|
(1.7.1822–3.7.1888).
Nhà thơ Việt Nam, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai, sinh tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, nay là thành phố Hồ Chí Minh; mất tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cha là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; vào Gia Định làm Thơ lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định. 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định. 25 tuổi, ra Huế học tập chờ kỳ thi thì được tin mẹ mất. Trên đường về cư tang mẹ, vì khóc thương nhiều và vì thời tiết nóng bức, ông bị mù. Nguyễn Đình Chiểu học làm thuốc và mở trường dạy học, bắt đầu sáng tác văn chương. Các truyện thơ Nôm Dương Từ – Hà Mậu và Lục Vân Tiên ra đời. 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. 1860, quê hương bị giặc chiếm, nhà thơ phải về Cần Giuộc. 1861, Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, ông phải “tỵ địa” sang Ba Tri (Bến Tre). Nhân dân và sĩ phu khắp nơi nổi lên chống giặc. Phong trào bắt đầu dấy lên ở Miền Đông Nam Bộ, rồi lan ra cả lục tỉnh. Lúc này, văn chương của Nguyễn Đình Chiểu bám sát thực tế nóng bỏng: Chạy Tây (1859), Văn tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (1861), Mười hai bài thơ điếu Trương Định và Văn tế Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1874), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (1874), Ngư tiều y thuật vấn đáp v.v.. Ong mất năm 1888. cánh đồng Ba Tri rợp khăn tang khóc thương Đồ Chiểu.
|