CUỘC TỔ CHỨC BÁN BÁNH GIÚP DÂN BỊ LỤT THANH HÓA
I
Gió mưa một trận khéo vô tình,
Mấy huyện sinh linh hạt tỉnh Thanh.
Chìm nổi đã đành theo vận nước!
Giống nòi cảnh thế dễ làm thinh?
II
Làm thinh không nỡ phải ra tay,
Kẻ của người công giúp hội này.
Bồ liễu theo gương người nghĩa khí!
Nhiễu điều phủ giá mới từ đây.
III
Từ đây đã hiểu chữ tương thân,
Công đức chia nhau gánh một phần.
Nghề mọn riêng tay giùm việc nghĩa,
Tiếng oanh gọi bạn khắp xa gần.
IV
Xa gần nô nức cuộc làm lành,
Sắp đặt đều tay bọn gái mình.
Lan xạ thơm tho trường hợp tác,
Nữ công thêm rạng vẻ tinh anh!
In trong Nữ công thường thức nhị tập, Nhà in Tiếng Dân, Huế.
THƯỢC DƯỢC MỚI NỞ
Bấy lâu nắng giữ với mưa gìn,
Mừng thấy chồi xuân đã có tin.
Hoa nhuộm vàng non trăm vẻ khéo,
Lá đơm xanh nghít một màu in.
Thướt tha trước gió cười chi bậu,
Thấp thoáng bên mành bạn với min.
Khen khéo thờ ơ mùi đạm bạc,
Phẩm này sắc ấy giá muôn nghìn.
HỌA BÀI THƠ NĂM MỚI
Của cụ Phúc Môn bá[1] nguyên vận
Phong cảnh ngày xuân đáng mấy thơ
Ngàn vàng một khắc cái thời giờ
Ngâm hòa Mai Cát hương ngào ngạt
Đàn dạo Lan Đình[2] vận nhặt thưa
Thỏ thẻ tiếng chim oanh học nói
Lơ thơ chiều lá liễu buông tơ
Thiều quang chín chục còn hơn nữa
Nao nức gần xa những đợi chờ.
HỌA BÀI MỪNG LÍNH TÙNG CHINH[3] ĐÃ VỀ
Của cụ Phúc Môn bá nguyên vận
Cuộc hòa mừng thấy chiến binh về
Được lắm điều khen khỏi tiếng chê
Mở mặt giúp công đền nợ nước
Ra tay chịu khó học thêm nghề
Khải hoàn ca dậy trong ba xứ
Kỷ niệm đài cao dựng tám nghê
Có thế mới là không thẹn mặt
Làm nên danh dự chốn hương quê.
Hữu Thanh, số 13, ngày 1-2-1922
TÂN NIÊN KỸ THUẬT
(Họa văn của thân ông, Tổng đốc Thanh Hóa Ưng đại nhân[4])
Trời nam sông núi vẫn cao sâu
Xuân sắc hây hây nhuộm một màu
Vàng trắng đua chen đầy mặt đất
Móc mưa nhuần nhã thấm bèo rau
Danh trường sớm muộn lòng không bận
Lợi thị hơn thua thế mặc dầu
Ngày tháng thoi đưa năm cũ mới
Bút nghiên vui thú xướng hòa nha.
Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 25-2-1924
LÊN CHÙA TỨC CẢNH
Mình biết mình hơn kẻ biết mình
Khi về khi ở mặc ưa tình
Không đeo níu cảnh, không phiền lụy
Chẳng cúi luồn ai, chẳng nhục vinh
Dạo núi mỏi chân, ngồi niệm Phật
Thăm chùa viếng bạn, lại xem kinh
Ờ ờ Cực lạc là đây nhỉ!
Nguyện những bao giờ khéo để dành[5]
(Tư liệu gia đình)
TẶNG TRƯỜNG DIỆU ĐỨC[6]
Khoác áo nhu hòa thiệt khỏe không
Hiếu tình hai chữ trả đền xong
Thờ thân nuôi trẻ hai triêng[7] nặng
Mến đạo thương đời một điểm trong
Công quả đã tròn nền Diệu Đức
Phẩm tài chi kém bạn Phương Dung
Nêu cao đuốc tuệ cho bồ liễu
Như mảnh trăng tròn giữa biển Đông.
