|
Viên Mai (1716 - 1797) tự Tử Tài, hiệu Giản Trai, cuối đời lấy hiệu là Thương Sơn cư sĩ, Tùy Viên chủ nhân, Tùy Viên lão nhân, người Tiền Đường (nay là Hàng Châu, Chiết Giang). Theo bài Viên Tùy Viên quân mộ chí minh tịnh tự của Diêu Nại, thì Viên Mai tuổi trẻ có tài, thi đậu Tiến sĩ rất sớm. Nhưng về sau hoạn lộ không được hanh thông, cao nhất cũng chỉ giữ chức Tri huyện. Đến năm 40 tuổi, ông bèn “Dứt ý làm quan”, xây một khu vườn tức Tùy Viên dưới núi Tiểu Thương trong thành Nam Kinh, sống cuộc đời tự do nhàn tản. Trung Quốc nhân danh đại từ điển nói từ đó ông “Lấy việc ngâm vịnh trước tác làm vui, đời gọi là Tùy Viên tiên sinh. Làm thơ chủ tính linh, cốt ở chỗ tài lực tới được, cổ văn và văn biền ngẫu cũng ngang dọc phóng khoáng, tự thành thể cách riêng. Tính hào phóng, buông thả chỗ thanh sắc, rất hiếu khách, văn sĩ bốn phương đem thơ văn tới gặp không ngày nào ngớt, nổi tiếng gần năm mươi năm”. Từ hải, Trung Hoa thư cục, Thượng Hải, 1948, còn cho biết ông “Nổi tiếng ngang Kỷ Quân (tức Kỷ Hiểu Lam, người chủ biên bộ Tứ khố toàn thư nổi tiếng của Trung Quốc đời Càn Long, đời gọi là Nam Viên Bắc Kỷ... Rất thích đề xướng văn học phụ nữ, nữ lưu theo học rất đông”. Rộng hơn, Từ hải, Thượng Hải Từ thư xuất bản xã, 1989, còn cho biết Viên Mai “Bàn thơ chủ trương thuật tả tính tình, sáng lập thuyết tính linh chủ trương đề cao cá tính sáng tạo, tôn trọng tự do cá nhân trong sáng tác văn chương, bày tỏ sự bất mãn với “thi giáo” (chỉ loại văn nghệ giáo huấn) của Nho gia... Có một bộ phận tác phẩm tiến hành phê phán công kích Hán nho và Lý học của Trình Chu, lại tuyên bố “Sáu kinh đều là cặn bã” (Ngẫu nhiên tác)”, cùng Triệu Dực, Trương Vấn Đào được gọi là Ba đại gia phái Tính linh thời Thanh. Nhiều sử liệu nói ông tinh thông âm luật, thậm chí rất sành ẩm thực, từng xây dựng cả một thực phổ ghi chép về nhiều món ăn ngon ở Trung Quốc, bấy nhiêu cho thấy Viên Mai là một trí thức vừa có tầm tư tưởng triết gia học rộng hiểu nhiều vừa có phong cách sống tài tử đa tài đa nghệ. Một số tài liệu cho biết ông từng du lịch tứ xứ, “dấu chân in khắp các danh thắng sơn thủy vùng đông nam. Khí chất cao xa đều phát lộ ở văn chương”. Lúc du lịch tới Thiểm Tây có viết bài Mã Ngôi như sau “Mạc xướng đương niên Trường hận ca, Nhân gian diệc tự hữu Ngân Hà. Thạch Hào thôn lý phu thê biệt, Lệ tỷ Trường Sinh điện thượng đa” (Trường hận lời xưa chớ mãi ca. Nhân gian cũng tự có Ngân Hà. Vợ chồng ly biệt trong thôn nhỏ, Lệ điện Trường Sinh cũng kém xa) bày tỏ lòng thông cảm với tình cảm của nhân dân, đánh giá thấp cuộc tình Đường Minh hoàng – Dương Quý phi vẫn được nhiều văn nhân phong kiến đề cao như một chuyện tình diễm tuyệt bi thương trong lịch sử. Tài năng nghệ thuật đa dạng, năng lực thẩm mỹ tinh tế, khát vọng tự do cá nhân và quan điểm xã hội nhân đạo ấy cũng ít nhiều thể hiện qua Tử bất ngữ, một sưu tập nhiều truyện kể dân gian mang nội dung thuật kỳ chí dị, một viên ngọc có vẻ đẹp riêng trong kho tàng tiểu thuyết chí quái chí dị thời phong kiến ở Trung Hoa.
Theo Cao Tự Thanh, người dịch Tử bất ngữ.
Năm Càn Long thứ 4 (1739) ông đỗ tiến sĩ và vào làm ở Hàn lâm viện Thanh triều. Trong sự nghiệp văn chương vẻ vang đương thời của mình ông từng chủ trì Càn Long thi đàm và trước tác nhiều tác phẩm như Tùy Viên thi thoại, Tiểu thương sơn phòng văn tập, Tiểu thương sơn phòng thi tập, Tử bất ngữ…
Nguyên văn hai câu thơ của Tùy Viên (làm năm mười ba tuổi) là:
Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch
Lập danh tối tiểu thị văn chương
|