tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Thông tin tác giả
Antoine de Saint-Exupéry
 

Tên gọi thân mật là Saint-Ex. Sinh ngày 29.6.1900 tại Lyon (Pháp) trong một gia đình quí tộc nghèo. Bố là thanh tra công ty bảo hiểm, mất năm 1904, lúc ông mới 4 tuổi. Bà mẹ ở vậy nuôi năm con nhỏ. Cả nhà sống tại dinh cơ của người cô ở Saint-Maurice de Rémens. Ông là một học sinh có năng khiếu văn chương, hội họa và cơ khí. Học hành không mấy kết quả nhưng năm 17 tuổi cũng đỗ được tú tài.


            Sau đó ông thi vào trường Hải quân nhưng bị trượt. Rồi ông thi đỗ vào trường Mỹ thuật, bộ môn Kiến trúc, nhưng chỉ học được vài tháng thì phải lên miền bắc thi hành nghĩa vụ quân sự. Tại đây ông tỏ rõ có năng khiếu lái máy bay: buổi đầu tiên, sau một tiếng rưỡi học tập, ông đã mạnh dạn cất cánh một chiếc máy bay lạ.


            Năm 1923, hết hạn nghĩa vụ quân sự, được giải ngũ, ông trở về Paris và ba năm sau, ông xin vào làm việc tại công ty Latécoère, một công ty chuyên chở thư từ bằng máy bay từ Toulouse (Pháp) đi Dakar (thủ đô Sénégal) bên châu Phi.


            Năm 1940, phát xít Đức xâm chiếm nước Pháp. Ông gia nhập quân đội trong lực lượng Pháp tự do, chuyên lái phi cơ thám thính.


            Ngày 31.7.1944, trong một phi vụ thám thính, ông đã mất tích, chỉ hai tháng trước khi Paris được giải phóng. Nhiều người tin rằng chiếc máy bay Lightning P.38 của ông đã rơi xuống Địa Trung Hải, không rõ vì hết xăng, do trục trặc máy móc hay bị máy bay tiêm kích của Đức bắn hạ.


Tác phẩm:


- Courrier Sud (Chuyến thư miền Nam - 1929) là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Saint-Ex, trong đó ông ghi lại những cảm tưởng của mình khi ông làm trưởng trạm giao liên hàng không ở sa mạc Mauritanie (Bắc Phi). Tác giả tả những chuyến bay phải vượt qua chặng đường dài hơn 2000 cây số dưới ánh nắng chói chang và những cơn gió nóng như thiêu như đốt. Ông cũng bày tỏ những thắc mắc của mình đối với cuộc sống, với tình yêu và tôn giáo. Tác phẩm này được dựng thành phim năm 1937.



- Vol de nuit (Bay đêm - 1931) do André Gide đề tựa, được giải thưởng Fémina năm 1931. Cuốn này ghi lại những kinh nghiệm của ông về nghề hàng không khi ông làm trưởng ban phi hành đường hàng không Nam Mỹ. Đây là một kiệt tác về văn kể chuyện, hấp dẫn, mãnh liệt, tràn đầy ý tưởng, được dựng thành phim “Night Flight” ở Mỹ.


Trong lời tựa cuốn này, André Gide đã viết  :“Tôi thiết tưởng cái làm cho tôi khoái trá trong câu chuyện cảm động ấy là tính chất cao quí. Những yếu hèn, thoái bộ, đồi bại của con người thì chúng ta đã biết cả, văn chương ngày nay có thừa khôn khéo để tố cáo. Nhưng chúng ta cần người chứng minh cho ta những hành động vượt mình của những ý chí cương quyết”.


- Terre des hommes (Cõi người ta - 1939) đoạt giải thưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp năm 1939, nhưng nghệ thuật không bằng cuốn Vol de nuit. Cuốn “Terre des hommes” được dịch ra ở Mỹ với nhan đề “Wind, Sand and Stars” (Gió, cát và những ngôi sao) và nhanh chóng trở thành một best seller.


Khác với Courrier Sud và Vol de nuit, cuốn này không có cốt chuyện. Tác giả chỉ viết ra những điều mình đã làm, đã thấy, đã đau khổ. Tác giả kể lại những chuyện thê thảm của các bạn phi hành : Mermoz chết trong đêm Đại tây dương hay Guillaumet mất tích trong sương tuyết núi Andes.


- Pilote de guerre (Phi công thời chiến - 1942) xuất bản cùng lúc ở Pháp và Mỹ. Ở Mỹ, sách có nhan đề “Flight to Arras” (Bay đến Arras). Ở Pháp, sách phải qua sự kiểm duyệt của Đức, chỉ bị bỏ mấy chữ phải bỏ “Hitler est un idiot” (Hitler là tên ngu xuẩn). Cuốn này được Hội Không quân Pháp tặng giải thường văn chương. Năm sau (1943) sách bị chính phủ Vichy (chính phủ Pháp do Đức dựng lên) cấm lưu hành theo lời yêu cầu của lực lượng chiếm đóng Đức, nhưng sách lại ra lậu.


- Lettre à un otage (Thư gửi một con tin - 1943) là sách chính luận. Tác giả viết thư này khi đang lưu lạc ở Mỹ, có ý nghĩa những lời tâm sự gửi cho quê hương.


- Le petit prince (Hoàng tử bé) xuất bản tại Mỹ năm 1943, sau lại xuất bản ở Pháp. Saint-Ex viết “Hoàng tử bé” trong những năm dữ dội của thế chiến thứ hai, kể lại cuộc gặp gỡ kỳ diệu trên sa mạc giữa một người phi công hỏng máy bay và cậu bé hoàng tử từ một hành tinh khác đến. Hoàng tử bé là một nhân vật tưởng tượng do tác giả sáng tạo nên trong thời gian ông sống ẩn dật. Hoàng tử bé chính là bản ngã của tác giả, bản ngã của con người. Hoàng tử bé đã ban cho Saint-Ex chiếc cầu bắc ngang qua vực cô đơn. Saint-Ex mơ hồ thấy ngôi sao bạn nháy gọi nên đã ra đi để không bao giờ về nữa.


Cuốn này được dịch ra 40 thứ tiếng và bán được 60 triệu bản.


 Di cảo của Saint-Ex :-


             - Citadelle (Thành trì), thuộc loại tự sự, xuất bản năm 1948, bốn năm sau khi Saint-Ex qua đời. Đây là tác phẩm dài nhất của ông (500 trang), được giải thưởng Prix des Ambassadeurs năm 1950.


- Lettres de jeunesse (Thư thời trẻ) là những bức thư ông viết từ năm 1923 đến năm 1931 gửi cho người bạn gái là Renée de Saussine. Những lá thư này  phản  ảnh  chín năm tươi


trẻ và hy vọng, chín năm hành động và suy tưởng trong cuộc đời Saint-Ex.


- Carnets (Sổ tay) là những điều ghi chép từ năm 1936 đến năm 1944.


- Lettres à sa mère (Thư gửi mẹ) gồm những lá thư ông gửi cho mẹ từ năm 1910 đến năm 1944.


- Un sens à la vie (Ý nghĩa cuộc đời), viết dưới dạng tùy bút.


Ngoài ra Saint-Ex còn có “Thư gửi tướng X” viết ít lâu trước ngày ông qua đời, gửi một ông tướng không nêu rõ danh tánh. Nhiều vấn đề thời đại đã được ngòi bút tài tình của Saint-Ex đề cập trong thư này ; và truyện ngắn đầu tiên viết năm 25 tuổi : L’aviateur (phi công).


 



 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang