|
nguyên họ Nguyễn Xuân, mới đổi ra họ Bàng đến Bàng Bá Lân là ba đời. Quê gốc ở làng Đôn Thư, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Sinh tháng 11 năm Nhâm Tý (tháng 12-1912) tại phố Tân Ninh, phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Dòng dõi nhà nho nên biết làm thơ từ nhỏ. Đã xuất bản những tập thơ Tiếng thông reo (1934), Xưa (chung với Anh Thơ, 1941), Thơ Bàng Bá Lân (1957), Tiếng võng đưa (1957).
Trong Thi nhân hiện đại (1941), Hoài Thanh viết: “Bàng Bá Lân không có cái tỉ mỉ của Anh Thơ, không nhìn đủ hình dáng đời quê như Anh Thơ. Anh Thơ có khi nhìn cảnh không mến cảnh. Bàng Bá Lân có khi lại mến cảnh quên nhìn, nhưng nếu đã lưu ý đến cảnh nào, Bàng Bá Lân thường lưu ý đến cảnh ấy - như khi người tả cảnh một buổi sáng:
Cổng làng rộng mở. Ồn ào
Nông phu lững thững đi vào nắng mai
Ta thấy rõ người mến cảnh ấy lắm: lòng người cũng mở rộng với cổng làng và cùng vui với nông phu trong nắng sớm.
Bởi thế có lúc con người đã cảm được hồn quê vẫn bàng bạc sau cảnh vật. Tôi không biết làm thế nào nói cho ra điều ấy. Âu là cứ trích ít câu thơ của Bàng Bá Lân:
Quán cũ nằm lười trong sóng nắng
Bà hàng thưa khách ngủ thiu thiu
Nghe mồ hôi chảy đầm như tắm…
Đứng lặng trong mây một cánh diều
Cả cái hồn lặng lẽ ngây ngất của đồng quê dưới nắng trưa như ngưng lại trong mấy câu ấy.
|