(Tư liệu gia đình)
AN TRUYỀN HIẾU TỬ CHUYỆN
Ông hiếu tử tên là Đoàn Huân, người tỉnh Thừa Thiên, huyện Phú Vang, làng An Truyền, ông sinh năm Ất Sửu (Tự Đức thập bát niên) 1865.
Người có tính chí hiếu, gặp phải năm Giáp Thìn thiên tai dữ dội về miền hạ bạn, các nhà của nhơn dân bị gió bão, nước trôi mất hết. Nhưng nhà ông Đoàn Huân tám người chỉ hao ba đứa con nít mà thôi. Trong khi tai biến thì ông cõng mẹ lánh nạn, không kể vợ con nhà cửa chi hết. Thế mà lòng trời cũng không phụ người thảo, sau nước xuống trở về mới biết là người vợ và hai đứa con gặp kẻ cứu vớt. Nhà cửa lại sum họp như xưa.
Nhiều người truyền tụng cái sự tích của ông đã làm ra nhiều bài thi văn khen ngợi. Từ lúc ấy đến giờ, 22 năm nhưng ông còn mạnh khỏe, nhà ở tại chợ Chuồn tức làng An Truyền. Hiện nay ông có một người con gái út tên là Quật Tỉnh hay chữ Hán làm nghề thuốc Bắc có tiếng. Người bạn tôi nhơn có mời cô Quật Tỉnh đến xem mạch uống thuốc cho nên nghe được sự tích rất rõ ràng.
Thiết tưởng sự hiếu hạnh phải nên truyền bá để làm gương tốt khuyến miễn người đời, cho nên không nệ mình học thiển tài sơ, bèn soạn một bài tiểu truyện như sau này:
Nhà lan nhân lúc rảnh rang
Quốc văn góp nhặt ít hàng vịnh ngâm
Đấng nhi tử hiếu tâm mấy kẻ
Sử sách còn mách để làm gương
Nguyễn Phùng gặp buổi gian nan[8]
Bên tình bên hiếu, biết đàng trọng khinh
Người Xuân An liều mình cứu mẹ[9]
Dẫu hổ lang sức khỏe khôn đương
Trời nam vững đặt mối rường
Dạy người lấy đạo cương thường mà nên
Xuân thu trải đã mấy phen
Phong thuần, tục mỹ nên truyền đến nay
Huyện Phú Vang danh hay hiếu tử
Ông Đoàn Huân người xứ An Truyền
Phụ thân sớm khuyết non tiên
Phụng thờ lão mẫu cần chuyên một lòng
Miếng cam chỉ[10] vợ chồng thuận thảo
Chữ thần hôn hết đạo thừa hoan
Điền viên vui thú thanh nhàn
Da mồi tóc bạc ngày càng tốt tươi
Tính khẳng khái trọng lời ngay thẳng
Việc bất bình thường chẳng nể ai
Ghét quân ăn xổi ở thời
Giang tay muốn dứt những loài thị phi
Cơn nóng nảy khôn gì chống lại
Tiếng từ thân khôn dạy liền nguôi
Cho hay lòng thảo tính trời
Dẫu rằng sắt đá dám dời tấc gang
Phúc nhà nối cháu lan con quế
Cảnh sân thềm nhiều vẻ phong quang
Nào ngờ tụ tán bi hoan
Hóa công xoay trở lẽ thường thế thôi
Phong ba nổi bời bời một trận
Bão năm Thìn tai vận nên kinh
Gió to đổ chợ, xiêu đình
Nước dâng người vật tan tành đôi nơi
Tiếng kêu khóc vang trời dậy đất
Khắp xung quanh ngói lật, tranh bay
Nghìn trùng sóng bạc láng lai
Mênh mông một sắc nước trời như nhau
Nhà Đoàn thị trước sau ngập hết
Kế đã cùng không biết làm sao
Trẻ già xúm xít lao nhao
Đoàn càng đau đớn như bào ruột gan
Trông thấy mẹ hình đơn bóng chiếc
Với vợ con thảm thiết phân pho[11]
Cù lao[12] ơn nặng hải hồ
Liều đem tính mệnh đền bù mới an
Đành ngơ mắt bỏ đoàn tình ái
Cõng mẹ già hăng hái ra đi
Trong vòng tử biệt sinh ly
Sóng vùi gió dập hồn lìa phách xiêu
Xanh thăm thẳm tầng cao cũng thấu
Tấm hiếu thành có phụ ai đâu
Những người thảo thuận bấy lâu
Trong cơn họa phúc gẫm âu chuyển vần
Đoàn từ lúc phò thân lánh nạn
Qua ngày sau nước cạn trở về
Xóm làng trôi hết bốn bề
Cửa nhà tan nát nào hề thấy ai
Một mình đứng giữa cồn gai
Khác gì chim cú lạc loài vườn không
Thương thay kẻ tay bồng tay dắt
Nỗi mất còn nước mắt khôn lau
Vật mình than thở hồi lâu
Bỗng nghe có tiếng đường sau gọi chàng
Như giấc mộng mơ màng mới tỉnh
Chữ trùng phùng tiên định rất xinh
Vợ chồng gương vỡ lại lành
Con thơ năm đứa trời dành cho hai
Ngỡ là hoa rụng nước trôi
Ai hay khổ tận cam lai một giờ
Nay gia đạo hơn xưa sum họp
Sự nghiệp thêm bồi lợp rất mau
Phúc lành hưởng thụ về sau
Của tiền công đức, vợ hầu phủ phê
Con cái thảy đề huề trưởng đại
Trước hao ba rày lại sinh ba
Mới hay thiên đạo cũng già
Hảo hoàn[13] hai chữ có xa đâu mà
Khuyên ai nấy: thảo nhà vẹn giữ
Thời hóa ra muôn sự đều hay
An Truyền hiếu tử lược bày
Làm bia kỷ niệm sau này soi chung.
Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 25-9-1925
TRẢ LỜI CHO NGƯỜI HỎI THĂM XUÂN THÀNH PHONG CẢNH[14]
Nghe mấy tiếng hỏi thăm hờ hững
Với non sông như bận tấc lòng
Cảnh đâu như cảnh não nồng[15]
Mượn tình gió mát trăng trong trả lời
Khách có biết đầy vơi là thế
Cuộc nương dâu bãi bể làm sao
Xoay vần đắp đổi biết bao
Định như thế ấy tiêu hao thế này
Luống hoa cỏ độ rày xanh nghít
Đám lâu đài nghi ngút tận mây
Mọi bề hình thức đua bơi
Theo chiều tiến hóa đổi thay đủ phường
Đường quan kéo dọc ngang tơ nhện
Suốt năm canh sáng điện như ngày
Sanh ca dìu dặt khắp cơ
Hào hoa công tử thiên tài mỹ nhân
Nhà ngôn luận đều tân nhân vật
Chốn văn đàn ngôi bậc thiếu chi
Khoe khoang hồ thỉ[16] nam nhi
Người phen bác sĩ, người thi biệt tài
Trường Quốc Tử nay dời Thượng Tứ
Lầu Di Luân làm thự diễn đàn
Có phòng lưu học hai hàng
Thể thao có chỗ, giảng đàng có nơi
Trường Uy-la-bác ngó ngay Bến Dại
Cầu sắt qua sông cái Trường Tiền
Mai chiều con nước xuống lên
Giọng đưa đò hát nghe quen cũng tình
Các thắng cảnh trong thành có sử
Viện Tàng thư gần cửa Giác Hoàng
Nhà Bác cổ, nhà Bảo tàng
Đỉnh chung còn đó, ngọc vàng còn đây
Ngày tiết lễ hương bay nức dặm
Cảnh phố phường xanh thẳm đua chen
Nắng mưa trải bấy nhiêu phen
Thực hành tư tưởng đôi bên cũng là
Nền phong hóa xem qua đã biết
Tính phù hoa mỗ việc mỗ càng
Cạnh tranh công nghệ thị trường
Tấn tuồng đương diễn cải lương đó mà
Văn minh cũ mới pha pha
Ngựa xe quần áo cửa nhà vẫn sang
Thú ăn chơi nghênh ngang đủ vẻ
Cách khôn ngoan có lẽ còn non
Khóm tùng đỉnh Ngự chon von
Tuyết sương mấy độ hao mòn vì đâu
Chuông Bảo Quốc, trống lầu Thiên Mụ
Sĩ hồng trần thức ngủ hỡi ai
Ước nguyền sông dải, non mài
Dấu thiêng chung đúc mấy đời còn ghi
Khi nắng tạnh dẫu khi mưa gió
Gốc bồ đề còn đó trơ trơ
Khách qua đường khéo ngẩn ngơ
Nước sông Hương chảy bao giờ cho khô
Hàng tạp hóa tha hồ hết nửa
Mối lợi to các cửa chia nhau
Ai ngờ nghĩ trước suy sau
Thấy nông nỗi ấy không đau đớn lòng
Số là cũng tiếc chung mới nói
Đường còn xa nhắn với cỏ cây
Chồi non mầm tốt sau này
Trăm hay cho lắm không tày một quen.
