tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
24.09.2012
Nguyễn Xuân Khánh
Trư cuồng

 Sư Vô Trụ đột nhiên mở mắt. Phiêu Diêu Tử hỏi:


- Ông thấy sao?


- Kẻ đi đến nửa đường là kẻ trần tục. Kẻ đi cho đến cùng đường sẽ nhìn thấy Phật.


        Cả hai nhìn nhau và bỗng cười ha hả. Rồi mỗi người một vò rượu, họ uống cho đến quay cuồng vũ trụ.


 


 


 


Ngày… tháng… 


 


        Sức mạnh của con lợn Bò - vét - đĩa là ăn. Nó ăn sáng, ăn trưa, ăn ngày, ăn đêm, ăn bất cứ lúc nào, miễn là trong máng có thức ăn. Nó lại có thể ăn rất tạp: ngon cũng ăn, dở cũng ăn, thậm chí thiu thối cũng ăn. Nó ăn bèo đã đành, đằng này nó lại dám ăn sống cả cỏ hôi, cả lá cúc tần hắc sì, lá ổi chát lẹt, lá rau sam chua lè … Nó ăn bã đậu, bã ma di, chén tươi cả loại bã rượu nhà máy là thứ bã hầu như đã kiệt chất. Nó ăn quá phàm, quá tích cực, quá hối hả, quá kỳ dị như một thứ quỉ đói… Có lúc vừa mới ăn xong được mươi phút, đã thấy nó chồm chân lên dóng tre, gào rú. Tôi thử lấy một chậu nước gạo, rồi thái một rổ bèo sống, đổ vào máng, thế mà con quái chỉ nhồm nhoàm và hút chùn chụt một loáng đã sạch bay. Tôi đâm ra ngẫm nghĩ và e sợ vì không hiểu đằng sau cái dáng ăn quái quỉ ấy có ẩn tàng một điều gì khác lạ không.


        Nhưng rồi tôi lại yên tâm vì thấy con lợn vẫn bình thường, tức là nó vẫn lớn một cách tỷ lệ thuận với số lượng thức ăn nó đã ngốn.Sau cái yên tâm là sự phấn khởi bởi vì nó lớn rất nhanh, có thể nói tốc độ lớn phi thường. Khi mới về, nó còn bé hơn cả ba con ỉn, so với con ỉn út còn bị lút số; thế mà chỉ qua một tháng, nó đã vạm vỡ, to hơn hẳn cả con ỉn đầu đàn. Tuy to xác, nhưng nó vẫn ngờ nghệch. Mặc dù vậy, với cái thể xác mới của nó, bầy ỉn đã có phần vì nể lợn Bò. Mới về, nó nằm trong xó bẩn, nửa tháng sau, nó nằm dưới chân bầy ỉn, còn bây giờ nó đã dám chen rúc lẫn cùng bầy ỉn, tuy đôi lúc vẫn bị bầy ỉn sua đuổi, chèn ép, nhưng không dám chống lại.


 


 


Ngày… tháng…


 


       Hôm nay cho lợn ăn, tay tôi quệt phải đinh, chảy máu. Tôi chợt nhớ tới một ý của Tám trong ”Bách Khoa Lợn“. Tôi tinh nghịch, bèn vắt cho máu tay chảy vào máng thức ăn. Kỳ dị chưa! Bầy lợn ăn sốc hẳn lên; chúng tranh nhau ăn như điên rồ. mõm lợn vỗ vào máng tồm tộp với một nhịp điệu quá hối hả. Phải chăng câu nói: ”Lợn thích ăn thịt người” là đúng?


 


 


Ngày… tháng…


 


        Hết cám. Dầu hoả lại đắt. Tôi đem bán một tháng phiếu dầu gia đình để mua cám lợn. bà vợ tôi kêu la ầm ĩ:


- Tôi van ông. Lợn với chả bò! Chẳng ăn thua gì đâu!


- Nào! Nào! Cô cứ yên chí.


- Tôi không thể yên chí được. Lợn của anh đã ăn hết cái quần si ba ta của con, bây giờ nó lại nhai đến phiếu dầu. Không khéo mai kia, nó sẽ ăn thịt nốt đàn con của tôi cũng không chừng.


        Tôi chợt bặt lặng, không dám cãi lại vợ nữa. Ừ! Phải chăng lời tiên tri? Tại sao vợ tôi có thể nghĩ rằng lợn ăn thịt con tôi? Tại sao ý nghĩ của vợ tôi lại có thể trùng hợp với ý nghĩ của Tám?


 


 


Ngày… tháng…            


 


        Chủ lò Hợi kéo tôi đến nhà chơi. Anh đã mời tôi năm lần bẩy lượt nhưng tôi chưa đến bao giờ. Không đến bởi vì anh ta giầu có, còn tôi thì nghèo. Khi nghèo, dù ta là người trải đời thế nào, ta vẫn có mặc cảm, và lúc đó ta thường phản ứng lại kẻ giầu bằng cách chê bai họ, khinh bỉ cái giầu của họ, hoặc chí ít không chê bai, khinh bỉ thì cũng lảng tránh, tránh xa khỏi họ. Quan hệ giữa tôi và Hợi cũng nằm trong qui luật ấy


        Nhưng, thằng Linh, cậu sinh viên của tôi đã bắc cầu giao tiếp giữa hai người lớn. Từ khi có Linh dạy thêm, con gái Hợi đã học khá hẳn lên. Học kỳ vừâ rồi, cô bé đã được xếp loại học sinh tiên tiến. Vì lý do ấy, nên ông Hợi đã mời tôi đến chơi bằng được.


        Một gian buồng rộng rãi lát đá hoa nhìn ra một vườn hồng nhỏ. Khi vào nhà, phải theo một lối đi nằm dưới một giàn thiên lý thơm mát. Hai bên lối đi đặt những chậu địa lan, ở góc trong cùng của giàn thiên lý, treo lủng lẳng một dò phong lan tai trâu đơm nụ. Gian phòng toát lên sự sang trọng bởi nền đá hoa mầu cẩm thạch, loại đá lát đặc biệt mà nhà máy vật liệu xây dựng A đã làm riêng để tặng những khách quí. Cái nền ấy chắc được lau chùi thường xuyên nên bóng lộn. Một chiếc đàn Pianô Nhật mới mang từ Sài Gòn ra kê ở góc. Giữa phòng nhìn ra cửa là chiếc tủ chè lèo kép, khảm trai, trên nóc tủ chỉ để một lọ hoa đồng tiền loại nhỏ…


        Hợi trang trọng mở tủ chè, lấy ra mmột bao thuốc lá tây chưa bóc và một gói trà rồi hỏi:


        - Anh thích trà thanh tâm hay trà Thái mộc?


        - Trà Thái anh ạ.


        - Anh giống tính tôi. Không gì bằng trà Thái anh nhỉ. Để anh thưởng thức một loại trà Thái đặc biệt mà họ mới biếu.


        Xong tiệc trà, đến tiệc rượu. Anh đốt cồn lên nướng mấy con mực rồi nói cười vui vẻ:


        - Có lẽ anh cũng chỉ thích rượu quốc lủi? Đúng thế chứ? Tôi nghiệm thấy một điều: các đồ ăn uống của tây chỉ có thuốc lá là ngon, còn thì hỏng bét, rượu không bằng của ta, còn trà thì khỏi phải bàn, tây họ không biết uống trà anh ạ, ai đời trà lại pha đường…


        Tôi không dám luận bàn về cái cách thưởng thức chủ quan, tự coi mình là nhất đời ấy – Tôi chăm chú nhìn người bạn rượu đương rót vào chén cho tôi một thứ nước trong vắt thơm phức. Rượu ngon đã xóa dần đi cái kênh kiệu, cái khoe khoang ngô nghê. Hương men nếp ngan ngát làm cho Hợi trở nên bình dị. Giọng nói của anh bỗng có mầu sắc, lúc lãng đãng, lúc sôi nổi, trở về với những niềm tâm sự mà hiếm khi anh cởi mở:


