảy giờ chúng đã thấy hết rồi, chưa động đậy là do không muốn giành quyền với đám trực thăng. Với số đạn còn lại, mọi việc suôn sẻ, anh có thể cầm cự với đám bộ binh vài ba tiếng đồng hồ. Chỉ tính tới đó thôi, từng lúc một, dồn sức cho từng khoảng thời gian ngắn. Phải bắn thật tiết kiệm đạn, từng phát một, nhắm thật kỷ, đợi chúng đến thật gần mới bắn. Và quan trọng là không được để ngất đi. “Tụi bây cứ ra đi. Với địa hình trống trải như vầy, tao có thể bắn xỏ xâu hai đứa một lượt. Để tụi bây biết không may mắn hơn những đứa khác”. Anh nói vui, hay tưởng mình đang nói như thế. Thật sự anh thấy khát nước đến cháy cổ, chóng mặt, chân bị thương bắt đầu tê dại. Phải tìm chuyện gì để nghĩ, hoặc nói lảm nhảm. Hảy nhớ đến một trận đánh, hình dung mọi diễn tiến để khuây khỏa.


Nhưng Vinh không thể nhớ được một trận cụ thể nào. Các trận đánh nối tiếp nhau, hết trận này tới trận khác, những gian khổ hiểm nguy chồng chất, xong trận rồi chỉ lo nghỉ quân, đi tải gạo, bổ sung đạn dược, lo trận sắp tới. Mọi chuyện tiếp nối ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.


Nhưng có một chuyện Vinh nhớ mãi. Hôm đó sau trận đánh, trời sáng ra, Vinh dẫn một tốp thương binh. Bỗng nghe tiếng nói: “Anh Vinh ơi, con mắt tôi lòi lòng thòng ra ngoài. Tôi rứt bỏ nghen?”. Chưa dứt lời, Vinh cũng chưa kịp hiểu ra sao, đã nghe tiếng “rẹt” bên vệ đường. Chiếc tròng mắt đã bị rứt ra quăng lên lá khô! Chắc là như vậy. Nhiều năm sau Vinh vẫn còn nhớ chuyện đó, âm thanh “rẹt” đó, còn thấy giật thót tim.


Nhiều chuyện như vậy khiến Vinh thấy “thấm đòn”, nhiều lúc mệt rả rời, muốn nghỉ ngơi một chút. Đó có phải là giây phút “yếu lòng” như người ta thường nói không? Có phải do vậy Vinh muốn về quê nghỉ ít ngày, như chuyện xảy ra hôm trước trận càn không?


Hai chiếc trực thăng chắc đã “chán” anh. Càng hay, anh có thì giờ dọn dẹp chỗ ngồi, lựa thế quan sát, ngắm bắn. Nắng đã lên cao, cảnh vắng lặng khiến Vinh sa vào cơn buồn ngủ. Nhiều lúc anh tưởng mình đang ở nhà, giọng ba anh sang sảng: “Đây là nhà của ta, giòng họ của ta…”. Vinh cố chống chọi với cơn mê, choàng tỉnh dậy.


Không phải tiếng ba anh mà là tiếng ồn ào của đám lính Mỹ. Chừng năm bảy tên Mỹ từ trong chi khu đi ra, nhằm xác chiếc tăng đi tới, súng lăm lăm trong tay. Một tên giương súng lên, một loạt đạn nổ chát chúa. Rồi một loạt nữa, đạn vả loảng xoảng vào thành chiếc tăng. Vinh ngồi thu người lại. Chúng còn xa lắm, chừng vài trăm thước, trông xa dưới ánh nắng chỉ là những bóng đen nhảy múa. Hảy đợi chúng đến thật gần, cách vài ba chục thước. Vinh ghìm súng chờ đợi. Đám lính Mỹ nổ vài loạt đạn nữa. Rồi như hoang mang với chính những loạt đạn của mình, chúng đứng lại nhìn nhau, rồi quay trở vào trong.


Hai chiếc trực thăng bỗng xuất hiện phóng liền hai trái hỏa tiễn. Rồi bay đi, như lấy làm vui, không cần biết anh còn đó không, còn sống hay đã chết. Hai trái hỏa tiễn không trúng đích, nhưng sức nóng của chúng thật khủng khiếp, xác chiếc tăng nóng rực, Vinh tưởng mình cũng đang bốc cháy.


