27.08.2013
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (5)

Bàn về giáo dục con cái


Phép giáo dục đàn bà con gái, từ xưa chỉ trọng về đức hạnh, ngoài sự lấy chồng, phải biết ăn ở với chồng và phụng sự gia nương là cha mẹ chồng, thời không còn có tư cách gì khác nữa, cho nên sách “Nữ huấn”, cùng thiên “Nữ tắc” là phép khuê môn dạy về mặt xướng tùy hết thảy. Là tượng[1] vì sinh thân đàn bà thế nào cũng phải làm bạn với một người đàn ông, mà nương dựa lẫn nhau, nhiên hậu mới có hạnh phúc ở đời, mà chức vụ của người đàn bà, là gồm cả đạo làm vợ, làm mẹ, nghĩa tạo đoan phu phụ vi thủy[2]. Có vợ chồng mới có con cái, nòi giống miên viễn lưu truyền[3]. Đặng, trong cái đạo làm vợ, lãnh phần trách nhiệm một gia đình, không phải là nhỏ, mà lại thêm cả chức làm mẹ, thời có phải lớn biết bao nhiêu. Nếu đối với gia đình, mà không có đức hạnh, thời rối loạn đạo hằng, chẳng cũng nguy lắm sao? Vì thế mà cách giáo dục phải chú trọng về sự nhu thuận làm đầu. Lấy cái vẻ dịu dàng của người đàn bà, cái lời thỏ thẻ của người đàn bà, cái tính cần kiệm của người đàn bà, thật là hợp với đạo trị gia vậy. Trong một cảnh gia đình vẻ vang, êm đềm, thời phần nhiều thuộc về tay đàn bà hơn là về phần đàn ông; nhưng mà cũng không một mình người đàn bà mà làm nên được, thế nào cũng phải có đủ cả hai người mới thành đạo gia thất. Đã nói rằng thành đạo gia thất, tất phải có đủ sức hai người, cớ sao lại chỉ trách một người đàn bà thôi? Ấy thế mới thực khó giải quyết, vì trong sách có câu: “Thê hiền phu tiểu họa”, lại tục ngữ có câu: “Con hư tại mẹ”. Chồng lầm lỗi, con hư hỏng đều do tại người đàn bà cả, mà phép giáo dục đàn bà, chỉ có đức hạnh nhu thuận mà thôi, hình như có ép uổng người đàn bà, vì tri thức không có, không đủ sức mà khuyên can chồng, dạy vẽ con, phỏng còn gánh vác làm sao cho nổi. Mà lại hại thay còn một điều nữa, là trong nhân loại một phần nửa người đàn bà, một phần nửa người đàn ông, mà ai đã dám chắc phần nửa người đàn bà nào, cũng đều được hưởng cái phúc gia đình hết thảy chưa? Nếu như ngộ cảnh éo le, gập ghềnh chìm nổi trong mười hai bến nước, thời nghĩ làm sao bây giờ, có phải cũng nên sớm liệu mà học tập, phòng khi thi thố với đời, để bảo tồn lấy cái danh giá làm người. Trong khi ở yên, phải lo điều nguy, đương khi làm con gái, phải lo lúc có chồng con, lúc gặp cảnh thuận, phải lo lúc gặp cảnh nghịch, vậy thì sự giáo dục con gái cũng cần cho hoàn toàn tư cách thì mới được. Chớ để cho về phần đường giáo dục, thời không được hoàn toàn như đàn ông, mà phần gánh vác thời không kém gì đàn ông mấy chút, chẳng hóa ra thiệt hại cho đàn bà con gái ru.


 Trong sách Tây có nói về tôn chỉ sự giáo dục đàn bà con gái, nay xin trích dịch một vài đoạn ra đây, để cho rõ cái nghĩa xưa nay mà mình vẫn khuyết điểm về cái vấn đề ấy:


 “Tôn chỉ của sự giáo dục, là phải khai thông những cái năng lực thiên nhiên của người ta, để khiến cho có tư cách làm trọn được các chủ nghĩa ở đời, vậy thời trước hết phải biết cái chủ nghĩa ở đời là thế nào, nhiên hậu mới biết sự giáo dục làm sao cho hợp với cái chủ nghĩa ấy. Nay cái chủ nghĩa của người đàn bà và vận mệnh của người đàn bà không sao rời ra ngoài hai chữ làm vợ làm mẹ đặng. Mục đích dạy cho người đàn bà, là phải biết làm trọn hai chức vụ ấy, ít ra cũng phải dạy cho có đủ tư cách để lâm thời làm được hai chức vụ đó, và biết lấy đó làm hạnh phúc cho mình. Mà lại còn một lẽ sau này nữa: người đàn bà dẫu ở vào cảnh thuận, có chồng có con, công việc gia đình nặng đến đâu, cũng không làm cho mất được bản tính làm người, bản tính ấy đàn ông đàn bà đều như nhau. Đàn ông trước khi làm chồng làm cha, phải làm người đã; đàn bà trước khi làm vợ làm mẹ, cũng phải làm người đã, vậy thời trước khi dạy đàn bà cho biết bản phận trong gia đình, phải dạy cho trọn tư cách làm người đã.


 Điều đó là quan trọng, phải nên xét cho kỹ, người đàn bà không phải mới bắt đầu đã làm vợ làm mẹ ngay, rồi sau cũng không phải hết thảy ai ai cũng làm vợ làm mẹ cả, mà có nữa cũng chưa chắc mãi mãi đến già đời, và những khi lỗi cái cảnh như thế, có phải lỡ làng biết bao nhiêu; không phải người đàn bà nào, lấy chồng cũng lấy được chồng xứng đáng, và không phải người đàn bà nào, có chồng cũng có thể trông cậy ở chồng được. Như vậy mà bàn sự giáo dục đàn bà, chỉ có về một đường chồng con, thời đối với người gặp phải cảnh ngộ không thuận tiện ấy, chẳng là trái ngược lắm ru? Lấy cớ rằng giáo dục người đàn bà, là cốt để cho thuận cái cảnh đương nhiên theo cái định nghiệp sẵn, mà đối với một hạng người đàn bà vì cảnh ngộ riêng, không được gặp nơi nương dựa, lại cần phải ra xông pha với đời, để kiếm lấy nuôi thân. Cảnh này dầu con nhà phú quý vị tất đã tránh khỏi, thế thời nhiều khi khiến cho người đàn bà bơ vơ không biết đường nào mà tự lập ru? Cứ thực tế mà xét, đã hiển nhiên rằng: có nhiều người đàn bà không được gặp cảnh thuận làm vợ làm mẹ, mà phải tự lực làm lụng để nuôi thân, lại nhiều người đã thành gia thất, lại phải góa bụa, cũng phải tự lực làm lấy nuôi mình và nuôi con. Lại có người chồng con có, mà không thể trông cậy chồng con, cứ mấy lẽ đó, cũng đã đủ chứng cho trong việc giáo dục đàn bà con gái, phải dùng hết phương pháp dạy cho đến nơi đến chốn, để cho sau này, gặp cảnh ngộ nào, cũng có thể tự lập được cả”.


 Sau bài kết luận lại có mấy câu rằng: “Theo ý kiến của tôi và vì các lẽ đã kể trên kia thời không nên hạn chế sự giáo dục người đàn bà con gái, có thể mở mang được đến đâu, phải nên hết sức mở mang, đó là một cái nghĩa vụ tối cao, tối thiết đối với một nửa phần người trong nhân loại, nửa này kể cũng chẳng kém gì nửa kia vậy”.


 Ấy hai cái phương châm giáo dục nữ lưu là thế, muốn lấy về mặt này mà xét với mặt bên kia, thời mặt này có cách viên mãn hơn, nhưng ngặt vì phần nhiều người đời chưa công nhận cho, là cũng tại có nhiều cớ ngăn trở. Một là tự người đời đã quen cái thói nếp cũ không muốn thay đổi nữa, yên trí rằng: con gái không cần phải dạy cho lắm, vì cái hạnh phúc chung thân của người đàn bà đều thuộc về người đàn ông làm nên; chỉ lấy đó làm vinh hạnh rồi, hà tất phải lo liệu, làm lụng cho nhọc; thế là tự bụng cha mẹ đã không muốn dạy cho con gái học hành mà làm gì. Hai là tại có một hạng người đàn ông vì cái tính thiên mếch, cái tính kiêu ngạo, thường muốn lấy cái thế lực mà áp chế những người đàn bà. Muốn hạn chế sự giáo dục của đàn bà lại, chỉ để riêng một thân mình là được hưởng cái địa vị tôn quý mà thôi, vậy thời khi nào còn muốn cho người đàn bà có tài trí nữa. Lại một số người tự bụng đàn bà con gái, cũng rất thích cái tính ỷ lại người ta, bé ở nhà trông mong nương nhờ cha mẹ, khôn lớn lấy chồng trông mong nhờ chồng, ít muốn mưu sự tự lập, vì hiểu lầm câu: “Khéo làm tôi vụng”, câu ấy do câu: “Xảo dã lao nhi chuyết dã dật”[4] mà ra. Song xét lời đó là những người khôn khéo mà than thở vì cảnh ngộ, chớ không phải người vụng về, biếng nhác tự nhận lấy đặng. Trong lòng họ cứ nghĩ thầm không cần phải có trí thức lao động mà vẫn được hưởng sự hạnh phúc luôn, dầu có sa sút đổ cho số phận, hơi đâu dự tính những điều bất trắc như vậy, cho nên họ không cần có thêm học thức.


 Ôi! một cái vấn đề giáo dục mà có nhiều sự chướng ngại, khó giải quyết lắm thay! Nhưng tôi thiết tưởng, dầu phiền phức thế nào, khó khăn đến đâu, cũng nên hết sức mà giải quyết, để bổ cứu cho được.


 Vậy thời việc trước đã qua, không nên nhắc lại, việc sau chưa tới, không thể đoán đặng, chỉ lấy cái hiện trạng mà nói, thời từ khi nhờ ơn nhà nước bảo hộ, mở mang học thuật, không hạn con trai con gái, đều được lãnh phần giáo dục phổ thông hết thảy. Ấy là một cái cơ quan sẽ dìu dắt chúng ta bước lên con đường văn minh tiến hóa vậy.


 Chúng ta phải nên biết rằng: cái trí thức ngày nay cần phải tăng tiến mới hợp với trình độ cần phải khai thông, nếu để cho một số người cứ chịu nhiều sự thấp kém mãi, thời kẻ muốn bước tới, người lại lôi lui, cũng khó lòng cho sự tài năng phát triển được, ấy cho nên phép giáo dục cho đàn bà con gái, cũng là chính vì cuộc kinh tế chung của xã hội đó, chớ phải riêng gì một phần kinh tế trong gia đình mà thôi. Nhưng mà nói về phần ích lợi cho đàn bà con gái, thật cũng có ích lợi nhiều lắm, vì dạy cho biết mưu sự tự lập, phòng khi có xảy ra sự rủi ro, là cũng nhờ cái sinh kế mà được trọn vẹn nhân cách đối với nhân quần xã hội vậy.


 Trừ ra những người lão nhược không kể, còn như bọn thanh niên thời khuyên ai nấy kíp nên tìm phương học tập, ngõ hầu giúp thêm tư tưởng, mà bổ cứu cho những điều khuyết điểm, khi trước mình chưa làm đặng, mà nay đã làm đặng; khi bó buộc trí thức không có, kiến văn không bằng người, nay được ngang hàng cùng người mà học tập, khỏi hổ câu đàn bà nan hóa, cũng vinh hạnh thay!


 Ấy cái vinh hạnh, mà có biết vinh hạnh nhiên hậu mới vinh hạnh, nghĩa là đã có học, là tất phải làm. Làm sao cho khỏi sự người ta xem thường xem khinh mình, thế mới gọi là người có học thức, thế mới gọi là không phụ công ơn nhà nước giáo dục đã ban bố. Đây tôi lại xin bàn thêm cho rõ cái nghĩa làm người con gái đã chịu sự giáo dục, thời phải làm sao hết bổn phận, như khi ở nên thế nào cho trọn đạo làm con; lên năm lên ba, nỡ nói làm chi, nếu đã khôn lớn, tất phải dùm giúp công việc nhà cùng cha mẹ, và học thêm nghề nghiệp, lúc bận công việc học hành, cũng có lúc thì giờ rảnh rang. Lại nên chăm chỉ miếng ngon bùi, khi ấm lạnh, để cho cha mẹ được vui lòng, là cái ngày thừa hoan tấc dạ đó. Còn như khi đã “xuất cát” có chồng rồi, cái ngày bấy giờ là ngày thế nào, có phải cái ngày bắt đầu gây dựng cái đời của mình từ đó không? Nếu đồng tâm hiệp lực với nhau, cơ nghiệp vẻ vang ra, hay là đổ nát đi, cũng do bởi hai tay người có làm hết bổn phận cùng không. Bởi thế mà khi còn đương nhờ cha mẹ, đã cần học tập dần lên để cho sau này khỏi gặp sự lầm lỗi, công việc làm có quen, làm mới hoàn toàn, mà công việc trong gia đình, thời tùy theo cảnh ngộ của từng hạng người mà nói. Đã đành rằng ai ai cũng có gia đình, mà gia đình của kẻ sang giàu khác gia đình của kẻ thường thường bực trung, và kẻ nghèo hèn lại khác nữa. Cho nên sách có câu: “Tố phú quý hành hồ phú quý, tố bần tiện hành hồ bần tiện”. Tự mình có giàu sang mới nên làm cách giàu sang, tự mình nghèo hèn nên làm cách nghèo hèn, mới là người biết thủ bổn phận. Nếu người đàn bà sẵn có cơ nghiệp sang giầu, không cần phải tần tảo lắm; nhưng cũng phải biết lấy cách thủ thành, không phải là sự dễ đâu. Ai dám chắc, thừa hưởng sự phú quý, mà cứ được đời đời, lẽ nào cũng cần phải kinh doanh thêm, mới sung mãn được, song cái cách kinh doanh của người sang giàu, sung sướng hơn kẻ khác, miễn là lo sắp đặt công việc trong gia đình là đủ, lại phần trung quỹ là chủ khi chưng thường tế tự, khi tân khách vãng lai, việc ngoài đã có người đàn ông lo liệu, còn phần trong thời người đàn bà chủ trương, đó cũng là giúp đỡ một phần cho chồng.


 Đến như người gặp cảnh không sang giầu thời nghĩ sao? Thế tất phải chung vai gánh vác, mỗi người đều có nghề nghiệp trong tay, mà cũng làm mới có cái lạc thú trong gia đình được. Nếu cứ để yên một mình người đàn ông, đi sớm về tối, lao thần tiều tứ, phủ ngưỡng không đủ, mà người đàn bà chỉ lãnh lấy chức trách êm đềm, còn bao nhiêu việc khó nhọc đành giương mắt mà ngó, sao gọi là đồng tâm hiệp lực, sao gọi là làm hết bổn phận trong gia đình.


 Khi đã có con cái, là chức trách làm mẹ, phải có công nuôi và dạy, lúc bé thơ cho vào khuôn vào phép đã, rồi mới mong ngày sau theo thầy theo bạn mà học tập công này việc nọ, bằng chỉ biết có công sinh đẻ mà không biết có công dạy dỗ, thời chưa phải là đạo sinh thành. Sinh với thành, là đã sinh ra, tất phải tác thành cho con nữa, mới gọi là hết nghĩa vụ làm cha mẹ.


 Hữu Thanh  Số 27 & 28, năm 1922. Mục Văn đàn bà


 Vấn đề lý tài


Tục ngữ có câu: “Tiền tài là huyết mạch”, vậy thời người ta ở đời rất cần phải có của mới sống nổi. Cũng ví như thân thể con người, mạch máu có châu lưu, nhiên hậu người ấy mới có sức khỏe, chớ mạch máu có chỗ đình tụ, thời phát bệnh ngay; còn nhân sinh không có tiền của dụng độ thi thố giữa đời, thời có khác gì kẻ mắc phải bệnh ma mộc[5], thủ túc không cử động nổi, tuy sống cũng như chết, sống mà phải nương nhờ người ta, sống ấy cũng chẳng ích gì. Cho nên tiền tài là huyết mạch mà tiền tài lại là huyết mạch chung trong một nước nữa, bởi vậy trăm nghề khôn khéo đua tranh nhau, trên mặt thị trường đều do vì cuộc lý tài mà ra cả. Nếu cuộc lý tài đã eo hẹp, thế là hại cho đường sinh hoạt chung của xã hội. Một người không chịu làm công việc là đâu chỉ hại riêng một người; một người cố công cùng sức kinh doanh thành ra sự nghiệp to lớn có phải sự lợi ấy chỉ một mình người làm ra được hưởng lấy mà thôi đâu, thật là còn có nhiều cuộc ảnh hưởng đến cuộc sinh kế chung cộng vậy. Vì sao? Là vì sự vận động trong toàn thể xã hội, tất cần có nhiều tiền bạc làm đầu, có tiền mới có trí nảy nở ra nhiều công việc mà người trong xứ ấy đều có nghề nghiệp mà làm ăn.


 Lại có câu: “Tiền bạc đi trước, mực thước đi sau”, có tiền của thì lễ nghi mới kiêm bị, công ích công lợi nhờ thế mới khởi xướng chóng được. Vậy thời cái vấn đề lý tài lại gấp hơn các vấn đề khác thập bội. Dầu đàn ông, dầu đàn bà đã sinh ở đời, tất có quan hệ với đời một cái nghĩa vụ, nếu đã biết cái nghĩa vụ phải làm, tất phải biết phương pháp lý tài rồi mới gánh vác nổi.


 Lý tài nghĩa là làm cho ra của, mà lại phải hiểu cách dùng của, vậy sau có của mới làm ra nhiều của được.


 Một là: phải lao động mới làm ra tiền của.


 Hai là: phải kiên tâm bền chí mà làm, chớ không nên nửa đường thấy việc khó khăn mà bỏ.


 Ba là: phải tiết kiệm, ăn tiêu lấy số thường mà thôi, không nên quá ư xa xỉ, phòng khi có chỗ bất cập.


 Bốn là: tích súc làm ra bao nhiêu, phải tính có cái ăn tiêu, có cái chứa để, dồn khi một ít mà thành ra một số vốn lớn; ấy cái số vốn đó mới xoay ra lắm phương ích lợi hoặc cho con ăn học, hoặc khai khẩn ruộng đất, hoặc mở to cửa hàng buôn bán, hoặc khoáng trương công nghệ. Trong tứ dân vẫn đời nào nước nào cũng có, song phải nhờ có tư bản cho dồi dào, thời mới chấn hưng phát đạt ra được, nếu muốn cho con đi du học đặng thành tài mà tiền của không đủ, thời làm sao cho tốt nghiệp sự học đặng. Muốn khoáng trương về đường công nghệ, mà tiền của không có, thời lấy đâu mà dựng thành công xưởng lên nổi. Nghề buôn mà không có vốn to, thời làm sao tranh thương với người ta cho lại, để thâu quyền lợi về tay người mình; nghề nông mà không có vốn cho to, thì lấy gì mà khai khẩn đồn điền những nơi hoang phế, bất quá làm lắt lẻo năm mười mẫu quanh quẩn trong xóm làng thì còn có sự nghiệp gì thấm kịp người sau. Suy thế thời biết ở đời không nên lãng phí tiền bạc, đồng tiền là hữu dụng biết bao nhiêu công việc.


 Phương chi thời buổi bây giờ, thế giới mở mang người ta ngày càng khôn khéo lên mãi, công việc làm ăn ngày càng khó khăn hơn trước, nhân số sinh nở ngày càng đông. Hãy thử xét một nhà mà tính ra cả muôn nhà, tổng số chi dụng một năm bao nhiêu, có phải gấp bội hơn trước không, ví bằng tài sản không vận động tiến tới, thời tương lai e không khỏi cái cảnh tượng quẫn bách tiếp chân; “vi kim chi kế”[6], cái vấn đề lý tài tất phải cưỡng bách mới xong. Đã nói rằng nam nữ giáo dục bình đẳng, thời không hạn nhà nào, con trai con gái cũng đều phải cho học tập nghề nghiệp. Có biết làm ra của mới biết tiếc của, những nhà sang giàu cũng nên tập cách lao động cho quen. Cách ngôn Tây có câu: “Sự sinh nhai của người ta, ví như cái bánh lái vặn cho thuyền chạy, chớ có để cho nó trôi theo dòng nước chảy”. Đời đã khó kiếm tiền nổi, tất là phải run rủi nhau mà làm. Đàn bà con gái nước mình, xưa nay cũng có tính siêng năng làm lụng, nhưng đều thuộc về bọn thôn quê lam lũ hết thảy và bọn người hạ tiện làm thuê làm mướn đó mà thôi; còn phần nhiều người khuê các cái bệnh kiều dưỡng[7], tập quán di hại đã lâu đời lắm, không mấy thuở chịu lao động, cho lao động thuộc về bọn hạ lưu, thời còn có vận động được cái gì tăng tiến tài sản bằng các nhà có tư bản được.


 Mới đây nhờ có khai hóa về đường văn minh tiến bộ, nên cũng đã có nhiều nhà chịu cho con gái ăn học, đi sớm về tối, làm lụng công việc cũng như con trai, nhưng mà phần thì sự cầu danh tiếng mà học, phần thì trông có tiền của để xài phí cho sung sướng cái thân mới phải học, chớ không muốn làm lợi cho ai, thậm chí có người công việc làm lụng luôn luôn mà gia đình không chấn hưng lên nổi, còn mong gì bổ ích cho đời, nguyên do cũng vì tiêu phí rộng rãi thái quá, làm ra bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu. Bởi thế mà bao giờ chữ cần phải có chữ kiệm đứng bên cạnh, cần kiệm rồi mới có tích súc. Nếu cần mà không kiệm, chưa phải là nghĩa lý tài; huống hồ bổn phận người đàn bà, lại là chú trọng về hai chữ cần kiệm, sức nghỉn[8] mình yếu đuối kinh doanh khó kịp tay người, làm một tiêu mười, chẳng bỏ như không làm. Nói tóm lại thời lý tài rất phải cần kiệm, chị em ta những người có học thức, há chẳng nên cùng nhau giải quyết cái vấn đề ấy ru?


Trung Bắc Tân văn. Số ra ngày 9-1-1923. Mục Lời đàn bà


 Cần kiệm


Bài trước đã bàn về cái vấn đề lý tài nay lại tiếp bàn đến cần kiệm.


 Nói cho phải, sự cần kiệm thời thường người đàn bà nào cũng có cái tính ấy, hoặc nhiều hay là ít, chớ không phải toàn là không dưng đâu, thế mà ở trong gián hoặc có kẻ biết cần mà không biết kiệm, lại có kẻ biết kiệm ước mà không vụ sự cần lao. Thí dụ như người siêng làm công việc luôn luôn, cùi cụi cả ngày, mà thâu được bao nhiêu tiền bạc là xài phí hết bấy nhiêu, thế thì tuy siêng cũng như nhác. Còn kiệm mà không siêng làm việc, hình như tham và lận, bẩn thỉu dễ ghét lắm. Những khi giao thiệp với ai, hay lấn công lấn của người ta lấy làm thích, tự mình không ưng khó nhọc chút nào, mà lại ưng xâm phạm quyền lợi kẻ khác, thật là vô lý; không phải nghĩa chữ kiệm như thế đâu.


 Cách ngôn Tây có câu: “Cần là siêng làm mới mong có đặng, kiệm là để giữ cho còn lại, nếu cần mà không kiệm, có khác gì tay bên tả cúi lượm, tay bên hữu lại quăng ra”. Lại có câu: “Xa hoa là một cái nguyên nhân lớn làm cho suy nhược quốc dân”. Mà gần đây các thói xài phí coi ra tiến bộ rất chóng, không những phố phường đô hội, nữ tú nam thanh, đua tranh nhau về đường phục sức mà thôi, đến nơi quê mùa thôn xã, cũng nô nức sắm sửa tưng bừng. Nhà nào nhà nấy, đều chuộng cái hình thức văn minh bề ngoài, chưa giàu đã lấy làm có. Nào là đồ trần thiết trong nhà, cho có kiểu Tây kiểu Tàu mới sang. Nào là ăn mặc trau chuốt trong mình, hàng cẩm nhung, cẩm châu, sa tanh, cát sơ mia mới đẹp. Nghĩ như thế tiền của còn chi, cả năm lặn lội làm cho mặt tắt mày tối, mới ra đồng tiền, mỗi đến một cái tết, hao mất không biết mấy là của.


 Về phần đàn bà con gái, lại còn một điều chú trọng hơn hết, là đồ nữ trang nào vòng, nào xuyến, nào hoa, nào hột, có thời mua tiền mặt, không thời mua chịu, hoặc đồ vàng thật, hoặc đồ vàng mạ xuy, chỉ vụ cần cái mỹ quan trước con mắt người ta, chớ không kể hao tốn thiệt hại về sau. Lắm người cũng vì thế mà vỡ nợ, đến khi hồi tưởng, e cũng héo khô từng đoạn ruột, chẳng phải không. Ôi! Cái hại so sánh ăn mặc có ra chi, sao không ngó coi người ta so sánh với nhau, là những nghề nghiệp mới nên so sánh; chết nỗi người nào không được như thế, chị em chúng bạn lại mỉa mai, cho là hủ lậu và sâu róm kia mà. Nên chi dần nhà nào, trong nhà vẫn có một vài người làm việc, hay buôn bán, nhưng cách ăn tiêu quá rộng, thời cũng chẳng thấm vào đâu. Bởi thế mà tục ngữ ta cũng có câu: “Buôn Ngô, buôn Lào không bằng hà tiện”.


Trung Bắc Tân văn. Số ra ngày 20-1-1923. Mục Lời đàn bà


Miếng trầu điếu thuốc


Người ta khi ngồi trò chuyện cùng nhau, không có miếng trầu điếu thuốc thời cũng lạt lẽo; hoặc khi phẩm bình thơ phú, khi trước thuật văn chương dồi mài đẽo gọt, mà không có khói trắng phì phèo, môi son nhóp nhép, làm tư vị trợ hứng cho cuộc ngâm nga, nghe như cũng một thú lắm ru; cho đến những người làm lụng công việc, bọn lao động thợ thuyền, kẻ cày cấy ruộng đất, đều cần lấy miếng trầu điếu thuốc làm vui, mới quên hết mỏi mệt đi đặng; cho nên ai cũng có ăn cau trầu, hút thuốc giấy; nhưng có mà đừng dùng nhiều quá, thời cũng không hại gì. Chỉ có hại một điều là người mình đã biết cái tập quán của người mình hay dùng cau trầu thuốc giấy, mà sao không biết lợi dụng sự buôn bán cho người bản xứ tiêu thụ lấy thổ sản của nước mình, mà lại để cho người ngoài chiếm mất phần lợi, thật là uổng quá.


 Năm nào cũng đến mùa cau khô, ở Trung kỳ tải ra ngoài Bắc, cũng người Khách trú thầu hết, còn người mình thì chịu phần khó nhọc, nai lưng bửa chẻ phơi sấy cho khô khén, mà rút lại lời lãi chẳng đặng bao nhiêu vì nhà vận tải đã ăn hết, cầm giá cao hạ cũng do trong tay người cầm cân, mua sao nhờ vậy, bán răng chịu rứa; hóa vật của mình, công lao của người mình làm ra, mà tiêu thụ cũng chỉ người mình tiêu thụ với nhau đó mà thôi, chớ cũng không có người nước nào mà ăn tiêu cau khô đến. Thế mà sự buôn bán lại phải gián đoạn ra một tầng khúc giữa thành ra quyền lợi của người mình mất hết, nghĩ đã phiền chưa.


 Đến như thuốc lá cũng vậy, ở Trung kỳ có tiếng thuốc lá ngon, như Quảng Nam làng Cẩm lệ, Thừa Thiên làng Mỹ Lợi, Quảng Trị làng Cùa, Quảng Bình làng Hạ, xứ Sen, xứ Bụt v.v… đều là thổ nghi trồng thuốc lá ngon hết thảy, đã thơm khói lại trắng tàn. Nhưng mà ở trong các thứ thuốc lá, thời thuốc Cẩm Lệ lại có phần đặc sắc hơn, cho nên lại thuộc về các hiệu Khách đặt thửa trước hết, mà người mình có muốn mua thực thuốc Cẩm Lệ, cũng ít đặng thứ thuốc tinh toàn thuốc Cẩm Lệ vậy, chính người ở đất Cẩm Lệ vẫn nói như thế. Cái cách buôn bán họ rất là khôn khéo, cho đến các hàng xén, bán thuốc quả, thuốc gói mà cũng lấn phần hơn người mình, chớ không đợi hàng to vốn lớn mới chiếm cái địa vị tối cao hơn người mình đâu, tưởng các nhà thương hộ cũng nên lưu tâm mà bổ cứu lại.


 Lại còn một điều, uốc dân ta nên chú ý đến, từ xưa nay chúng ta chỉ dùng thuốc lá thì của bản xứ trồng ra, mà giấy vấn thuốc lại là giấy của Tàu đem sang bán cho mình, thế thời người mình cũng nên tìm cách làm ra một thứ giấy như giấy quyến (nguyên giáp) ấy mà dùng, chẳng là hoàn toàn hơn hay sao. Tôi có nghe các ngài tiền bối thuật chuyện lại rằng: ngày trước có đức ông Ninh Thuận vương xơi thuốc điếu thường dùng thứ giấy tinh mỏng của ta vấn thuốc mà không dùng giấy quyến Tàu, vì ngài nói: “Thuốc mình thời nên dùng giấy mình cho tiện”. Coi như thế thời lúc ấy cách xa bây giờ bốn mươi, năm mươi năm, mà cũng đã có cái lý tưởng như vậy, huống hồ đời này cái nghề làm giấy đã phát minh được nhiều thứ lắm. Các nhà tri thức bác học đa văn nước mình, há chẳng nên nghiên cứu sự làm giấy, mà lợi dụng cho hóa vật của mình, thời hữu ích biết bao nhiêu, để chi lỡ dở nửa mình nửa người khó coi lắm.


 Tôi tuy là phụ nhân, nhưng cũng hâm mộ sự tiến hóa của quốc dân, mong sao ngày đêm phát đạt thăng tiến, vậy có mấy lời thô sơ bày tỏ, xin các ngài cao minh hải nội tâm lượng cho, chớ lấy làm cười, thời may lắm, mà sau này việc ấy có thành công như lòng sở ước đó, thời lại may cho đường kinh tế của xã hội vậy.


 Trung Bắc Tân văn. Số ra ngày 12-2-1923. Mục Lời đàn bà


Ăn Tết


Năm cũ vừa qua, năm mới đã tới. Tết tức là tiết, nghĩa là tiết nhựt; không có tiết gì trọng bằng tiết ấy; tức là ngày đầu trong 365 ngày. Cho nên sự vui mừng chung cộng khắp cả dân tộc, dẫu xứ nào nước nào cũng vậy; nước mình tục có cúng ông bà, cúng thần linh, ấy là do tại cái lòng thành kính xưa nay của người mình, hay tưởng niệm, hay sùng bái, mỗi khi có việc gì vui mừng, cũng đều cúng bái hết thảy, phi chỉ là ngày ăn Tết mà thôi. Huống hồ quanh năm theo việc vua quan, theo nghề buôn bán, hoặc làm nghề nghiệp, bận lắm công việc không rảnh mà ăn chơi, trừ ra đợi đến ngày Tết, mới có làm lễ vui mừng, trước cúng sau ăn, hủ hỉ cùng anh em, bà con bạn tác, đi lại với nhau trong ba ngày xuân, rồi ra ai có công việc nấy, không mấy khi lại sum vầy như thế. Bởi vậy cho nên nhà nào dầu sang giàu, dầu nghèo hèn, ai ai cũng sắm sửa đồ ăn thức mặc: có, thời mâm cao cỗ đầy; không, thời bát cơm đĩa cá; có, thì hắng- giẽ; không, thì vải bố, vụ cho trong lành sạch sẽ, ngõ hầu hưởng phần lạc với sự đời.


 Đàn bà con gái thì sắm sửa làm bánh làm mứt cho khéo, đồ ăn đồ uống cho ngon, chực đãi quan khách. Nhà nào không được chỉnh tề lại sợ người ta chê cười tay nội trợ không được khôn khéo; vì thế mà đua tranh nhau, càng ngày càng phô bày lắm sự phiền phức, chớ nguyên cổ lễ thì cũng không dùng chi cho lắm, và đồ vàng mã là tự mấy người hay theo đồng bóng mà bày đặt ra đó mà thôi, nếu tùy tiện theo gia phong của mỗi nhà, làm sao cho thích trung là đúng.


 Cận lai cái sự chơi bời của người đời không những ăn Tết mà cần phải sắm sửa, dẫu ngày thường mà cũng như ngày Tết, hết tiệc này sang lễ khác, nô nức ăn chơi xem ra ngày thường cũng ăn mặc chừng nấy mà ngày Tết thì cũng chừng nấy. Hình như cái lễ ăn Tết của người nhà quê có lẽ vui thích hơn người ở thành phố, mà thực thế. Cái cảnh nhà quê ăn Tết bất quá bánh chưng, bánh tét, thịt hầm, thịt hon, mà nếp gạo sẵn trong nhà, heo gà sẵn của nuôi, không tốn bao nhiêu nữa, một năm chỉ ăn chơi một lần, thì số tiền ấy cũng dành để từ trước. Hoặc hội làm ruộng, hội đi gặt, hội đi cấy, năm mười người chung vốn lại một, đến tết ăn heo, ăn bánh, có người góp hai ba hội ăn uống rất phủ phê, rượu trà phong lưu đủ vẻ, không đến nỗi chạy sấp, chạy ngửa lo câu năm hết tết tới, thành ra cái Tết là cái âu sầu, chớ có phải cái tết là cái vui vẻ chi đâu. Nên chi có người bàn giảm ăn Tết đi cũng phải. Nếu ăn Tết mà đừng phiền hà xa xỉ chi lắm, thời bất tất phải giảm, vì giảm ăn Tết chỉ một phần, mà ngày thường xa phí chín mười phần, chẳng bỏ chi cứ ăn Tết, mà chơi cho có điều độ, đừng nên chơi quá làm mất thì giờ hữu dụng là xứng đáng đó. Chị em mình ai có tài nghệ khéo bánh khéo mứt, cũng nên nhân dịp ăn Tết này mà đấu xảo, để cho nổi tiếng phụ công, há chẳng thú vị lắm ư?


 Trung Bắc Tân văn. Số ra ngày 14-2-1923; Mục Lời đàn bà


 


Đoản thiên thi thoại


Đọc báo Trung Bắc Tân văn số 1703 có mục thơ sách họa của cô Uyển Phương Phạm Thị Lan làm hai bài, buộc phải lấy danh mục tiểu thuyết trong hai báo Đông dương Tạp chí và Trung Bắc Tân văn mà làm thôi; bài nguyên tác đọc từng câu, lời lẽ tao nhã, nghe cũng êm ái. Song bài thứ hai thì trùng đi hai vận tình, không hợp với thi pháp một tí, vậy xin trích họa một bài thứ nhất để mua vui cùng chị em, kẻo nữa lãnh lạt trong chốn ngâm đàn, người ta coi vào như “Hình doãn tị diện” thành ra không đáng. Mà nếu đã họa lại, thời phải nên thông hiểu nghĩa lý ý tứ của nguyên xướng làm sao mới có thể họa được, thế là cần coi chỗ mạng đề cho kỹ; nay hai bài đều không đề cả, để tự ý ai muốn nói gì thì nói, miễn sao đủ vần đủ câu và có các danh mục tiểu thuyết là đủ, thật là cho phép rộng rãi thái quá, thiết tưởng thi nhơn xưa nay chưa bao giờ có cái hạn lệ như vậy. Cách làm thơ cũng có một cách gọi là “Thi vô đề” thì cái thể làm thơ vô đề lại càng khó lắm. Vì thơ vô đề là thơ diễm tình, hoa nguyệt phóng hoài hết thảy, ý tứ phải thâm thúy, thác từ phải bóng bảy, trong cái tình cảnh có không, không có, khiến cho người ta mơ màng tự nhiên mà biết, chớ không phải chỉ rõ ra như các lối thơ vịnh vật, như thơ đề họa. Vả những lối thơ vô đề toàn không hợp với tư cách chị em mình làm mà chơi bao giờ, vì nói những tiếng phong nguyệt vơ vẩn, thì bọn nam tử họ cười là người lãng xao. Vả lại làm thơ phải có đề, để câu thơ dóng đề mà làm, chớ không thì nói mênh mông quá, mỗi câu đi mỗi đường, mất hết phép tắc, khởi, thừa, chuyển, hiệp, còn chi là thi vị thi thú.


 Vậy nên ý tôi thiển nghĩ, bài này mạng đề là “Khuê từ”, mà tập tiểu thuyết danh mục, cũng như người Tàu, tập “Đa- lệ- bài” vậy, toàn lấy tên các vị mỹ nhân đời xưa, mà lập thành một bài thơ. Tuy nhiên họ lập danh hiệu các mỹ nhân mà làm nhưng bài nào đều có đề cả, lại yếu tại có nghĩa lý, mạch lạc quán thông, trong một bài tám câu, hay là bốn câu, ý tứ phải châu đáo; trong một câu bảy chữ, bốn chữ trên phải niêm với ba chữ dưới, hoặc hai chữ trên, bất câu về danh mục gì, nhưng đã dùng vào thời phải liền với năm chữ dưới thành một hơi, nhiên hậu câu thơ mới không bệnh, ấy mới gọi “Bất dĩ từ hại ý”.


 Than ôi! làm thơ là khó lắm, cổ nhân đã có câu: “Đàm hà dung dị thuyết công thi”[9], lại có câu: “Tác thi nan, bình thi vưu nan”. Tôi là người chi đây mà dám lạm bàn cách làm thơ. Song lẽ, cách làm thơ có phải bấy nhiêu là đủ đâu, đây chẳng qua là nói riêng về một lối thơ tiểu xảo làm chơi đó mà thôi, cho nên tôi xin góp một vài lời thiển cận giãi bày cùng bạn gái. Tóm lại là ý tôi sở dĩ nói có ba điều: 1. Làm thơ tất phải có đề và giữ cho khỏi lạc đề. 2. Trùng vận, xuất vận, thất vận, thất luật là thi gia chi tối kỵ. 3. Làm bài thơ ra, hay dở mặc dầu, nhưng cốt làm sao phải có nghĩa lý cho đủ, đã là người làm thơ, vẫn biết, điệu làm thơ đối với ngày nay cũng chẳng có ích gì cho đời, nhưng mà đã muốn cách phong nhã tiêu khiển, thì phải nên biết rằng: nghề chơi cũng lắm công phu.


Bài thơ họa lại như sau này:


KHUÊ TỨ


 (Dùng cách lập các danh mục tiểu thuyết)


 


“Giọt nước ngành dương” ngộ sắc không


Này “Gương son phấn” cũng anh hùng


Truyện “Tê- lê- mặc” in chưa mấy


Sách “Việt- di- ni” giống lạ lùng


“Lấy hiếu làm trinh” còn nặng nhẹ


“Thấy vàng tối mắt” hết riêng chung


“Nữ nô cứu chúa” thương cho kẻ


“Bể ái đầy vơi” phụ tấm lòng.


Trung Bắc Tân văn. Số 1778 ra ngày 23-2-1923; Mục Lời đàn bà


(còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.


www.trieuxuan.info







[1] Tượng: phép tắc.




[2] Tạo đoan phu phụ vi thủy: sinh ra đầu mối trước tiên của đạo vợ chồng.




[3] Miên viễn lưu truyền: lưu truyền về lâu dài.




[4] Xảo dã lao nhi chuyết dã dật: người khéo thì vất vả, kẻ vụng thì nhàn hạ.




[5] Bệnh ma mộc: vì huyết dịch lưu chuyển không thông nên có chỗ mất hết tri giác.




[6] Vi kim chi kế: kế làm ra tiền bạc.




[7] Kiều dưỡng: nâng niu chiều chuộng quá mức.




[8] Sức nghỉn: sức lực (Tiếng địa phương).




[9] Đàm hà dung dị thuyết công thi, nghĩa là: Nào dễ nói là khéo làm thơ.



trieuxuan.info