- Xưa kia tôi “làm nhau” ngoài lò lợn. Chắc anh chưa biết thế nào là “làm nhau” nhỉ? Làm nhau tức là xách cái xô tiết, cầm dụng cụ mổ lợn, chạy theo sau và chịu sự sai vặt của người đồ tể chính thức. Ông đồ tể già, ông thầy dạy nghề của tôi, là một người rất ngộ. Ông hay uống rượu, uống ít thôi, nhưng lai rai suốt ngày, mỗi lúc một hớp; ông uống chỉ đủ để bốc ra miệng những tiếng cười ha hả, và đủ để tuôn ra những chuyện tiếu lâm thú vị và tục tĩu. Đó là lượng rượu duy trì trong ngày; còn buổi sáng, trước khi vào lò lợn, thầy tôi uống nhiều hơn; ông thường ngửa cổ uống một hơi, tu suông ừng ực hết phăng một cút rượu, rồi mới sắn tay áo kiểm tra đồ nghề, và mài dao. Một cái bị toàn là dao, con dao lá lúa để đâm cho ngọt, con dao rựa để chẻ xương sống, con dao bầu để cạo lông pha thịt, ngoài ra còn thêm mấy con dao dự phòng. Buổi sớm ở lò lợn thật ồn ào kỳ dị: tiếng những con lợn ngửi thấy mùi thần chết gào lên hoang rợ, tiếng ằng ặc thảm thê, tiếng liếc dao soèn soẹt, tiếng mài dao đều đều, tiếng chặt xương công cốc, tiếng cạo lông sồn sột, tiếng những con dao va chạm vào nhau leng keng, tiếng người nói chuyện với nhau bằng giọng hò hét. Những ông đồ tể khác đã lao vào công việc, nhưng thầy tôi bao giờ cũng đủng đỉnh. Ông mài dao thật kỹ càng, cho đến lúc con dao cạo được râu mới thôi; bởi vì ông thích một lưỡi dao phóng vào tim bao giờ cũng phải ngọt, ông thích hoá kiếp cho những con lợn được chết nhanh hơn. Sáng nào thầy tôi cũng dạy tôi bằng một câu nói gần như thuộc lòng: “Hãy cắt tiết con lợn như cắt tiết cuộc đời cho đến cùng giọt máu. Chớ có run tay. Này, cắt ngang một đường, rồi chếch lưỡi dao đâm chéo vào tim. Ngoáy lưỡi dao một vòng cho đứt hết những mạch máu nhằng nhịt. Ân dao về một phía cho cửa ra mở rộng. Thế là tiết sẽ ồ ồ chảy ra như vòi nước. Đạp chân vào bụng cho tiết chảy nhanh hơn. Và dốc chân sau lên cho máu ra đến cùng. Hãy nhớ lấy – Hãy đâm cho trúng – Không được phép run tay. Hãy vắt máu cho kiệt. Có thế trông miếng thịt mới trắng mới đẹp, ăn miếng thịt mới ngọt mới thơm. Hãy cắt tiết cuộc đời như…” Thế rồi thầy tôi cười, một tiếng cười hư hư thực thực. Ông đồ tể già muốn nói với tôi cái gì sau câu nói đó tôi cũng chẳng hiểu nữa, nhưng câu nói đó đã như cái bóng theo tôi suốt cả cuộc đời.


- Cắt tiết cuộc đời? Tôi ngơ ngác hỏi.


        Lúc này trông Hợi ngơ ngác chẳng kém gì tôi.


- Nhiều lúc tôi định nói chuyện với anh, định hỏi anh, định kể với anh câu chuyện ấy.                            


- Định kể với tôi?                                                                                                                              


- Vâng. Kể với anh. Nhưng có lẽ anh khinh tôi… à… người ta vẫn bỉ tôi…


- Tôi? Khinh anh? Tôi ngơ ngác thêm.


- Chả cứ anh… đến vợ tôi cũng mặc cảm với tôi. Cô ta không nói ra nhưng tôi biết…Này… Tôi hỏi thật anh có ghê sợ tôi không?


        Tôi càng đi vào chỗ lúng túng, và tôi chợt hiểu con người ngồi trước mặt tôi. Con người hình như phú quí, hình như tàn ác, hình như kênh kiệu rởm ấy… Thực ra anh ta cũng yếu đuối, cũng khốn cùng… Tôi chưa kịp biểu lộ cái thương cảm ngớ ngẩn ấy của tôi ra với Hợi, thì Hợi bỗng cười to. Anh ta uống một tợp rượu rồi cười ngất. Cái vui có lúc như bông phèng lại trở về giọng nói của Hợi.


- … Tôi đi làm cách mạng. Tôi bỗng hiểu ra câu nói “Hãy cắt tiết …” của ông thầy, người công nhân lò mổ năm xưa. Tôi hiểu đó là sự kiên quyết, sự dứt khoát, sự mạnh mẽ. Cách mạng đã cắt tiết chế độ cũ. Máu tiết ở tim, gan, phổi óc của chế độ cũ phải kiệt đi, phải chảy đến giọt cuối cùng để cách mạng có thể thay thế vào đó một dòng máu mới.


- Anh đã tham gia vào việc đó ra sao?


- Năm 13 tuổi tôi là liên lạc trong Trung đoàn Thủ đô. Năm 17 tuổi tôi là tiểu đội trưởng vệ quốc đoàn. Năm 18 tuổi tôi giết tên giặc Pháp đầu tiên.


- Anh kể cho tôi nghe chuyện đó đi.


- Anh nghĩ thế này có tức không? Chúng tôi có một trung đội, vây hãm một bốt Tây đánh cho đến gần nhọm nhẹm sáng chúng mới chịu hàng. Trung đội trưởng chết. Trung đội phó chết. Chúng tôi bắt được một thằng Tây trắng và hai thằng Tây đen. Thằng Tây trắng chỉ huy đã bị thua còn ra vẻ, còn khệnh khạng. Tôi hỏi: “Anh tên gì? Cấp bậc gì?” Nó trả lời “Tôi là com măng đăng, là thiếu tá, tôi không nói chuyện với anh, hãy đưa tôi về gặp chỉ huy cao cấp của các anh”. Tôi hét lên: “Mày có nói không?” Nó trả lời: “Tôi chỉ nói với người cấp bậc ngang tôi”. Tôi giận giữ chửi vào mặt nó: “Thằng ngu”. Thằng Tây quắc mắt nhìn tôi. Tôi tát vào mặt nó. Nó dướn cổ nhìn tôi căm thù. Tôi bắt nó quì, nó không quì. Thế là tôi rút dao ra, đâm vào cổ nó, sọc vào tim nó…


        Hợi trầm ngâm, tay run run vê một điếu thuốc lào, và anh hút bập bập, tiếng điếu cày kêu tanh tách cắt thành từng đợt. qua làn khói anh tư lự đặt câu hỏi:


- Chỉ có một điều tôi vẫn chưa hiểu. Lúc đó, tay tôi cầm khẩu súng lục tước được của chính thằng xếp bót đó, nhưng không biết tại sao tôi lại không bắn? Bắn như thế sẽ giản đơn hơn, thằng Tây sẽ chết nhanh hơn, quang cảnh sẽ bớt ghê rợn. Nhưng tôi lại đút súng vào túi quần và rút con dao lá lúa ra, tôi giơ con dao sáng loáng trước mặt nó. Lúc bấy giờ thằng Tây mới sợ. Nó tròn mắt và kêu to một tiếng ô ô gì đó. Và tôi đâm vào cổ nó… Ừ nhỉ! Tại sao tôi không dùng súng nhỉ?


        Tôi lặng yên, không dám trả lời Hợi, cứ để cho anh ta tự độc thoại bằng những lời không thốt ra, những lời như những bọt nước sôi từ đáy lòng cuộn lên làm đôi mắt anh ta chớp chớp. Sự im lặng kéo dài đến vài phút. Sự im lặng hình như có độ co dãn. Lúc này nó lắng tịt xuống, chìm sâu hẳn xuống để cho tiếng một con thạch sùng tặc lưỡi bâng quơ cũng được chúng tôi chú ý nghe rõ mồm một. Tiếng con vật đánh thức Hợi dậy, đánh thức tôi dậy khỏi một dòng suy tư đang chực hình thành. Tôi hỏi một câu hỏi chẳng ra đầu ra cuối:


- Thế còn bây giờ?