Trung Bắc Tân văn, số ra ngày 4-2-1926
BỐN BÀI THƠ TỨ TUYỆT
Tại Hội Nữ công xem các chị em làm việc, tức cảnh có vịnh bốn bài thi tứ tuyệt, xin đăng lên báo để hội viên các bà, các cô xem cho vui.
Đ.P.N.S.
I
COI CHỊ Đ. X. NH. THÊU BỨC TRANH HOA ĐIỂU
Năm sắc tơ chia một mối tình
Cỏ hoa trang điểm tự tay mình
Làm cho toàn bức đều linh động
Mũi chỉ đường kim ngắm đã xinh.
II
CHỊ B.T.D. DẠY CÁC TRÒ GÁI HỌC QUỐC VĂN
Vườn xuân vui xới lấy xuân hoa
Rèn đúc tinh thần tiếng nước nhà
Hỡi chị em ai từng đọc sử
Dựng nền độc lập phải đàn bà?
III
CHỊ P.T.Đ. CHĂN TẰM
Sớm khuya săn sóc việc tằm dâu
Nầy thú chăn nuôi xem cũng mầu
Gió lọt song đào khi bướm nở
Kén giăng bủa trúc lúc công[17] thâu.
IV
CHỊ TR.T. L. DỆT VẢI KHUNG MÁY
Tóm trăm nghìn mối một thoi giăng
Rộng hẹp tùy mình máy nhặt khoan
Nghề mọn dám mong gì tế thế
Nhỏ to[18] đủ giúp kẻ đơn hàn.
ĐỀ NÚI BÀN A[19] Ở THANH HÓA
I
Trải mấy tinh sương núi chửa mòn
Bàn A thập thắng tiếng xưa đồn
Quanh co lối cũ ngần rêu lấp
Thất ngất tầng cao nét chữ còn
Tiên tỉnh[20] bụi um, làn nước cạn
Đào nguyên mù tỏa, cánh hoa rờn
Khách chơi sơn thủy là ai đó
Có cảm tình không với nước non?
II
Có cảm tình không rứa hỡi ai?
Xuân thu trải biết mấy phen rồi
Nước nhăn mày với triều lên xuống
Non bạc đầu theo cảnh đổi thay
Kìa chốn lâm tuyền nay thị tỉnh
Nọ trường ca vũ trước thiên thai
Thợ trời thật lắm công phu nhỉ
Vẽ bức tang thương để mấy đời.
Đông phương, số 878, ngày 6-9-1933
KHÓC THANH NGUYÊN QUÂN[21]
I
Bể dâu biến đổi hết than rằng
Tơ tóc chia phôi trải mấy thân
Yến lạnh lầu không xuân lạt lẽo
Nguyệt tà gối chiếc bóng bâng khuâng
Cõi trời ly hận chia đôi ngả
Dòng nước tương tư trải mấy lần
Gây nỗi bất bình là tạo hóa
Hờn này bao thuở lấp cho bằng.
II
Đã hay sống gửi thác là về
Kẻ mất người còn dạ ủ ê
Đất bụi nỡ vùi duyên hãn mạc
Gió trăng đành phụ cảnh sơn khê[22]
Non thề bể hẹn thôi năn nỉ
Cúc ốm mai gầy luống tỉnh mê
Chợt nhớ năm nào thời tiết ấy
Cùng nhau xướng họa chốn xuân quê.
Đông phương, số 878 ngày 6-9-1933
CÂU ĐỐI ĐIẾU CỤ PHAN CHÂU TRINH[23]
· Mấy mươi năm góc biển ven trời, vằng vặc tấm cô trung, trên vì nước, dưới vì dân, tinh thần vẫn láng lai sông núi Việt
· Đã nhiều thuở khua chiêng gióng trống, thiết tha hồn cố quốc, trước hiệp lòng, sau hiệp sức, sự nghiệp đành phó thác cháu con Hồng.
CÂU ĐỐI TREO Ở HỘI QUÁN NỮ CÔNG HỌC HỘI[24]
· Đạo đức sẵn nền xưa, Trung Nam Bắc dìu dắt chị em, xây đắp bồi thêm văn hiến cũ
· Á Âu đương hội mới, công ngôn hạnh giữ gìn nền nếp, tập tành mong để lợi quyền chung.
(còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.
www.trieuxuan.info
[1] Phúc Môn bá: tước hiệu của ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư Bộ Lại triều đìnhHuế.
[2] Lan Đình: tên đình ở Chiết Giang, nơi nhà thư pháp nổi tiếng Vương Hy Chi cùng bạn bè thường gặp gỡ để ngâm thơ, viết chữ.
[3] Lính tùng chinh: Lính người Việt bị đưa qua Pháp tham gia chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918.
[4] Ưng đại nhân: là cụ Ưng Dinh, sui gia của bà Đạm Phương.
[5] Sư bà Diệu Không, bạn của bà Đạm Phương, họa lại:
Vạn pháp bày ra ấy tự mình Như đã gắng công mà niệm Phật
Bởi vì chấp pháp hóa mê tình Thời đành quyết chí để thông kinh
Kể chi huyễn cảnh danh và lợi Ở đâu là tịnh, đâu là uế
Vứt sạch trần duyên nhục với vinh Phật độ trang nghiêm mấy kẻ giành.
[6] Trường Diệu Đức: trường đào tạo ni giới ở Huế.
[7] Triêng: gánh (tiếng địa phương).
[8] Ông Nguyễn Phùng, người huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An, nhà ở gần bể, gặp năm bão lụt rất lớn, nước bể tràn ra, nhân vật trôi cả, mẹ và con còn đương chạy tránh trong vùng nước. Ông Phùng vội vàng cõng mẹ già qua ngọn đồi mà tránh, quay lại cứu con thì không kịp nữa.
[9] Ông Nguyễn Xuân An người huyện Đông Thành tỉnh Nghệ An. Mùa lúa đương gặt, hùm ra vồ mẹ giữa ruộng, ông lấy đòn xóc đánh cọp, cọp phải bỏ vào rừng. Người ta lấy sự hiếu cảm của ông mà cho rằng: “Hùm thiêng cũng phải nhượng” (Chú thích của tác giả).
[10] Miếng cam chỉ: miếng ngọt bùi, miếng ngon.
[11] Phân pho: phân trần.
[12] Cù lao: công cha mẹ nuôi nấng khó nhọc.
[13] Hảo hoàn: Trả lại một cách tốt đẹp.
[14] Não nồng: não nùng.
[15] Xuân thành: thành Phú Xuân, thành Huế.
[16] Hồ thỉ: Cung và tên; nghĩa bóng: chỉ chí khí người con trai.
[17] Công: có lẽ là canh, viết “công” để khỏi phạm húy (Bà Đạm Phương tên là Đồng Canh).
[18] Nhỏ to: tức vải nhỏ vải to (chú thích của tác giả).
[19] Núi Bàn A: còn gọi là núi Vồm, thuộc huyện Đông Sơn, Thanh Hóa; được coi là trung tâm của mười cảnh đẹp (thập thắng) xứ Thanh.
[20] Tiên tỉnh: giếng tiên.
[21] Thanh Nguyên Quân: là tên hiệu của ông Nguyễn Khoa Tùng, chồng bà Đạm Phương. Ông mất ngày 14-3-1932 (tức 8-2 Nhâm Thân).
[22] Thanh Nguyên ước hẹn sáu mươi tuổi thì lên làm nhà ở núi (Chú thích của tác giả).
[23] Bà Đạm Phương đã đọc đôi câu đối này trong Lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh tại Nam Giao, Huế (1926).
[24] Câu đối treo ở hội quán mừng lễ ra mắt Nữ Công học hội ngày 15-6-1926.
|