|
Tùng Thiện Vương Miên Thẩm ( 1819- 1870) tự Thận Minh, Trọng Uyên, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử. Ông là con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, đồng thời là một nhà thơ Việt Nam thời nhà Nguyễn.
Tùng Thiện Vương, sinh ngày 11 tháng12 năm 1819. Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Ngợn. Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Miên Thẩm. Năm 1839, ông được phong Tùng Quốc Công, năm 1854 được phong Tùng Thiện Công. Năm 1878, ông được truy phong là Tùng Thiện Quận Vương rồi đến năm 1938 là Tùng Thiện Vương, tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.
Theo như trong tập Thơ Tùng Thiện Vương, vào giữa thế kỷ 19 tại kinh thành Phú Xuân (Huế) đã xuất hiện một số nhà thơ dòng dõi hoàng tộc Nguyễn Phúc, trong đó có Tùng Thiện Công (tước vị của Miên Thẩm lúc bấy giờ), Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Công Miên Bửu, công chúa Mai Am (tất cả đều là em của ông) được nhiều người biết hơn cả.
Ông là học trò đồng thời là con rể của đại thần Trương Đăng Quế. Về sau ông gả con gái lớn là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng. Khi xảy ra vụ binh biến tại Khiêm Lăng năm 1866 (sử gọi là loạn Chày Vôi), do Trưng lãnh đạo, dù được vua xét ông vô can và ông cũng đã tránh xa việc chính trị, thận trọng giữ mình, nhưng vẫn bị vài triều thần có lời to nhỏ.
Ông sống trong một giai đoạn lịch sử hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai gây mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn nhưng theo qui chế nhà Nguyễn, các ông hoàng không được đi thi, ít được tham gia chính sự nên khó xác định được tài năng thật sự của ông trong các lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị, quân sự v.v).
Ông mất ngày 30 tháng 4 năm 1870 (tức 30 tháng 3 năm Canh Ngọ), hưởng dương 51 tuổi.
Vua Tự Đức viết:
Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường!
|