- Sao?


- Bây giờ?


- A à … - Hợi chợt cười một cái cười hài hước nửa miệng – Bây giờ thì tôi chả cần “cắt tiết” nữa rồi. Cuộc đời đã tự cắt tiết mình để hiến dâng tôi…


        Tôi lạ lùng, ánh mắt tỏ vẻ không hiểu.


- Dễ hiểu thôi, anh Hoàng ạ. Bây giờ thì tôi cần gì phải dùng con dao lá lúa. Tôi đã để nó vào trong cái tủ chè kia, dành làm kỉ niệm. Bây giờ, tôi có hàng loạt người quen bạn bè ở khắp các cơ quan. Tôi lại có lòng lợn thịt lợn trong tay – Anh cười to – Tôi chỉ cần sống lương thiện, chỉ cần các cơ quan bạn giúp đỡ tôi một cách trong sạch nhất, hợp lý nhất. Tôi chỉ cần sống như thế là cũng đủ có một đời sống sung túc.


        Mắt tôi chợt dừng lại ở dò phong lan tai trâu lủng lẳng trên vườn hồng. Chúng tôi rủ nhau ra xem hoa. Tôi hỏi dò hoa hay tự hỏi lòng mình:


- Ôi cái lương thiện! Cái lương thiện thời nay mà cũng bi thảm đến thế sao?


 


 


 


Ngày… tháng…


 


        Con lợn Bò – vét - đĩa của tôi hình như cũng biết được cái triết lý sống của ông chủ lò. Nó ăn rất điên. Nó ăn say sưa như một nghệ sĩ. Có nghĩa là từ lúc tôi đổ thức ăn vào máng con Bó đã xông ngay vào và say sưa “Cắt tiết cuộc đời”. Nó ăn không ngừng, không thở, ăn một mạch bất chấp có gì xảy ra xung quanh. Lũ ỉn tấn công, dúi, cắn, hất. Mặc, nó cứ ăn. Nó ăn liên tục gần nửa tiếng như vậy; và sau khi đã vét đĩa sạch sành sanh, nó lặng lẽ liếm mép, đủng đỉnh vào chỗ nằm. Và chỉ vài phút sau nó đã ngáy o o. Thậm chí, khi lũ ỉn cưỡi lên lưng nó, con Bò cũng vẫn ngủ. Con lợn Bò của tôi cũng ngủ theo kiểu “cắt tiết cuộc đời”?


  


 


Ngày… tháng…


 


       Tôi sang nhà Lân, thấy anh ta mặt đen thui, bực bội đứng trước cái lều chế biến thức ăn. Từ căn lều bốc lên một con rắn khói đen sì ngoằn ngoèo múa lượn. Lân bứt rứt đi lại. Hình như anh đang bị khích nộ. Cái đầu to đen của anh lắc lư trên cái thân gày đét. Tôi im lặng chờ đợi Lân nói. Lân thỉnh thoảng lại mắc một trận khích nộ như vậy, một trận khích nộ khùng khùng dại dại. Kìa, Lân đã sáng mắt lên. Đôi mắt long lanh trên khuôn mặt đen sạm hình như có lửa nung:


- Tôi khinh bỉ con lợn Bò của anh. Đúng! Nó là đồ vét đĩa.


- Hôm nọ, anh khen nó lắm cơ mà? – Tôi điềm đạm.


- Hôm nọ tôi khen, còn hôm nay tôi khinh. Bởi vì… bởi vì nó không xứng đáng.


- Xứng đáng?


Lân giang tay ra giải thích:


- Tôi thích nó mạnh mẽ… Thích nó cứng rắn… Thích nó chiến đấu.


- A à…


        Tôi lặng lẽ nhìn người bạn của tôi dang lên cơn “sặc mùi thuốc súng” . Mắt Lân sáng chừng kia. Tay Lân hoa lên như thế kia. Cái đầu anh lắc lư. Môi anh run lên bần bật. Lắp bắp… có lẽ bộ óc kích động của anh đang đi tìm chữ… có lẽ nó đang đi tìm những chữ nào mạnh mẽ cuồng nộ nhất, báng bổ nhất, nổ bùng nhất, để làm tan dần, hả dần những âm vang cay đắng còn dư đọng từ những ngày chiến trận. Lân cần một người nghe, một người biết chịu đựng những bầu tâm sự, biết để cho những kho thuốc súng trong tâm hồn anh được bung ra một cách tự nhiên không cản trở. Tôi nhẫn nại lắng nghe, với ước mong dần dần đầu óc bạn tôi trở về mát mẻ. Tôi hút thuốc lá, thở khói, im lặng, chăm chú nghe Lân nói.


- Con lợn Bò của anh là cái… thứ gì nhỉ? Đôi mắt lấm lét… A, cái giống hèn mạt… Quen cái thói nô lệ rồi… Cam chịu… Cam chịu… Thế mà còn tự ru ngủ mình… rồi tự đế mình lên… tự khen mình nữa… rồi lập lờ… lộn ngược giá trị… tôn vinh cho sự ti tiện…


        Lân ơi! Tôi biết nói với anh sao đây? Một người điên, hay một kẻ thất vọng? Hay một kẻ mộng du đi trong một cõi người điên đảo? Hay một người cố chấp ương bướng? Anh phóng chiếu lòng anh vào đàn lợn. Những gì anh không thấy ở đời thì anh đi tìm nó ở đàn lợn, ở một sinh vật hạ đẳng hơn. Những con vật được anh nhân hoá; anh tạo cho chúng một hồn người… Lân ơi! Tao biết khóc hay cười cùng mày đây? Mày muốn tao trả lời những tra vấn của mày ư? Cặn kẽ ư? Tôi bối rối. Nhưng dù sao, tôi cũng kéo anh ngồi xuống bên tôi, rồi đưa thuốc lá cho anh hút. Lân chăm chú nhìn tôi và hít những hơi dài, nhả khói ra liên tục. Tôi khẽ khàng gật đầu:


- Anh nói đúng.


- Thế chứ!


        Lân vội vã nắm lấy tay tôi bóp mạnh. Hỉ hả, vui sướng như một đứa trẻ thơ. Tôi thấy điếu thuốc lá trên tay anh run lên.


        Rồi bỗng nhiên, anh đứng dậy, cầm tay tôi kéo ra chuồng lợn, dáng vẻ hân hoan:


- Anh phải ra đây. Ra đây mới hiểu hết lời tôi nói.


        Anh dừng lại giải thích cố cho tôi hiểu mạch lạc: 


- Tôi mới mua được con lợn Chiến Sĩ. Anh hiểu chưa?


- Sao?


- Chiến Sĩ! Tôi đặt tên cho nó là Chiến Sĩ bởi vì… Bởi vì nó có thái độ rất liêm sỉ. Anh hiểu chưa?


        Thì nào tôi đã hiểu gì đâu, nhưng vì thấy Lân rất ân cần tôi hiểu nên tôi cứ gật đầu bừa. Lân vẫn nói:


- Liêm sỉ, nghĩa là nó biết sống.


        Đến lúc này, Lân mới chỉ vào chiếc bao tải dứa nằm dưới gốc cây bưởi. Và anh bùi ngùi:


- Nó đấy! Con Chiến Sĩ của tôi đấy.


        Tôi ngơ ngác vẫn chưa hiểu hết câu chuyện. Còn Lân, anh nghiêm trang mở chiếc tải đắp, để lộ ra một chú lợn con đã chết. Đó là một chú lợn Móng Cái, lưng choàng một vệt loang đen hình yên ngựa, trán đốm một vệt lang trắng hình ngôi sao.


        Và Lân đã cảm động kể với tôi về tiểu sử ngắn ngủi của chú lợn con:


        Lân mua con Chiến Sĩ về mới hơn một ngày. Anh mua nó hai trăm đồng, tiền trích ra từ số lãi của con Tên Lửa. Chú lợn Móng cái nhỏ con nhưng hay ăn và rất bướng. Lân không có thói quen nhốt riêng lợn khi mới mua về. Vừa từ trại giống về đến nhà, anh đã thả ngay con Chiến Sĩ vào chuồng.


        Con Chiến Sĩ vừa mới chân ướt chân ráo từ lồng chui ra, đã xông ngay vào máng ăn, để tranh ăn với con Thần Sấm. Thần Sấm là một chú lợn tây khoảng 95% máu ngoại. Hầu như chả thấy dấu hiệu nào của máu ỉn trên người chú. Một con lợn trắng toát, tai to, chân cao, bụng ngựa … Trông nó giống như một con béc giê. Nó rất hiền nhưng khá ích kỉ. Nó chuyên ăn riêng, một mình một máng. Nếu không con nào động đến máng của nó thì Thần Sấm rất hiền lành, không gay gổ, ăn xong đủng đỉnh vào ngay chỗ ngủ. Nhưng nếu con lợn khác động đến máng ăn của Thần Sấm là không xong với nó. Nó khoẻ nhất, lớn nhất trong đàn lợn hiện nay. Thường dễ nó đã tới bốn chục cân.


        Thế mà con Chiến Sĩ, chú lợn ranh con lại dám xông vào máng của nó. Thần Sấm nổi giận ra oai ngay. Nó chồm lại định cắn vào tai Chiến Sĩ. Chiến Sĩ rất nhanh; thoắt một cái nó đã lẩn được ra phía sau, và cắn vào đuôi con Thần Sấm. Nó vừa cắn vừa lôi đến nỗi con Thần Sấm phải kêu rống lên. Và Thần Sấm đành chịu để cho chiến sĩ ăn vào máng của mình. Đó là câu chuyện bữa ăn hôm qua.


        Sáng nay, lúc đến giờ ăn, Chiến Sĩ lại quen mui xông thẳng vào máng Thần Sấm. Hôm nay, Thần Sấm mưu mẹo hơn; nó giả vờ cúi đầu xuống, cùng tranh ăn. Nhưng, bất thình lình, nó ngẩng lên và cắn vào tai Chiến Sĩ. Nó nhay, nó rứt đến lúc tai con lợn nhỏ bị rỉ máu ra mới thôi.


        Trừng trị xong, Thần Sấm tưởng con Chiến Sĩ sợ hãi, sẽ bỏ đi ăn máng khác. Nào ngờ, Chiến Sĩ đã không sợ, mà trái lại còn hung hãn hơn trước. Nó không cần ăn nữa, và tuyên chiến ngay với Thần Sấm. Nó nhanh như chớp, định cắn đuôi Thần Sấm như hôm qua. Nhưng hôm nay, Thần Sấm đã biết chỗ yếu của mình; nó bám sát không để cho Chiến Sĩ lẻn ra sau đánh tập hậu.


        Hai con lợn một bé một lớn loạn đả inh ỏi, đến nỗi cả đàn lợn của Lân phải dạt hết ra chung quanh, chúng không dám ăn và nhìn hai con lợn tham chiến. Lân không có thói quen can lợn đánh nhau. Kinh nghiệm của anh là cứ để mặc cho lợn đánh nhau, và như thế lợn sẽ nhanh chóng làm quen với nhau hơn.


        Cuộc chiến diễn ra gần nửa tiếng. Chiến Sĩ tuy bé nhưng nhanh nhẹn. Thần Sấm tuy to khoẻ nhưng vụng về. Vì vậy cuộc chiến không phải là không cân sức, cả đôi bên đều bị thương sây sát đầy mình. Chiến Sĩ đã hoàn toàn thắng lợi. Cuối cùng, Thần Sấm không dám đánh nhau nữa, nó đủng đỉnh quay về chỗ nằm. Còn chiến sĩ cũng tộp tộp ăn vài miếng cho oai, nhưng có lẽ đau quá ăn không nổi, nên nó cũng đủng đỉnh quay về chỗ của mình.


        Lân khoan khoái vào nhà hút thuốc vặt, anh yên chí rằng con lợn nhỏ của anh đã qua được cuộc chiến nhập môn và nó đã được chấp nhận vào đàn.


        Nhưng thương thay! Vì chiến đấu quá sức Chiến Sĩ đã bị ngất sỉu đi. Lúc Lân biết thì chú lợn con chỉ còn thoi thóp. Lân mang con vật ra gốc cây tiêm cho nó, bơm cháo cho nó. Không kịp nữa rồi! Mặc dù Lân tận tình cứu chữa, nhưng Chiến Sĩ đã hy sinh. Lân vuốt mắt cho nó, đắp cho nó chiếc tải…


        Lân bùi ngùi cầm tay tôi:


    - Anh giúp tôi một tay nhé.


    - Làm gì?


    - Đào một cái huyệt để chôn con Chiến Sĩ.


    - Chôn?


    - Vâng. Đem chôn. Vợ tôi muốn giết thịt, nhưng tôi không bằng lòng.                                


        Anh ngừng một lát rồi nói thêm:


- Tôi là người lính. Anh hiểu không?… Ăn thịt một con vật như thế, tôi nuốt sao trôi.


        Tôi lặng lẽ cùng Lân đào một cái hố sâu. Lân đã chôn con vật như chôn một người đồng đội. Tôi nhìn anh đứng lặng bên nấm mồ lợn… Những câu hỏi chợt thì thầm trong óc tôi: ở thời buổi này, đem chôn xuống đất mười cân đạm, đó là hành động của một kẻ điên hay của một con người rất người?… Hay của một con người đóng kịch đại tài?… Cả khi điên, cả trong giấc mơ, con người vẫn đóng kịch hay sao? Trong đời thường ta sắm vai anh hùng và vai trò ấy đeo đuổi ta cả đến khi ta khùng khùng dại dại? Cảnh đám ma lợn ấy là bi hay là hài, hay là một cảnh bi hài mà ta chẳng nhận ra? Hay là tình cảnh riêng đã làm con mắt tôi trở nên độc ác? Đêm ngủ, vắt tay lên trán tôi cố nhớ lại cảnh đám ma lợn, cố nhớ lại những nét hài hước của nó để tự chế diễu thói đa cảm của mình và của bạn. Nhưng không hiểu sao lại chỉ thấy một tac động trở ngược; tôi chợt thấy thương mình và cả thương Lân nữa Thế hệ chúng tôi là thế hệ những người anh hùng và cả những người sắm vai anh hùng. Cái chất men Prométhée ấy thấm vào từng tế bào trong cơ thể, bừng bừng ở những khung cảnh vĩ mô, ngột ngạt sặc sụa ở những khung cảnh vi mô, đến nỗi chúng tôi không phân biệt nổi khi nào ta thực, khi nào ta giả. Chúng tôi lên đồng đến nỗi không nhìn ra được cái ngô nghê thảm hại khi mình rởm ấy. Chúng tôi đã đánh mất cái giản dị tinh tế của đời thường, nhưng có lúc chợt u ơ run rẩy khi đi trên con đường thánh của mình. U ơ bởi vì lắm lúc ngẩn ngơ thấy trong mình vắng thiếu một cái gì rất cơ bản mà mình không xác định nổi; run rẩy vì chợt có lúc thoáng thấy nỗi sợ hãi của phi nhân…


 


 


 


Ngày… tháng…


 


         Lại thiếu gạo. Lại hốt hoảng chạy vạy. Và vợ tôi lại láy lại một điệp khúc thường diễn:


 - Anh đi vay vài chục. Em mua yến sắn cho con.


         Lại eo óc, gắt gỏng cấu xé, càu nhàu. Lại bực bội vì tiền vì miếng cơm. Lại tính toán ti tiện. Cái tế nhị, âu yếm thời xưa, vợ chồng tôi đánh mất lúc nào chẳng hay. Thậm chí có lúc vì một sự vui hiếm nào đó, tôi muốn đùa vui âu yếm với vợ một chút, thì lại bị cô ấy chê ngay là giả dối. Chập tối, tôi cầm chiếc ghi ta của thằng con, và bắt chiếc nó, đánh rải một hợp âm và hát một câu tình ca của Pháp:


       … Xa em rồi, tim tôi sầu úa…


Vừa hát, tôi vừa mỉm cười bâng quơ. Lập tức, vợ tôi dội ngay một gáo nước lạnh:


- Thôi! Tôi xin. Ông đừng đóng kịch.


        Tôi vứt cây đàn xuống giường, rồi bực bội:


- Toàn là gây sự!


- Ai gây sự?


- Thật là ô nhiễm!


        “Ô nhiễm!!!”. Tôi muốn hét to lên hai chữ ấy, nhưng họng tôi khô khốc. Tôi nghẹn lại, tắc lại. Tiếng nói của tôi biến mất.


 


 


 


Ngày… tháng…


 


        Tám cho tôi xem một mục trong Bách Khoa Lợn.


 


 


 


RAU


 


       Rau rất cần cho sự phát triển cơ thể lợn. Trong rau có rất nhiều vitamin, chất khoáng, và một lượng nhỏ đạm, đường, chất béo.


       Điều thú vị là một số nhà bác học phát hiện cho ta biết rằng: Muốn lợn tăng trưởng nhanh thì ta cần cho lợn ăn nhiều đạm; còn đối với lợn nái, muốn cho đẻ tốt thì cần phải cho ăn nhiều rau.


        Vậy có thể nói: Đạm phát triển cá nhân con lợn, còn rau phát triển nòi giống lợn cho đông đàn dài lũ.


        Điều phát hiện trên thấy đúng cả với loài người. Nền văn minh phương tây, nếu đứng về góc độ thức ăn mà nói, là nền văn minh đạm; nó chú trọng vào sự phát triển cá nhân  Người phương tây chăm chỉ ăn đạm nên vóc dáng ngày càng to, và ngày càng thưa đẻ. Nền văn minh phương đông là nền văn minh rau. Người Ân Độ, Trung Hoa, người Việt Nam ăn rau nhiều nên vóc dáng nhỏ và ngày càng đẻ khoẻ. Trong văn minh rau, loài phát triển mạnh và cá nhân chỉ là những bóng mờ.


        Chủ nghĩa thực dân là sự chiến thắng của Văn minh Đạm đối với Văn minh Rau.


        Rau là biểu tượng của sự đói khổ đi đến cuồng dại. Rau là biểu tượng của sức sống bản năng, của phần tăm tối nhưng đẹp đẽ trong con người. Đạm là biểu tượng của sự giầu sang đi đến phè phỡn. Đạm là biểu tượng của sức sống lý trí kiêu căng, và khôn ngoan đến ngu ngốc.


        Thiếu đạm thừa rau, và thừa đạm chê rau là hai đối cực dẫn loài người đến khủng hoảng huỷ diệt. Chao ôi! Rau thì điên cuồng nổi loạn, còn đạm thì kệch cỡm, cứ tuởng mình toàn năng. Sẽ có lúc rau và đạm sẽ làm rối bời trái đất và con người trong cuộc quyết chiến Rau - Đạm này đang gào thét, kéo nhau lăn vào hố thẳm.


         Hỡi những kẻ ăn đạm, đừng khinh miệt sức mạnh của rau. Và hỡi những kẻ ăn rau, đừng tưởng rau chỉ mang phép thần kì. Rau cũng mang trong nó những ngòi độc mà ta không lường nổi.


        Hơn nữa, những ai chiến thắng, chiếm được đạm thì lập tức họ cũng thuộc ngay về đạm, vì đạm sẽ tiêm truyền cho họ cái máu chuếnh choáng của sự kiêu sa ngu ngốc.


        Tôi không muốn như con lợn Tây, suốt ngày gào rú chỉ đòi ăn đạm. Và tôi cũng chẳng hề muốn giống loài lợn ỉ, những con lợn mặt nhăn cổ đại, với chiếc bụng to đùng như trống nhưng mổ ra chỉ thấy rau bèo.            


        Đêm khuya. Tôi đọc xong trang giấy và nằm dài im lặng. Tôi, một con vật người nhai rau đang nghĩ suy về đạm. Ở bên kia vách, con lợn Bò của tôi cũng đang tóp tép nhai rau. Lợn ơi! Mày có nghĩ ngợi gì khi mày cắn một cọng rau, một lá bèo trong miệng? Không biết, vào giờ này, có một con người -đạm nào còn thức và trằn trọc như ta không?


 


 


Ngày… tháng…           


 


         Lân đánh giá con lợn Bò của tôi đã lớn gấp rưỡi con lợn ỉn. Về mặt kinh tế, Lân khen tôi đã thắng lợi. Nhưng về mặt tinh thần, anh cho là tôi đã thất bại, bởi vì tôi đã mang thân đi hầu hạ một con lợn vô liêm sỉ, một con lợn to thân xác nhưng lại sợ những con vật bé nhỏ hơn mình, thậm chí còn lấm lét, khúm núm với chúng.


         Lân đứng bên chuồng lợn, và nói giọng điên điên khùng khùng, anh động viên con lợn Bò:


- Nào! Tiến lên! Đừng sợ hãi!… Hãy vứt bỏ cái thói vô liêm sỉ… Hãy chống lại thói quen hèn hạ… Nào! Hãy cắn… Hãy vồ… Hãy xé xác bọn ỉn thử xem sao…


        Tôi mỉm cười, cố xoa dịu Lân. Tôi cũng đùa cợt:


- Ông bạn ơi! Ông định làm kẻ đầu sỏ, khấy động gây bất bình trong đàn lợn của tôi sao? Anh nên nhớ đây là chuồng lợn…


        Tôi chợt ngừng lại giữa chừng câu nói vì nhìn thấy con mắt nghiêm trang của Lân. Thì ra người không biết đùa, hay là người đã quên mất thói quen đùa cợt, hay là người vẫn lạc trong những cơn mê chiến trận, ở đó bên cái chết con người chỉ mặc bộ đồng phục nghiêm trang. Anh nhìn sâu vào mắt tôi rồi giảng giải:


- Ý anh muốn nói chuồng lợn không phải là sân khấu chính trị?


- Sao? Tôi giật mình vì Lân đang kéo tôi vào một cuộc nói chuyện mà nhiều lần tôi đã cố tình lảng tránh. Còn Lân anh vẫn nói phăng phăng, rất hùng biện.


- Anh là kẻ đọc sách mà ý nghĩ vẫn thô sơ. Anh nên nhớ trái đất chúng ta đang nồng nặc ngột ngạt mùi chính trị. Đâu người ta cũng dạy dỗ, lôi kéo, hướng dẫn con người làm chính trị. Đó là thứ men nồng trên miếng đất ta ở… Phải! Men chính trị đã thấm vào ta từ thủa bào thai…


        Lân chỉ vào mặt tôi:


- Anh định lẩn trốn chăng? Sợ hãi chăng? Định làm trò khoác cho mình một bộ áo cà sa chăng? Ha ha… Con lợn Bò… lợn Bò… Nhưng dù có chui vào hang, vào hầm, vào hố, vào xó, vào xỉnh… dù có trốn lên rừng, hay lặn xuống biển thì chính trị cũng đuổi theo anh… lôi anh nhập cuộc.


        Tôi bàng hoàng nhìn người bạn rồ dại của tôi. Nhưng có thực anh ta điên không? Anh đang moi móc tim gan ra và phơi bầy dưới ánh mặt trời. Tôi lúng túng trả lời:


- Anh biết đấy… từ lâu rồi… tôi đâu còn quan tâm tới điều đó. Anh cũng thấy đấy… Tôi đang lo miếng cơm… Và nói thật, tôi cũng thích nghề nuôi lợn…


- Anh thích nghề nuôi lợn?


- Thích… Thậm chí… Ừ nhỉ ta có thể biến nghề nuôi lợn thành một nghệ thuật… Có thể được không?


- Ha ha… Vòng vo! Vòng vo!


        Tôi giật bắn người. Còn Lân vẫn cười. Anh không biết là anh đã chạm vào một điểm rất nhậy cảm của đời tôi. Tiếng cười của Lân làm tôi bỗng chợt lùi về dĩ vãng. “Vòng vo!” tiếng nói đó vang lên trong óc.


 


*


*  *


      


 … Tôi nhớ lại cái phòng hỏi cung trần trụi mà năm ấy tôi vẫn thường ngày phải lui tới hai buổi chăm chỉ, đều đặn như một chú học trò. Chiếc phòng rộng, ở giữa kê một chiếc bàn và hai chiếc ghế, một chiếc dành cho người cán bộ an ninh, và một chiếc ghế dành cho tôi. Căn phòng trần trụi mầu trắng lạnh, không có một vật gì thừa. Chỉ một chiếc bàn và hai chiếc ghế, một mẩu giấy lộn cũng không, một cái đinh vô dụng cắm bâng quơ trên tường cũng không, một con gián, một con nhện cũng không. Không có một sinh vật nào, một đồ vật nào nằm ngoài mục đích lại được phép có mặt; có lẽ người ta sợ một sự phân tán, một sự liên tưởng nào đấy có hại cho sự tập trung của kẻ bị hỏi. Của đáng tội, cũng có hai vật thừa. Đằng trước mặt tôi, tức là dằng sau người cán bộ an ninh, phía trên cao tường có treo một bằng khen, ông bộ trưởng đã ngợi khen một tổ trinh sát số 3 nào đó đã phá tan một vụ án chính trị nào đó, một cách xuất sắc. Vụ nào nhỉ? Những ai bị bắt? Họ là những người ra sao? Những người phe phái, hay những kẻ lý tưởng điên cuồng, hay những con người vô tội chỉ thèm khát sự công bằng, những kẻ bị bắt vì còn chút lương tâm? Thế đấy! Có lẽ tờ giấy trên tường kia tồn tại cũng chỉ vì mang một công năng đàn áp, muốn đè bẹp ý chí của kẻ bị hỏi cung ngay từ phút đầu nhìn thấy nó. Nó như muốn cười mỉm một nụ cười bí mật và khoe rằng: đừng có ảo tưởng che giấu, chúng tôi biết hết, chúng tôi có nghìn mắt nghìn tay. Và sau lưng tôi cũng có một vật thừa thứ hai: cái ba lô bộ đội trong chỉ có chiếc bàn chải đánh răng, vài bộ đồ lót, một chiếc áo bông… Người cán bộ an ninh đã bảo tôi phải mang đến:


- Anh hãy mang ba lô đến hàng ngày. Để ở góc phòng ấy. Anh bướng lắm. Ngoan cố. Không khai hết sự thật. Kẻ cầm đầu đã khai hết rồi. Bạn bè anh đã khai hết rồi. Còn anh, sao anh vẫn quanh co? Nếu còn tiếp tục vòng vo thì sẵn ba lô đấy, chúng tôi phải bắt buộc có biện pháp cứng rắn, cho anh ngồi vào một phòng giam để anh suy nghĩ…


        Tôi im lặng. Thì ra cái ba lô cũng chẳng phải vật thừa. Nó là của tôi; chiếc ba lô tôi đã được phát trong bộ đội, năm 1953. Nó đã theo tôi lang thang lên rừng, xuống biển. Bây giờ nó lại ở bên tôi. Trước kia khác, bây giờ khác, cả chiếc ba lô vô tri vô giác kia lúc này cũng chống lại tôi. Cái vật dụng thân quen mà tôi vẫn cõng trên lưng ấy, lúc này cũng là một vật nhắc nhở, đe dọa.


         Người cán bộ an ninh chăm chú đọc tờ lời khai tôi viết hôm trước. Trên trán anh bỗng xuất hiện những nét cau có. Cuối cùng, anh ngẩng đầu lên, bỏ chiếc kính ra. Rồi anh đứng dậy giảng cho tôi như giảng cho một chú học trò:


- Ha ha! Thật là bác học. Anh dẫn ra nào là Nguyễn Du, là Marx, là Dos, là… Thôi đi! Anh định làm trò gì, chúng tôi đã đi guốc vào bụng anh. Anh định đóng kịch, làm trò thông thái rởm… Thoát bào nhượng vị. Cởi áo bào ra, trốn lủi, để chúng tôi đuổi theo cái vỏ áo bào tư biện. Chúng tôi không có thì giờ cãi cọ với anh về lý luận.        


- Chúng tôi sai về tư tưởng… vì vậy tôi kiểm điểm tư tưởng…


- Không phải sai tư tưởng mà là hành động. Anh đã hành động.


- ???


- Đảng nói A, anh cãi lại B. Nói cho người khác nghe tức là vận động kẻ khác theo mình. Nói khác tức là đã hành động chống đối. Anh hiểu chưa?


- ???


- Lại còn vờ vĩnh: “Tôi không làm chính trị”. Bộ anh ngây thơ đến thế sao? Sở dĩ anh muốn trốn hai chữ chính trị vì anh có ý thức là anh đã mắc vào một tội ác to nhất trong xã hội chúng ta: tội chống Đảng.


- Không! Tôi là người viết báo, viết văn.


        Người cán bộ an ninh đập bàn và con mắt sau cặp kính của anh bỗng long lanh tức giận. Anh nói to, dằn từng tiếng:


- Các anh đã tổ chức chống Đảng.


- Tổ chức?


- Tổ chức! Đúng vậy! Tổ chức chính trị khéo léo.


        Tôi im lặng. Tôi đã hiểu từ lâu người ta muốn dẫn tôi đến cái nút ấy, cái thòng lọng ấy. Khi cái thòng lọng đã quàng vào cổ rồi, nhưng do bản năng tự vệ, tôi vẫn cố rãy rụa, cố bào chữa. Tôi đứng lên và nói rất to:


- Các ông không có chứng cứ. Làm gì có tổ chức …


        Người cán bộ an ninh chỉ vào mặt tôi và cũng quát:


- Ngồi xuống! Tội của anh càng nặng thêm vì cố tình vòng vo trốn tránh…


“Vòng vo! Vòng vo! ”…


        Những tiếng vang kỷ niệm xa xôi ấy, lúc này bỗng lại sống dậy trong óc tôi. Tôi cố ôm lấy đầu, che kín đôi tai, để khỏi nghe tiếng của Lân. Nhưng che làm sao được. Giọng của Lân khích nộ, cũng có tính chất rao giảng như giọng của anh cán bộ an ninh hôm xưa.


- Khi ta yêu một điều gì, ghét một điều gì tức là ta đã làm chính trị. Chỉ khi nào hết yêu ghét, tức là đến ngày tận thế, thì bấy giờ mới hết chính trị. Chính vì vậy, khi nói không làm chính trị, ta đã tự lừa dối, ta đã hèn nhát lẩn trốn. Anh nói nuôi lợn như một nghệ thuật, tức là anh đã tự phỉnh nịnh, tự coi mình hơn kẻ khác, trong khi đó thực chất anh đang tôn vinh cho sự vô liêm sỉ, sự nô lệ… Chính vì vậy nên tôi khinh bỉ con lợn Bò…                                     


        Lân im lặng nghỉ một lát rồi tuyên bố:


- Chuồng lợn cũng là một sân khấu chính trị.


        Tôi cúi đầu, không cãi lại. Trong lòng tôi bỗng dấy lên một nỗi buồn phiền mơ hồ. Hôm nay, tôi hình như đã hiểu thêm một chiều độ của bản thân. Có lẽ Lân nói đúng. Tôi đã trốn chạy, và hình như tôi đã lập lờ… ngay cả khi nuôi lợn.


        Trời ơi! Tôi muốn trốn lên núi quá. Người xưa lên núi để trốn việc đời. Ngày nay, trên núi cũng có đời. Nuôi lợn là một cách “trốn vào núi” hiện đại. Nhưng hoá ra, trong chuồng lợn cũng có đời.


 


 


                                                                                                                                            


Ngày… tháng…


 


        Kỳ lương dạy học tư đầu tiên của con tôi, Linh mang về ba ki lô gam tóp mỡ. Cậu sinh viên mê triết học ấy cười khanh khách:


- Bố ơi! Đúng là cách mạng. Đảo lộn hết cả nếp đời. Mọi cung cách sống thay đổi đến tận gốc rễ. Hết mọi sĩ diện, mọi đài các, mọi thớ lợ. Khi con bưng rổ tóp mỡ đi dọc phố xá, những người quen thuộc nói: “Cậu Linh trúng rồi nhé. Bao nhiêu là tóp mỡ!” Có người hỏi mua, trả mười lăm đồng một ký, nhưng con không bán. Con dành cho lợn của bố.


        Tôi cười:


- Thế là cậu còn sĩ diện hão. Đáng lẽ ra cậu nên bán đi hai ki lô, như vậy cũng được ba chục bạc đỡ mẹ cậu mua gạo.


- Linh vẫn cười ròn:


- Đúng như bố đã tưởng tượng ra cảnh trả lương. Chú Hợi bắc cái cân ra, treo bên cạnh dò phong lan tai trâu, rồi cân trả lương cho con. Cân xong, ông ấy bốc thêm một nắm, vứt vào cái rá và nói: “Đây là phần thưởng thêm cho cháu đã giúp chú tháng qua rất tốt.”


        Hôm nay, bà vợ tôi, cả gia đình tôi bỗng nhiên vui hẳn lên; có lẽ không khí ấy do mùi ngầy ngậy của tóp mỡ tạo nên.


        Vợ tôi hôm nay cũng biết nói đùa:


- Nhà chú Hợi có hai cô con gái. Cái Lan học lớp bẩy mày đang dạy thì còn bé. Chị nó là cái Cúc làm thợ dệt năm nay thường dễ đã hai mươi. Con bé hay đáo để, Linh nhỉ?


        Đôi tai con tôi bỗng đỏ nhừ, nhưng nó vẫn vui vẻ:


- Cô ấy rất hay, mẹ ạ.


-  “Hay” nghĩa là thế nào? Tôi hỏi.


- Nghĩa là cô ta khác hẳn tính ông bố. Ông bố bông phèng, còn cô ta kín đáo. Ông bố tính toán, còn cô ta thì thờ ơ vô tư lự trước tiền bạc…


- Cái tính ấy có lẽ hợp với mày Linh ạ - Tôi cười – A, mẹ mày thích mày có vợ rồi đấy.


        Tai con tôi đỏ thêm. Cậu ta lắc đầu:


- Khó lắm bố ơi!


- Sao lại khó?


- Bởi vì chú Hợi yêu cầu rể của chú phải có một điều kiện. Một hôm chú ấy tuyên bố: ”Đứa nào lấy cái Cúc nhà tao, dứt khoát phải biết làm nghề đồ tể”.


- Đồ tể?


        Cả nhà tôi cười ròn. Linh giải thích thêm:


- Điều kiện ấy của chú Hợi rất khôn ngoan. Thứ nhất: nếu chàng rể là đồ tể, thì người đó không thể nào coi thường ông bố vợ vốn gốc gác là đồ tể. Thứ hai: nghề đồ tể hiện nay là nghề kiếm nhiều tiền nhất; chỉ vài tiếng đồng hồ buổi sáng sớm người ta có thể kiếm tiền bằng một tháng lương. Thứ ba: chú Hợi muốn tìm vây cánh. Bố nên nhớ chú Hợi là người giỏi nghề chính trị.


 - Cả đến lò mổ cũng là một sân khấu chính trị?


 - Dĩ nhiên, bố ạ.


 


 


 


Ngày… tháng…


 


         Từ ngày có tóp mỡ, con lợn Bò lớn nhanh như thổi. Hàng tuần, tôi đo lồng ngực và chiều dài của lợn. Tuần này, số đo lồng ngực lợn tăng bốn cm, như vậy theo bảng thống kê tổng kết, tương ứng với lồng ngực, lợn Bò đã tăng thêm năm cân.


         Con lợn Bò đã gần ba mươi cân, vóc dáng nó đã to gần gấp đôi chú lợn ỉn.


         Với cái vóc dáng đồ sộ ấy, lúc này lợn Bò đã được lũ ỉn cho phép nằm ngang hàng. Tuy nhiên, Bò vẫn phải chịu một chỗ nằm lép vế, nghĩa là bao giờ Bò cũng phải nằm ngoài cùng, chịu đựng gió rét và làm tấm bình phong, tạo ấm cho lũ ỉn. Có những lúc Bò ta tỏ ra tinh ma, khi ăn xong, vội vã tranh vào nằm sát tường tức là chỗ ấm nhất; khi ấy, lập tức lũ ỉn không chịu khoan nhượng, chúng leo lên lưng, cắn tai, húc vào bụng con lợn Bò, cho đến lúc con lợn quỉ quái ấy không chịu nổi, bắt buộc phải đứng dậy để chấp nhận vị trí nằm lép vế của mình, thì cuộc tranh chấp mới kết thúc.


 


 


 


Ngày… tháng…


 


         Đài phát thanh Hà Nội báo tin có đợt gió mùa Đông bắc tràn về, và nhiệt độ sẽ giảm xuống tới mười một độ. Để chống rét cho lũ lợn, tôi vứt hai cái tải vào trong chuồng.


         Rét về, lũ ỉn ăn kém hẳn đi. Riêng Bò vét đĩa vẫn ăn hung như trước. Nó ăn thêm phần thức ăn bỏ dở của lũ ỉn, nên hôm nay bụng nó căng phồng. Ăn xong, nó lùi lũi vao chỗ ấm nhất, ủi cái tải sù ra phía trước, rồi nằm xuống, ung dung chúi mõm vào đống tải, để bảo vệ, để gây ấm cho cái mũi vốn là cơ quan nhạy cảm và quí giá nhất của loài lợn. Lũ lợn ỉn vừa đói, vừa rét nên càng tức tối. Cả đàn cả lũ, chúng hùng hổ xông ngay lại, cưỡi ngay lên lưng con Bò. Con lợn Bò liền đứng ngay dậy, lắc mình hất tụi lợn ỉn xuống, nó chúi đầu đứng gầm gừ, đối mặt nhìn lũ lợn ỉn, khiến bọn này phải chừng lại ngay không dám tấn công. Lợn Bò vốn tính hiền, nên cuộc chiến tranh đã không xảy ra. Tuy vậy, hôm nay nó bỗng sáng kiến nghĩ ra một cách ngủ khác trước; nó chiếm phắt ngay một cái tải dành riêng cho mình, nó dùng cái mõm ủi tải ra một góc khác; nó dùng chân, dùng mõm, khéo léo trải cái tải thừa ra phía ngoài; vậy là đằng trước tải, một bên vách, một bên tải, nó che ấm được cả mõm và hai bên sườn. Nó đắc chí, nằm ngáy pho pho, và mặc xác lũ lợn ỉn tranh giành kéo co nhau chiếc tải thứ hai.


         Cứ bảo con lợn Bò ngu ngốc. Hôm nay, nó đã tỏ ra không ngốc một tí nào. Nó đã biết tẩy chay bọn ỉn.


 


 


 


Ngày… tháng…


 


         Tôi thông báo thái độ mới của con lợn Bò cho Lân biết. Lập tức, Lân khoác áo bông sang nhà tôi ngay. Nhà chuyên gia chăn lợn ấy đã đứng bên chuồng lợn, vứt nắm rau muống xuống trước mặt lợn Bò, rồi vuốt ve nó khi nó đang ngấu nghiến nhai rau.


- Khá lắm! Có thế chứ! Chẳng lẽ mày lại hèn. Ở đâu có áp bức là khắc có đấu tranh. Hãy tiến lên Bò ạ.


        Tôi ôm bụng cười:


- Quỉ quái chưa! Ông lại tin có cả đấu tranh giai cấp trong chuồng lợn?


- Chứ sao! Đây là một chàng khổng lồ đang mơ ngủ. Ngủ chán, nó sẽ dậy. Này! Hãy nghe lời tôi khuyên. Cần phải hết sức chú ý, kẻo rồi lài xảy ra rắc rối trong chuồng lợn.


 


 


 


Ngày… tháng… 


 


         Việc quan sát sự phát triển của chú lợn Bò phải tạm dừng bởi lẽ gạo tăng quá nhanh Mấy hôm trước giá gạo tám mươi, mấy hôm sau gạo đã tăng mỗi ngày vài giá. Tám mươi, lên tám lăm, rồi chín mươi, hôm nay gạo tròn một trăm. Cơn sốt gạo Hà Nội cứ ít lâu lại xảy ra như một bệnh dịch đe doạ người nghèo. Lo âu. Ngắc ngoải. Người ta đồn đại chính phủ sắp thả nổi gạo. Phần lớn dân Hà Nội sẽ phải ăn gạo giá ngoài. Trong khi đó, thằng Minh, đứa con thứ hai của tôi cũng đang bén máng như chú lợn Bò. Bữa cơm, nó có thể ngồi ăn lì không biết no.


        Vợ tôi cáu kỉnh, hễ về nhà là gắt đủ điều:


- Thằng Linh! Còn nằm ườn ra mà đọc sách hả?…


- Thằng Minh đâu rồi? Sáng hôm nay mày chỉ đi chơi, sao không xếp hàng rau? Chỉ được cái ăn là giỏi.


- Lợn Bò với lợn Bê! Bán mẹ nó đi cho rảnh mắt.


- Hạn chế lại! Nấu cháo mà húp! Tao không còn hơi sức đâu mà chạy gạo cho chúng mày ăn.


- Cả nhà nay có ai thương tôi đâu. Người ta còn đọc sach, còn đi chơi, còn suy nghĩ, còn nghiên cứu cơ… Còn tôi thì lăn lưng vào mà vẫn chẳng kiếm ra đủ cho các con ông ăn. Đi làm xí nghiệp về, lại đi đưa bánh đa, hai xu một chiếc. Đạp xe thắt ruột lại… Hào quà cũng chẳng dám ăn… Thế mà…Thế mà có ai biết sót xa cho tôi đâu.


        Tôi bực bội và tê tái đi vì những lời than oán kể khổ ấy. Tôi cố gắng ngọt ngào:


- Thôi! Tôi xin bà. Đừng có làm rối lên như thế. Kêu ca nào có ích gì. Có đỡ khổ đi chút nào đâu. Cần phải bình tĩnh mới được.


- Tôi không bình tĩnh.


        Cáu quá, tôi vặc lại vợ:


- Thôi! Câm mồm đi!


- Anh nói như thế mà nghe được? Có học đấy! Đọc sách đấy! Đạo đức đấy! Lúc nào cũng lý thuyết! Lý thuyết suông!…Đạo đức giả!


        Tôi im lặng, không nói nữa. Nhưng tôi càng im lặng vợ tôi càng nói già, nói dai:


- Tôi lấy anh thật phí cả đời. Tôi là người công nhân. Đáng lẽ ra tôi lấy một người công nhân, thì những lúc này người ta còn biết thương tôi. Ôi chao! Lúc nào anh cũng tử tế, nhân nghĩa. Anh là kẻ đạo đức giả. Anh khinh tôi không có học, nên anh mới dám ăn nói như thế


- Ai khinh cô?


- Anh chửi tôi.


- Ai chửi cô?


- Anh bảo tôi: câm mồm, tức là anh chửi tôi.


    Tôi phát điên lên:


- Đồ vu vạ! Thôi! Bà chiến sĩ thi đua của tôi ơi! Bà lại học được cái trò nam nữ bình đẳng nửa mùa để đem về áp dụng ở gia đình rồi… vứt mẹ cái trò dớ dẩn ấy đi.


- Hừ! Giỏi quá nhỉ! Không khéo cái mồm ấy, có lúc người ta gô cổ lại. Bình đẳng nửa mùa! Rồi có lúc lại rũ tù.


- Ai gô cổ? Ai rũ tù? Đứa nào bắt tao? Cô định doạ nạt hả? Giở thói cải cách ruộng đất ra hả? Vợ mà như thế hả? Doạ tao à? Đểu! Đồ đểu.


        Vợ tôi, khi thấy tôi la hét thì bặt lặng. Cô ta biết đã lỡ lời. Cô ta đã ngoáy một lưỡi dao nhọn vào vết thương của tâm hồn tôi. Sự vu cáo… Những ngày thẩm vấn… Sự đe doạ tù đày triền miên… sự theo dõi, bóng gió doạ nạt… sự thỉnh thoảng hỏi thăm nhắc nhở… tội chống Đảng… cắt việc… rồi treo bút cấm viết… những ngày lao động cải tạo nhục nhằn những nghề nghiệp lầm than mà tôi dấn thân chỉ cốt kiếm được đồng tiền nhỏ nhoi cũng được đó là tất cả những điều mà tôi đã trải qua. Và tôi vẫn tự hào là trong cơn bão, vẫn giữ lại được một gia đình toàn vẹn, với người vợ chịu đựng cùng tôi, với đời sống lương thiện mà chưa bao giờ tôi phải hổ thẹn, với đàn con khổ sở đấy nhưng ngoan ngoãn… Nhưng hôm nay, niềm tự hào cuối cùng của tôi cũng đang bị lung lay. Gia đình tôi bắt đầu nghiêng ngửa, hay nó đã rạn nứt từ lâu rồi mà bộ óc u mê của tôi chẳng nhận thấy. Hừ!… Có thể lắm chứ… Những người đàn bà yếu đuối… Một người bạn gái đã phản lại tôi… Vợ một anh bạn đi tù đã tố cáo chồng, ly dị vắng mặt chồng, thậm chí bắt con không được nhận bố… Nhưng lẽ nào…Vợ tôi cũng thế hay sao?…


        Những dòng suy nghĩ u uất lướt qua bộ óc. Tôi rên lên:


- Đồ đểu! Đồ đểu! Đồ khốn nạn!


        Tôi cầm chiếc điếu cày đập mạnh xuống nền nhà. Cái điếu vỡ, đổ ùa ra một dòng nước đen sì, lênh láng, hôi hám. Bên kia vách, đàn lợn rống lên đòi ăn. Sặc sụa lợn!


        Ôi! Ô nhiễm! Ô nhiễm! Tôi ném nốt bình trà xuống đất và cổ họng tôi nghẹn lại. Tức thở! Tắc thở!


        Vợ tôi lặng lẽ đi khỏi nhà lúc nào chẳng hay. Còn tôi thì ngồi thừ cay đắng trên chiếc ghế bành cà khổ, nơi mà tôi vẫn hằng ngồi hàng giờ để suy ngẫm, tưởng tượng viển vông. Chiếc ghế bành chỉ biết run rẩy chứng kiến những giấc mơ bất tận, hôm nay đã tận mắt chứng kiến một sự thực cay đắng…


        Lần đầu tiên, tôi thấy lộ nguyên hình sự nanh ác của vợ tôi. Cũng lần đầu tiên sự nanh ác của tôi xuất hiện phũ phàng chẳng kém. Tôi thầm hiểu lúc đó tôi muốn tát vào mặt cô ta…


        Cũng lần đầu tiên, tôi cảm nhận được sự giả dối của đời sống vợ chồng. Sự biết điều, sự nhẫn nhục chẳng qua là trò đóng kịch. Tôi muốn chạy trốn, không dám nhìn vào sự thật đau đớn. Chúng tôi làm gì còn tình yêu. Cuộc sống vợ chồng tôi chỉ còn là một sự cộng sinh Những thói quen, chỉ còn tồn tại do sợ hãi một cuộc chia ly, sợ hãi rơi vào một cuộc phiêu lưu mới không có gì đoan chắc là ổn định. Mà thực vậy. Tại sao cô ta cứ phải gánh chịu mãi cái số phận lênh đênh hình ngục nan đào của tôi. Tôi là một quả đắng cay đối với người đàn bà nào dính líu với tôi…


        Tôi bỗng dưng nghe thấy một tiếng động. Tôi quay đầu nhìn và thấy thằng con trai lớn vẫn ngồi thản nhiên ở một góc giường. Cặp mắt của nó lặng lẽ không biểu hiện, nhưng tôi cũng thoáng đọc thấy trong ánh mắt ấy một nụ cười mỉm. Anh mắt ấy như muốn bảo: “Thưa bố! Màn kịch đã hạ rồi!” Đột nhiên, cái nhìn của đứa con làm những nộ khí trong tôi bỗng xẹp xuống. Con tôi không nhìn tôi nữa, nó lên gác xep đọc sách. Cơn tức giận tan nhanh, để lại một chỗ trống cho nỗi buồn đen thăm thẳm choán ngập linh hồn tôi. Tôi vẫn ngồi thừ trên chiếc ghế bành cà khổ, mắt nhắm không buồn nhúc nhích, và tôi đã vào một giấc mơ ngủ lung linh mà không ai đánh thức nổi, từ đây.


 


 (còn tiếp)


Nguồn: Trư cuồng. Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh. Talawas, 2005. Bản điện tử do nhà thơ Hoàng Hưng cung cấp.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »