Tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1928. Quê gốc Tân Châu, An Giang. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1975. Ông mất ngày 21-11 năm Ất Dậu, nhằm ngày 21-12-2005 tại thành phố Hồ Chí Minh.
Viễn Phương tham gia cách mạng từ năm 17 tuổi, đang học Colège Cần Thơ (1945), tham gia Thanh niên cứu quốc, Vệ quốc quân, cán bộ Sở Giáo dục Nam Bộ, Sở Thông tin Nam Bộ, Đài phát thanh Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến, Ủy viên Ban Chấp hành chi hội Văn nghệ Nam Bộ. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ông ở lại hoạt động nội thành đến năm 1960 thì bị giặc bắt, giam ở các nơi: đề lao Gia Định, khám Chí Hòa, Phú Lợi… Năm 1962, ông ra tù, vào vùng giải phóng Củ Chi, là Tổng thư ký Hội Văn nghệ giải phóng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định.
Sau năm 1975 nhà văn Viễn Phương từng giữ các trọng trách Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố, Phó bí thư Đảng đoàn Văn nghệ thành phố, Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm 1996, nhà thơ Viễn Phương được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.
Viễn Phương đã được tặng nhiều Huân chương cao quý và các giải thưởng văn học: Giải nhì giải thưởng Cửu Long Nam Bộ (1954): Trường ca Chiến thắng Hòa Bình; Giải nhì cuộc thi viết cho thiếu nhi do Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh tổ chức: Truyện Lòng mẹ; Giải thưởng Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Tặng thưởng Ủy Ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Giải nhì cuộc thi viết về Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Liên hiệp Văn học Nghệ thuật và Hội Phụ nữ thành phố tổ chức: Truyện ký Chuyện đời má Bảy; Giải nhì (không có giải nhất): Văn bia Đền Tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi.
Giải thưởng Nhà nước đợt 1 năm 2001: Truyện ký Quê hương địa đạo
Tác phẩm đã xuất bản:
- Chiến thắng Hòa Bình (Trường ca, Sở Thông tin Nam Bộ, 1953).
- Chiếc áo thiên thanh. Truyện ngắn, in chung với Lê Vĩnh Hòa, Tiêu Kim Thủy, Ngọc Linh. NXB Trùng Dương, 1957.
- Anh hùng mìn gạt (Truyện ký, NXB Giải phóng, 1968. Tái bản nhiều lần, đã dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh).
- Mắt sáng học trò (Tập thơ, NXB Giải phóng, 1970).
- Nhớ lời di chúc (Trường ca, Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam, 1972).
- Như mây mùa xuân (Tập thơ, NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1978).
- Lòng mẹ. Truyện thiếu nhi. NXB Măng non, 1982.
- Sắc lụa Trữ La (Tập truyện ngắn, đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn thời Mỹ tạm chiếm đóng, NXB Văn nghệ, TP.HCM in năm 1988).
- Phù sa quê mẹ (Tập thơ, NXB Văn học, 1991).
- Quê hương địa đạo (Tập truyện và ký, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1995).
- Miền sông nước (Tập truyện và ký, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1999).
- Tháng bảy mưa ngâu (Tập truyện và ký, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1999. Đã dịch sang tiếng Anh).
- Đá hoa cương (Tập truyện và ký, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000).
- Thơ với tuổi thơ. (Thơ, NXB Kim Đồng, 2002)
- Ngôi sao xanh. Truyện thiếu nhi. NXB Tred3, 2003.
- Gió lay hương quỳnh (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2005).
- Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.