Vinh uống một ngụm nước càng thêm khát, đóng nắp chiếc bi đông lại một cách cương quyết. Rồi lấy gạo rang ra nhai, đổi thế ngồi để chống lại cơn buồn ngủ. Mặt trời đã lên đỉnh đầu. Vết thương vẫn đang rỉ máu, thấm ướt chỗ ngồi, thấm sâu vào lòng đất. Xác chiếc tăng vẫn nóng rực. Vinh thấy người khô dần. Vệt đen chi khu lung linh nhảy múa. Ven cây khi mờ khi tỏ. Cảnh yên ắng, như mọi chuyện xảy ra lâu lắm rồi. Hoặc không hề xảy ra. Đây là nơi cùng trời cuối đất, không còn ai, không có việc gì làm ở đây.


Hay bọn Mỹ biết tình cảnh của anh, không phí công với người sắp chết? Anh không gượng được nữa, lịm đi, đầu ngã gật về phía sau. Một thanh sắt đâm trúng ót làm anh bừng tỉnh, thấy có những bóng đen lù mù trước mắt. Đó là đám lính Mỹ đang lò dò đi đến.


Vẫn toán hồi nảy, chắc vậy, đi thành hàng thật chậm. Còn cách khá xa. Nhưng cũng thấy được tên lớn con đi đầu, cúi lom khom, chiếc nón sắt với hai bên quai để lòng thòng. Tên đi kế cũng thật lớn, đi năm bảy bước dừng lại bàn tán. Rồi đi tiếp, xác chiếc tăng có ma lực cuốn hút lấy chúng. Vinh cũng trở nên tỉnh táo lạ thường, tì khẩu súng vào một thanh chắn, nhằm tên lính lớn con đi đầu, hình ảnh nó hiện nguyên trên đầu ruồi. Khoảng cách chừng ba chục thước, hoặc gần hơn. Anh như không thở được nữa. Anh đợi gần hơn nữa, chừng hai chục thước. Tên Mỹ lớn con vẫn đi lom khom, khẩu súng AR15 chỉa thẳng. Một loạt đạn nổ phía Vinh, rồi một loạt nữa. Đám Mỹ vẫn lừng lửng đi tới, vẫn tên lớn con đi đầu. Trước mặt tên Mỹ có một bụi cỏ. Vinh quyết định bắn khi tên Mỹ bước qua bụi cỏ đó. Ngón tay tì nhẹ cò súng. Còn hơn thước nữa. Đúng lúc tên Mỹ bước qua bụi cỏ, Vinh bóp cò súng. Nhưng trước đó tên Mỹ đã cúi xuống, phát đạn bay vô ích vào trong khoảng không.


Tức thì mọi chuyện lộn lộn lên hết. Phát đạn của Vinh cho tụi Mỹ thấy điều chúng nghi ngờ là đúng: Vinh vẫn còn sống, còn có thể chống trả, dù chỉ một mình với xác chiếc tăng. Toán lính Mỹ nằm rạp xuống la hét, bắn xối xả vào Vinh, đạn vã vào thành chiếc tăng loảng xoảng chói tai. Vinh ghìm súng chịu đựng. Sau đó tụi Mỹ lùi ra chụm đầu bàn tính. Kêu máy bay? Hay pháo dập? Dù gì chúng cũng bị phát đạn cột chặt với anh, không thể bỏ đi. Anh nhìn chúng không chớp mắt. Nhưng không hiểu sao lại nghĩ đến đoàn người đang đi: Thu Hà, ông Chín Nếp, ông Ba Quang. Đội hình đang kéo dài ra, đoạn cuối khó khăn chính là anh, đang ngồi đây với xác chiếc tăng, đối diện với bọn Mỹ. Anh nhìn đám Mỹ kỷ hơn. Chúng nói gì, đang cười cợt gì anh? Anh nằm chết dí ở đây, nhưng chúng cũng không tiến được bước nào. Từ lúc nào anh lại thấy mình đang mê…


Anh tỉnh dậy thấy có gì nóng rực táp vào mặt. “A, chúng dùng súng phun lửa!”, anh la lên, hay tưởng mình la lên như thế. Anh đứng phắt dậy không giữ gìn gì cả, nổ liền mấy phát vào một bóng đen hiện ra lờ mơ sau màn lửa. “Phải bắn đẩy chúng ra, không chúng sẽ đốt mình thành than”. Anh nghĩ tiếp, hay đang nói lớn lên. Đầu óc anh giờ lộn xộn rối rắm, không còn có thể suy nghĩ rạch ròi, mạch lạc. Cả người anh như đang bốc cháy. Tóc và quần áo cũng cháy, ruột gan như lộn ra ngoài. Nhưng anh vẫn còn nghe được tiếng súng nổ mỗi khi anh bóp cò súng, cảm thấy báng súng run giật dội vào vai. Cứ thế anh bắn đều đặn từng ba viên một, nhằm vào những bóng đen gần nhứt. Mặc cho chúng la hét chửi rủa, những lằng lửa dài ngoằn táp tới, luồn vào các khe hở xác chiếc tăng, tiếp tục đốt cháy cơ thể anh. Anh biết tụi Mỹ vẫn chưa dám xáp lại gần, sợ “trái lựu đạn cưa đôi” của anh, khi chúng dồn anh vào đường cùng như thế này. Nhưng sẽ không có trái lựu đạn cưa đôi nào cả. Anh vẫn bắn cầm chừng, để chúng biết cái chết luôn treo trên đầu chúng. Và như được động viên bởi những ý nghĩ của mình, anh đứng xổng dậy nổ liền mấy phát vào một tên Mỹ liều lĩnh xông tới. Anh thấy chiếc nón sắt của nó bị văng hất ngược ra sau, nó trợn mắt nhìn anh, như lấy làm ngạc nhiên, rồi ngã ngửa ra, biến mất trong một ngọn lửa đang trườn tới...


Không biết thời gian trôi đi như thế nào, anh còn bao nhiêu đạn, toán lính Mỹ nhiều ít ra sao. Chỉ nghe tiếng chân chúng chạy loạn xạ, tiếng lửa cháy. Anh vẫn bắn chẫm rãi từng ba viên, trong lúc lửa vẫn không ngừng táp tới. Anh biết mình đang bị đốt cháy tới lóng xương cuối cùng, sắp bị cháy tan ra. Rất lâu sau đó, bằng cả năm, bằng cả đời người, anh bị một bóng đen phủ trùm lên, chìm lỉm trong vùng tối đen sâu thẳm, không có chỗ nào là tận cùng...


Anh chết rồi chăng? Anh thấy người nhẹ hẫng có thể bay lượn, trong đầu vẫn còn chút gì đó le lói. Xung quanh trở lại yên ắng. Bọn Mỹ chết hết hay đã bỏ đi? Anh không còn cử động được nữa. Khẩu súng vẫn còn đặt ngay ngắn trên bệ chắn. Thật dễ chịu biết chừng nào, được nghỉ ngơi như thế này. Đã xong công việc rồi, tay chân duỗi dài đầu óc bay lượn. Anh nhớ về những ngày thơ ấu, những buổi thả bè trên sông, cởi trâu trên đồng. Cảm giác về những rung động đầu đời. Nhìn thấy các cô gái tắm ngoài bưng, cơ thể để trần dập dềnh trên sóng, mặt nước chói chang ánh nắng, các cô đùa giởn té nước vào nhau. Anh đứng xa tít trong làng nhìn ra, lòng nghẹn thắt vì đau đớn và hân hoan…


 


***


 


Có tiếng người lào xào chung quanh. Loáng thoáng những bóng người đi qua lại. Những cánh tay dìu anh lên  một chiếc cáng, giọng nói khi xa khi gần:


“Thấy hai chiếc trực thăng quần đảo, tao biết ngay, thế nào cũng có anh em mình bị nạn…”.


“Hai thằng trực thăng bắn mới ghê chớ”.


“Mình đi tải gạo có biết gì đâu… May chạy ra còn kịp…”.


“Anh ấy mở mắt kìa! Chắc anh ấy muốn nói gì. Anh muốn nói gì?”.


“Thôi để anh ấy nghỉ. Ôi chúng bắn ghê quá, đốt cháy như vầy còn sống làm sao được


Anh thấy mình lắc lư, biết đang được cáng đi. Trời đầy sao, hơi lạnh sương đêm thấm vào da thịt. Anh thấy mình có thể nói được, nhưng muốn im lặng để nghe tiếng động chung quanh. Không thấy đau đớn gì cả, thấy người nhẹ tênh.


Từng chập họ đi vượt lên những tốp người. Mọi người chào hỏi nhau. Chiếc võng lắc lư nhịp nhàng, như sóng vỗ. Qua kẻ lá nhìn thấy sao trời. Thật yên bình! Không mong gì hơn được mãi như thế này.


Lại có tốp người đi ngược chiều, tiếng chào hỏi, anh giật mình lắng nghe, hay tưởng như mình đang lắng nghe.


“Có phải anh ấy đây không? Có người đi trước nói anh ấy ở lại chiến đấu…”.


“Có một cô văn công đẹp lắm, nghe nói múa ba-lê, như bay như lượn… Có ai coi múa ba-lê bao giờ chưa?”.


“Chưa. Không ai ở đây coi múa ba-lê cả”.


Anh cũng chưa từng coi múa ba-lê. Nhưng có thể hình dung ra được. Thu Hà của anh, ở xa tít đằng kia của thời gian, đang nhẹ nhàng múa, như bay như lượn. Anh cũng vậy, biết mình đang sắp bay thật cao, thật xa…


 1994 – 2010


Nguồn: Con đường xuyên rừng. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. NXB Văn học, 2012. www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »