28.09.2013
Nguyễn Mạnh Tường
Kẻ bị mất phép thông công (2)

- Bằng cách chiếm hữu, một cách không tốn kém và cũng chẳng có chứng cớ chi, một gốc gác siêu phàm, một thực thể vô hình, bằng cách cho mình là Quốc Gia, kẻ chuyên quyền tự cho mình đứng trên dân chúng, và vì thế được miễn trách mọi trách nhiệm. Kẻ chuyên quyền cộng sản hãnh diện là những người duy vật vô thần thì không kêu rằng họ có nguồn gốc siêu phàm. Họ cũng chẳng cho rằng họ là Quốc Gia. Chỉ có lực lượng nhân dân đưa họ lên đỉnh của quyền lực.


Rất thú vị nếu chúng ta cùng nhau phân tích tiến trình này, nó không giống như tiến trình nắm chính quyền như thời quân chủ chuyên chế.


- Vào thế kỷ 17, ở Pháp, do sự chia rẽ của giai cấp phong kiến và đồng thời cũng nhờ sự tham lam kinh hoàng của giai cấp tư sản đồng minh, nền quân chủ đã thắng phong kiến một cách khó khăn (phong kiến vẫn chưa thừa nhận sự thất bại), quyền lực như tù trên Trời rơi xuống. Biểu tượng “vua-mặt trời” chỉ là để chỉ sự khao khát của Triều Đình chứ không có nghĩa là Thiên Đàng hay Ý Trời. Vua Louis XIV tuyên bố “Quốc Gia là ta!” Nhưng, khi ông ta tự nhận mình là Quốc Gia thì ông ta không hề nhận là có trách nhiệm với nhân dân. La Bruyère và Fenneton tố cáo dân chúng nghèo khổ kinh hoàng nhưng nhà vua không hề cảm thấy có trách nhiệm cho hoàn cảnh đang xảy ra. Câu nói lịch sử mà ông ta nói là chỉ để giữ một ý đơn giản là ông ta sẽ dùng quyền hành mình để đập tan mọi mầm mống phiến loạn, tiêu diệt mọi mầm bệnh truyền nhiểm gây chia rẽ và làm tan rả sự thống nhất còn đang dao động của Đất Nước. Việc lên ngôi của vua Louis XIV được quy định bởi Luật của Triều Đình, nhưng cuộc xung đột chính trị với giai cấp phong kiến mà ông ta tiến hành lại được sự ủng hộ của nhân dân, của giới tài phiệt, giới tư sản trí thức và giới tư sản nghị viện. Nếu ông ta không phải là nạn nhân của những điều ngớ ngẫn vô ích của chính ông ta, nếu ông ta có những cái nhìn chính xác và gẫy gọn về những quyền lợi hiện tại và tương lai, ông ta đã phải dựa vào dân thì nước Pháp đã tránh được một cuộc Cách Mạng.


Đối với những gì liên quan đến Liên Xô, nhân dân đã thoát những ngày gian khổ vào cuối triều Louis XIV. Liên Xô đã hưởng vinh quang và sự vĩ đại của một cường quốc. Nhưng chỉ có Thượng Đế mới biết giá phải trả là bao nhiêu cho việc này? Sau cái chết của Staline, nhờ những hớ hênh ít nhiều được dàn dựng, và cũng nhờ những lời kêu than vì đau đớn, tiếng gầm uất hận của hàng ngàn hàng vạn gia đình, khắp miền Đất Nước, có con có chồng bị giết, bị tra tấn đến chết trong những trại, những lao tù ở Siberia, sự thật về Stalin đã được mọi người biết. Chính quyền cách mạng, vừa mới được xây dựng, còn đang chao đảo, và kẻ thù, trong và ngoài nước, chỉ mong nó chết đi. Cần thiết phải có một người với nắm tay sắt để lèo lái những bước đi, để sống còn và phát triển. Kết quả đã vượt qua những hy vọng. Từ một nước yếu kém, kinh tế yếu kém, chúng ta đã thành một sức mạnh quân sự đủ sức đánh bại quân phát xít Hitler và trở thành một trong những nền kinh tế dẫn đầu thế giới. Stalin xứng đáng được dân chúng tôn sùng vì đã được sống những giờ phút vinh quang của Lịch Sử Liên Xô. Bất hạnh thay, ông ta cũng phạm những tội ác kinh hoàng mà hồ sơ chồng chất năm này qua năm nọ.


Tiến trình nắm chính quyền của những kẻ chuyên quyền cộng sản ở Việt Nam lại là một tiến trình bình thường. Vô số quần chúng ở nông thôn, được kích động bởi một số người, vỡ oà ra hiểu rõ nỗi thống khổ của mình: bị bóc lột bởi phong kiến, bị đàn áp bởi thực dân… Ngày 19 tháng 8 năm 1945, dựa vào thế thuận lợi lịch sử của tình hình thế giới, mặt khác trận đói kinh hoàng đã giết hàng triệu sinh mạng, những người kích động dân chúng còn sống sót nổi dậy và tiêu diệt kẻ thù, chiến đấu mãnh liệt để chiếm lấy thức ăn và áo mặc. Mục tiêu rất đơn giản và rõ ràng, nhưng bọn chuyên quyền đã thất bại và không đạt được mục tiêu tưởng chừng như ít ỏi đó. Mặc dầu vậy, khẩu hiệu “Cơm ăn, áo mặc” cũng đủ biến giai cấp nông dân thành kẻ cuồng tín và biến họ thành những kẻ đi theo cách mạng. Vì thế, cách mạng thành công là nhờ lực lượng quần chúng. Nhưng phe cách mạng cảm thấy cần chính thức hoá sự thành công của mình bằng một cuộc bầu cử Quốc Hội. Không thành vấn đề nếu mà tuyệt đại đa số các đại biểu là thất học, không hề hiểu ý nghĩa của lá phiếu mà họ được mời tham gia. Họ đến tham gia Quốc Hội theo tiếng gọi của một đợt tuyên truyền rất chuyên nghiệp và đến bỏ phiếu thế thôi. Thủ tục hình thức Luật định đã được cứu vãn, nền “Dân Chủ” đã thành hình và những người làm Cách Mạng hả hê vì đã kết dính sự hợp nhất của họ với nhân dân.


- Còn có những gì cần khác hơn?


- Vẻ bề ngoài như thế là đủ. Nhưng có kẻ còn muốn vượt qua vẻ bề ngoài để cố gắng nắm cái thực tiễn. Dù không biết đọc, biết viết, nhưng người ta đã bỏ phiếu và diễn tả rõ ràng ước muốn của mình. Đây là chỗ hiểu lầm, mà như một số người đã nói, mà thảm cảnh bắt nguồn. Người Cộng Sản tưởng rằng đã chiếm được trái tim của nhân dân. Nhưng đó chỉ là một ảo tưởng mà dù sớm hay muộn họ phải dứt bỏ. Lý do hay nhất là, vào những năm 1945-46, có một số người mà con số không quá mười đầu ngón tay, từ Liên Xô hay Trung Quốc quay về nước với một mớ mơ hồ và không rõ ràng về chủ nghĩa Cộng Sản.


- Nhưng người dân đã dùng lá phiếu để bầu cho ai?


- Người ta sẽ trả lời cho bạn là họ bầu cho ông Hồ Chí Minh, họ không bầu cho con người cộng sản đang giấu mặt kín bưng trong cuộc chơi và con người đó không hề đả động gì đến việc đấu tranh giai cấp, nhưng, với dáng dấp một nhà nho truyền thống, với chùm râu không thể thiếu, ông ta chỉ có một câu nói trên cửa miệng: “Đoàn kết, đại đoàn kết”, có nghĩa như ông ta đang đặt mình là người đối lập với đấu tranh giai cấp. Một vài lão thành cộng sản đã xì xầm là ông ta đã từng tự phê bình trước mặt Stalin! Trong bất cứ chuyện gì, tên Hồ Chí Minh đã trở thành bùa chú để chống tai ương và mang lại hạnh phúc. Tệ sùng bái cá nhân đã thành hình, ông ta đã được thần tượng hoá, tên ông ta được dùng khắp nơi, quyền lực của ông được xử dụng để đưa nhân dân vào thế là người có lỗi càng nhiều càng tốt [*]. Vì vậy, huyền thoại Hồ Chí Minh chỉ toả ra một ý nghĩa dân tộc và không cộng sản, trong khi Đảng, cố tình hay vô ý, kéo cả tấm chăn về phía mình và chiếm hưởng tất cả niềm tin của nhân dân.


- Đây là một sự lập lờ đánh lận con đen nhưng nó bi thảm ở chỗ nào?


- Bi thảm là ở chỗ chính Đảng đã tự lừa dối mình, nghĩ rằng mình có thể đưa ra những đường lối chính trị trẻ con phát xuất từ bệnh ấu trĩ, duy ý chí, chủ quan, vi phạm những định luật của khoa học, quay lưng lại với thực tiễn, những chính sách này sớm hay muộn cũng sẽ đưa Đất Nước vào sự nghèo túng và đưa nhân dân vào sự đau khổ. Bên cạnh đó, với niềm tin cho rằng mình là vô địch, Đảng nghĩ rằng mình có thể áp chế nhân dân, chơi đùa trên sinh mạng của họ, buông lơi Luật Pháp, hành động với sự tàn ác vô nhân tính như đã xảy ra trong đợt Cải Cách Ruộng Đất, một kỷ niệm đau buồn không bao giờ quên được trong tâm khảm của người dân. Vì vậy, vấn đề quan tâm là trách nhiệm của Nhà Nước và chính xác hơn, là trách nhiệm của bọn chuyên quyền đã thống trị nó.


- Một nghiên cứu về những kẻ chuyên chế trên thế giới trong lịch sử và qua thời gian đã cho thấy chúng có những nét chung không thay đổi mà chúng ta cần phải nhớ đến. Thứ nhất, ngay cả trong thời kỳ xưa kia của nền quân chủ chuyên chính, vai trò của nhân dân luôn luôn là quyết định, dù rằng họ không đóng vai nổi bật trên chính trường. Mọi cuộc đảo chánh, mọi cuộc Cách Mạng chỉ có thể thành công nếu được nhân dân đồng tình ủng hộ. Chủ nghĩa Marx nói đúng khi cho rằng lịch sử là do quần chúng làm nên. Những học thuyết chủ nghĩa, những lý thuyết đều phát nguồn từ bộ óc của cá nhân, nhưng hành động, muốn có hiệu quả, lại phải tuỳ thuộc vào khả năng và sức năng động của quần chúng. Chủ nghĩa Marx đã dạy điều như thế nhưng những tay chuyên quyền lại hay quên hay không để ý đến. Những tay chuyên quyền khi đã đạt địa vị thì quay lưng và tự cô lập mình và xa rời quần chúng, không còn lắng nghe tiếng nói hay lời than phiền, ước vọng của nhân dân. Chúng gây hại cho nhân dân, chúng bịt tai thành điếc nên không còn nghe lời than van hay đòi hỏi của nhân dân, và như thế họ đã tự giết cả chính mình.


Vì thế, cần phải biết rằng có một ràng buộc qua lại giữa kẻ nắm quyền và nhân dân. Một khi được nhân dân đưa lên đỉnh cao của quyền lực, kẻ nắm quyền phải có trách nhiệm lo cho quyền lợi của nhân dân, và trong mức có thể, họ phải làm tăng trưởng quyền lợi của nhân dân theo số lượng và chất lượng. Một thoả thuận hai bên giữa những kẻ nắm quyền và nhân dân, dù không bằng văn bản hay lời nói, nhưng dưới dạng hiểu ngầm, căn cứ trên những truyền thống lịch sử hay xã hội. Ngay khi những kẻ chuyên quyền vi phạm bổn phận của mình, gây hại cho quần chúng thì lập tức quần chúng được qưyền huỷ bỏ những ràng buộc về phần họ; kẻ chuyên quyền sẽ bị nhân dân trừng phạt và có thể bị nhân dân áp đặt án tử hình.


- Hơn thế nữa, trong suốt thời gian nắm quyền, bất kể kẻ cầm quyền nào cũng thực hiện những chuyện tốt lẫn chuyện xấu. Nhưng dù đã thực hiện được nhiều chuyện tốt cho dân chúng họ vẫn không thể được miễn trách cho những chuyện xấu mà họ đã gây ra. Chỉ có nhân dân mới có cái quyền tối thượng đưa ra phán xét là giữa cái tốt và cái xấu cái nào nặng hơn cái nào. Nếu cái tốt thắng, thì cán cân nghiêng về phía kẻ nắm quyền, và họ sẽ được dân chúng biết ơn một cách chân thành, họ sẽ được đưa vào vinh quang của Lịch Sử mà con cháu đời sau sẽ luôn nhớ! Nhưng nếu cán cân nghiêng sâu về phía xấu, trong cuộc đời của họ, họ sẽ bị hạ bệ vứt đi, và sau khi chết, tên họ sẽ bị nguyền rủa muôn đời.


- Trường hợp của Stalin là môt ví dụ điển hình. Ông ta đã thực hiện được một số lớn chuyện tốt nhưng đồng thời cũng làm một số lớn chuyện xấu. Nhưng không có ai dám chỉ trích những việc xấu mà Stalin đã làm vì cái nguy hiểm kèm theo rất cao. Cái tệ hại nhất là hồi ấy người đời tranh nhau ca tụng Stalin! Bây giờ thì công lý đã có cơ hội để vận hành những nguyên tắc mà dân chúng đã xây dựng qua những tháng ngày sống trong đắng cay và đau đớn. Từ nay trở đi, không có kẻ cầm quyền nào có thể đòi hỏi là những chuyện tốt họ đã làm có thể làm tan biến trách nhiệm về những tội ác mà họ đã để lại nỗi kinh hoàng trong tâm trí của người dân lương thiện. Đó là những trách nhiệm có tính hình sự. Có những tình huống làm nặng thêm hay làm giảm nhẹ tội, nhưng dứt khoát là không có chuyện miễn tội.


- Đây không phải là chuyện xử tội kẻ cầm quyền, mà là chuyện những con người phải trả lời về những tội ác mà họ đã làm. Nhưng, khi mà những sai lầm, hư hại phát xuất từ một chính sách hay đường lối chính trị, sự tàn phá có thể là gây ra trên bình diện rộng lớn và tan thương, trách nhiệm của kẻ cầm quyền vẫn được coi là chính trị… Không có gì đáng ngạc nhiên: trong bậc thang giá trị của con người, mạng sống là luôn luôn cao hơn những của cải vật chất mà họ nắm trong tay. Mặc dù vậy, đã có những người bị mất mạng vì sự cẩu thả, vô ý hay có khi vì chủ ý xấu của người hay một cơ quan của Nhà Nước. Dĩ nhiên, nếu người phạm tội một cách có ý thức, người này phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của họ trước Pháp Luật, nhưng rất nhiều khi họ không có tiền để bồi thường những thiệt hại cho nạn nhân hay trả tiền cho thân nhân của người bị chết. Nhà Nước phải chịu trách nhiệm một cách gián tiếp, dựa trên tính liên đới giữa kẻ phạm tội là người đã hành động trong khuôn khổ trách nhiệm được nhà nước giao phó. Nếu không, đó là một trách nhiệm tập thể của chính quyền đã gây ra thiệt hại trong khi thi hành một công việc mà Nhà Nước hay kẻ cầm quyền trao cho, đã vô tình gây thiệt hại vật chất cho một hay nhiều công dân, nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do nhân viên của mình gây ra. Ở Pháp, nguyên tắc trách nhiệm hành chánh của Nhà Nước và của tập thể công nhân viên nhà nước là được công nhận. Có nhiều cấp Toà Án hành chánh mà cao nhất là Hội Đồng Quốc gia (Conseil d’Etat) mà quyền cao nhất là có thể huỷ bỏ một phần hay toàn diện những quyết định hành chánh nếu những quyết định này gây ra thiệt hại vật chất cho công dân. Rủi thay, tôi nghĩ rằng tôi sẽ không lầm khi phải khằng định rằng ở các nước Cộng Sản, Nhà Nước chối bỏ việc chịu trách nhiệm hành chánh, không hề tổ chức những Toà Án Hành Chánh có quyền xét xử Nhà Nước và những đơn vị hành chánh thuộc quyền của Nhà Nước. Vì thế có những vùng rộng lớn mà nhà cầm quyền hành xử như vợ của Caesar – theo ý thích và không sợ ai phán xét. Các cấp cầm quyền cấp dưới và dưới nữa lợi dụng tình hình này ra sức áp bức và khai thác nhân dân là những người mà họ tiếp xúc hàng ngày.


Nếu lãnh vực vô trách nhiệm chính trị càng lớn hơn thì hậu quả lại càng không thể đo lường và sửa chửa được. Nhà Nước chỉ là bàn tay nối dài của Đảng và con người lãnh đạo Đảng chính là người đang nắm trọn quyền lực. Nhân dân không là gì hết, tiếng nói của họ đã bị bịt kín. Tất cả những bộ phận của Nhà Nước là gồm những con người của Đảng hay những người toàn tâm toàn ý với Đảng; tất cả cái giống người này chỉ có cái lưỡi gỗ và cái lưng cong cúi luồn với chủ. Trong những điều kiện như thế, làm sao có được những tiếng nói dấy lên để đòi truất phế và thay những kẻ bạo quyền, hay ít ra là để đưa ra những đề nghị, những ý kiến để làm đứng lại cái xe đang lao mình với tốc độ kinh hoàng về phía hố sâu của sự xấu? Mọi chuyện được quyết định từ hậu cung của Đảng, nơi Thần Bí nhất của Thiên Cung, bao quanh bởi một vòng thành kín bưng như Vạn Lý Trường Thành bên Trung Quốc!


Người ta không thể nói chuyện về trách nhiệm, về Luật Pháp đối với chuyện một con cọp đang sẵn sàng ăn tươi con mồi trước mặt. Chưa bao giờ trong lịch sử con người mà lưỡi tầm sét của Thần Zeus – tức cái búa của Thiên Lôi – cùng với cây gậy thần của Circé lại nằm cả trong tay của một người, làm thành một bộ máy thống trị và áp bức cực kỳ hoàn hảo, một bộ máy chuyên dùng khủng bố làm chất nhờn bôi trơn những trục máy! Hơn nữa, ít nhất là cho tới ngày hôm nay, chưa có một tên bạo quyền cộng sản nào đã bị nhân dân xét xử và kết án. Chúng nó chỉ chết trên giường. Nếu tiếng nói nghe được ngoài hành lang của phòng xác, thì không phải là tiếng nói để vinh danh mà là tiếng nói giành nhau xé cái xác lạnh lẽo kia, và có thêm chăng là những tiếng hét xem ai là kẻ sẽ thay thế vào chức của hắn.


Phân tích của chúng tôi đưa đến kết luận là bạo quyền không bao giờ chịu trách nhiệm về những hoạt động của họ trong cả ba ngành Hành Pháp, Tư Pháp và Lập Pháp. Phải hiểu rằng tình trạng vô trách nhiệm của những người chủ nắm quyền là do, trước nhất là những thủ đoạn tinh vi để kềm kẹp và áp bức của họ, thứ hai cũng phải kể đến tình trạng ù lì của dân chúng. Khi tiếng nói bị ếm nhẹm thì trong lòng trở nên sôi sục uất hận, nhưng dù thế, chưa có một ai dám chịu trách nhiệm với quê cha đất tổ mà giương cao ngọn cờ khởi nghĩa. Trong nhiều thế kỷ, người phương Đông đã quen sống trong một nồi hơi ép mà kẻ cầm quyền nắm giữ sức nóng và sức ép, đã thành công biến nhân dân thành những kẻ không còn nghị lực, trở thành lãnh đạm và dững dưng trước mọi thứ và mọi người. Tinh thần trách nhiệm là một thiếu sót lớn nhất trong quần chúng. Giới quan chức làm gương, lạm dụng quyền hành, phù phiếm, ăn cắp của công, tham nhũng và lạm quyền. Mẫu mực của quan chức này lại được các thuộc cấp noi theo. Trong các bệnh viện, có người bị chết chỉ vì không có tiền hối lộ cho những người được trả tiển và lẽ ra là phải có bổn phận lo cho bệnh nhân. Trong các kỳ thi và thi tuyển, đề thi được bán cho bất cứ ai chịu trả tiền. Mọi thứ đều có thể xảy ra. Tinh thần vô trách nhiệm như ngọn gió thổi trên toàn đất nước và kỷ lục của sự phạm pháp và sự vô liêm sĩ luôn luôn bị phá. Sự vô đạo đức cười nhạo sư vô tội và lương thiện.


Sự vô trách nhiệm của giới cầm quyền, trong mọi lãnh vực chính trị lẫn hành chính, không phải là điều bất thường. Nó tròng lên xã hội vòng vương miện của sự dơ bẩn.


- Chúng tôi đồng ý với bạn. Nhưng từ đó bạn muốn đi tới đâu?


- Chúng tôi muốn nhấn mạnh là ác quyền không thể thắng mãi mãi. Chúng tôi không muốn mình là kẻ thầy bói hay nhà tiên tri. Nhưng cuộc đời đã dạy chúng tôi một bài học biện chứng: cùng tắc biến – từ cái xấu cái tốt sẽ đến. Bất cứ khi nào cái xấu đã đến tột cùng của nó thì tự nó sẽ làm phát sinh ra giải pháp trị bệnh cho nó.


- Bạn hãy giải thích thêm để cho chúng tôi có lý do để hy vọng.


- Không có gì là ma thuật ở đây. Các nhà cách mạng Việt Nam hô hào thúc đẩy nhân dân đứng lên tham gia kháng chiến vì đã làm cho họ thấy xấu hổ là đã không làm gì. Con giun sẽ quằn mình nếu bị ai giày xéo lên nó. Cho đến lúc nào con người, ngay cả kẻ hèn hạ nhất, vẫn còn tiếp tục còn chấp nhận bị phong kiến bóc lột và Thực Dân đàn áp?


Những tiếng nói hô hào như thế quở phạt những người đang trùm chăn trong sự thờ ơ, hèn nhát. Hãy để lúc “chín muồi” đến. Như trận đói năm nào làm vương vãi những xác người chết đói đen kịn trên ruộng vườn và trên những con đường làng. Tất cả sự khốn cùng và sự chết đang ép lên những con người còn trơ xương thì họ sẽ đem hết sức tàn mà tấn công tận sào huyệt của phong kiến và thực dân. Cách Mạng đã ghi nhận một bàn thắng không thể chối cãi được.


Tới đây, chúng ta có thể tựởng tượng rằng, sau một vài nhượng bộ, kẻ cầm quyền vẫn tiếp tục bám víu vào độc quyền chính trị và tiếp tục vô trách nhiệm, tiếp tục tự cô lập mình với quần chúng, đẩy sự khốn cùng lên đến tột đỉnh! Sẽ có lúc mà hàng triệu người sẽ không chịu ngồi đó khoanh tay mà cùng nhau tiến lên chống lại bạo quyền và độc tài. Chúng ta hãy nhớ rằng chính nhân dân là kẻ làm nên lịch sử, đưa lên kẻ cầm quyền và cũng chính nhân dân là kẻ sẽ hạ bệ kẻ cầm quyền đó. Khi mà Đảng không còn làm bổn phận của mình là làm cho dân, họ sẽ được đưa trở về vị trí ngày xưa bởi dân, những người đang lấy lại trong tay số mệnh của chính mình. Khế ước ngầm giữa nhân dân và kẻ cầm quyền từ nay xem như bị cắt đứt. Sự “đúng” đã chiến thắng không màu mè hoa ngữ hay bàn cải dài dòng vô ích… Sau chế độ bạo quyền, một chính quyền chân chính sẽ bắt đầu một ngày mới.


- Tuyệt! Đây là ý kiến nằm trong logic và chuẩn mực. Theo chúng tôi, vần đề có thể được nhìn dưới một góc cạnh khác. Cái góc nhìn của Luật nó có cái lý của nó. Nhưng cái nhìn của xã hội nó cũng không thể bị từ bỏ được. Như bạn đã biết, ở nhiều nước, nhiều chính thể giá trị đạo đức được nâng lên chin tầng mây. Đối với chủ nghĩa Tư Bản thối nát và đang dẫy chết với giới cầm quyền đầy tham nhũng, người làm Cách Mạng tự cho mình là hiện thân cho sự thiêng liêng, trong sáng trong suy nghĩ, tâm hồn không chút vẩn đục, cao cả trong đạo đức và nếp sống. Khuôn mặt tiêu biểu nhất cho con Tàu Cộng Sản là một Hồ Chí Minh huyền thoại với hai mảnh áo quần bằng Kaki bạc mầu và đôi xăng đan làm bằng lốp xe cũ. Thật vậy, giới vô sản đã tìm cách liên kết giai cấp nông dân vào chung mục đích, họ đã chơi cuộc chơi một cách công bằng ngay thẳng và đã đạt được hậu thuẫn của những người cùng chia sẻ điều kiện sống và cùng có chung niềm khát vọng. Đối với những kẻ làm ăn đủ sống, Hồ Chí Minh với chòm râu của một nhà nho truyền thống đã làm say mê họ và làm họ đi theo. Vì thế với cuộc tổng nổi dậy của mọi tầng lớp nhân dân, trong một khí thế hồ hởi mà Cách Mạng đã tiến hành cuộc đấu tranh và đạt được thắng lợi.


Trong thời kỳ quá độ, những bộ óc biết suy nghĩ bắt đầu nhận chân rằng những người làm cách mạng mà tình yêu tổ quốc và chủ nghĩa anh hùng đáng được đề cao, lại không có đủ văn hoá và khả năng để đưa dân tộc lên một số phận cao đẹp hơn! Những thiệt hại to lớn do những lỗi lầm của họ gây ra đã làm người dân nghi ngờ về khả năng trí tuệ của họ, dù không bị huen ố, nhưng niềm tin của nhân dân về họ cũng đã bị giảm sút, niềm tin mà họ cần có để nâng cao tinh thần chiến đấu. Rủi thay, vì tình trạng không ai chịu trách nhiệm như thế đã mở cửa cho bao nhiêu vi phạm và tội ác; những quan chức của Đảng, với những chữ ký sinh ra vàng, đã để cho mình bị tiêm nhiểm những con vi trùng của tiền của, để tự mình ngày càng chìm sâu trong vũng lầy của tội ác. Những kẻ thuộc quyền, được khuyến khích bởi sự “bất bị quy trách” của xếp mình, trở nên những kẻ đồng loả, tập họp nhau thành băng thành nhóm. Thời sẽ đến khi mà Đảng vẫn còn tiếp diễn những ung nhọt như thế: họ sẽ không còn niềm tin yêu của nhân dân, niềm tin mà họ đã mất cả một thời gian dài mới có được. Đã thiếu văn hoá và khả năng, nay lại mất cả niềm tin yêu của dân là cái cơ sở lớn nhất để họ nắm quyền, một quyền lực mà họ có được là nhờ tư cách đạo đức và cũng sẽ mất nó vì nếu họ thành kẻ ác vô nhân. Khi họ trơ mình trước quần chúng như một người đàn bà đĩ thoã nghèo nàn và trần truồng, tôi ngại rằng họ còn có thể tiếp tục độc quyền chính trị. Cũng có thể lãnh đạo cấp cao không làm ác như những thuộc quyền, nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm đối với những kẻ này, bởi những hành động của những người thứ ba, làm tan rả Đảng vì uy tín Đảng đã bị tan biến bởi những ngọn gió đầy cay đắng và khinh miệt thổi vào. Chừng nào mà con số phạm tội còn nhỏ, chừng ấy Đảng còn che đậy chúng dưới thảm dày để giữ được mầu trắng của sự trong trắng! Nhưng một khi tai tiếng đã trở nên thái quá, không còn giấu giếm được nữa thì Đảng sẽ làm kẻ điếc trước những than phiền chính trị. Đảng sẽ chọn sống xuống cấp trong im lặng thay vì bị nổ tung ra trước ánh sáng ban ngày với những vụ kiện mà uy tín của Đảng sẽ bị mãi mãi mất và thanh danh của Đảng bị huỷ diệt, từ cấp cao đến cấp hạng bét. Bất cứ chọn cách nào, Đảng cũng sẽ thất bại trên hai chuyện uy tín và thanh danh. Chính trị rồi đây sẽ nhường bước cho đạo đức, đạo đức rồi sẽ kéo theo sự can thiệp của Luật Pháp để chấm dứt một quá khứ đau khổ mở đầu cho một kỷ nguyên mà ánh sáng của lý lẽ và công bằng một lần nữa sẽ chiếu rọi với việc tái lập nền Công Lý và bảng tuyên ngôn về trách nhiệm của Nhà Nước và những ai đại diện nó.


Dĩ nhiên, chuyên đó không phải là chuyên xảy ra ngày mai. Nhưng nó đáng cho chúng ta mong đợi!


Hãy cho chúng tôi được hy vọng những gì sẽ xảy ra như bạn nói là sự thật. Hãy cho chúng ta được quyền hy vọng ngày mà chúng ta ăn mừng được thấy lý lẽ và công bằng trở lại ở những nước cộng sản là một ngày không xa lắm!


Khi chia tay, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối, nhìn trong mắt nhau và có cảm nghĩ rằng chúng tôi đã cùng chia nhau chung một ý nghĩ. Những suy nghĩ chung với những cảm xúc chia sẽ giống nhau: “Chúng tôi, những người trí thức, một đám người đang bị tất cả những ngươi cầm quyền nguyền rủa, và đặt biệt là những tay chuyên quyền cộng sản. Họ là những người tuyệt vời kỷ luật, và chúng ta là những kẻ mà trong người đã có giòng máu vô kỷ luật đang sôi sục. Họ là những kẻ vui sướng khi nhìn những kẻ cúi đầu tuân phục, hít thở những khói nhang của a dua nịnh bợ, làm những trò ảo thuật, dựng nên những tấn tuồng vĩ đại trên sân khấu. Là những người cứng đầu cứng cổ, chúng ta ngẫng mặt hiên ngang, nhin thẳng vào phía trước với cặp mắt biết quan sát và một bộ óc biết phê phán. Thay vì thốt ra những điều ngu dốt để làm người ta thoả mãn, chúng tôi chọn một sự im lặng đầy trách móc. Chúng ta đã thấy rất rõ cặp mắt của nhà ảo thuật, thấy cái đạo đức của chủ nghĩa hình thức, thấy con dao nhọn dấu dưới tay áo khi chúng vừa lễ độ than mật cúi xuống. Phải công nhận là chúng ta là những người bất trị. Hơn thế nữa, chúng ta không thể biết mình sẽ ở đâu và ngày mai mình sẽ trở thành cái gì!”


Ánh mắt chúng tôi tràn đầy những cảm thông cho nhau. Chúng tôi biết rằng mọi người đã hiểu nhau.


Hai đoàn chúng tôi cùng đồng ý gửi một ý kiến chung đến hai Đảng Cộng Sản Liên Xô và Việt Nam:


“Cho phép chúng tôi được gửi đến quý ông bà những ước vọng và đề nghị của chúng tôi. Quyền lực được giao phó cho quý vị không được dùng để đàn áp, trù dập hay đoạ đầy bất cứ ai lên tiếng nói đến quyền lợi và bổn phận, bất cứ ai lên tiếng nói đến quyền hành và trách nhiệm. Nếu quý vị muốn các tầng lớp nhân dân mà quý vị đang quản lý tôn trọng trật tự và sống trong pháp luật, về phía quý vị, quý vị phải có bổn phận chăm lo cuộc sống đầy đủ của nhân dân và luôn luôn bảo đảm họ được hạnh phúc. Nếu được như thế, quý vị sẽ được nhân dân vinh danh trong hàng trăm năm và quý vị sẽ được nhân dân mãi mãi biết ơn!


Nhưng nếu cứ vướng mãi với những hành động dại dột, mất trí hay điên khùng, quý vị sẽ đưa dân tộc vào nghèo đói và đau khổ, tiếp tục làm những chuyện chuyên quyền, phạm luật và vô nhân đạo thì quý vị sẽ không kéo dài lâu! Ngay sau khi quý vị chết, nhân dân cũng tiếp tục nguyền rủa, đào mồ và quăng cái xác thối rửa của quý vị cho sài lang và diều hâu cắn xé! Tên tuổi của quý vị sẽ bị đóng ghi trong Lịch Sử và sẽ bị khinh bỉ trong hàng trăm năm sau.


Ngày xưa, ở thành phố Roma, một tướng soái thắng trận đang nhận lãnh những vinh quang của ngày chiến thắng. Để tránh bớt cho vì tướng bị những tung hô nhiểm độc, lợi dụng lúc đang gần bên xe trận của ông tướng, một tên nô lệ nói nhỏ với ông rằng “Ngài nên nhớ ngài cũng là một con người”. Cũng như thế, Luật Pháp cững đang nói nhỏ với kẻ cầm quyền “Bổn phận của các ông là phục vụ chứ không phải là nô lệ hoá nhân dân”.


Trở về Hà Nội, chúng tôi được khen ngợi nồng nhiệt bởi đã mang lại những thành quả bất ngờ mà chúng tôi gặt hái được ở Hội Nghị ở Bruxelles. Một buổi chiêu đãi để vinh danh chúng tôi được Bộ Ngoại Giao tổ chức.


Trong những buổi như thế, chúng tôi nhận được tin hai lãnh đạo của Phong Trào Gìn Giữ Hoà Bình Saigon-Chợ Lớn ở miền Nam đã bị bắt giữ: Luật Sư Nguyễn hữu Thọ và giáo sư Phạm Huy Thông. Cha đẻ của giáo sư Thông chỉ định tôi là luật sư để bào chữa cho con ông. Bộ Ngoại Giao và Chủ Tịch Toà Án Tối Cao khuyến khích tôi nhận lãnh sứ mệnh này. Tôi đánh một điện tín vào Toà Án Saigon thông báo họ là tôi sẽ là luật sư bào chữa cho ông Thông và yêu cầu họ cho biết ngày giờ xử của vụ án. Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm đã không cho phép tôi vào Saigon. May thay, tôi cũng không có gì để tiếp tục, vụ án cũng không bao giờ được xử vì hai kẻ tội nhân đã vượt ngục an toàn.


PHẦN HAI. MỎM ĐÁ TARPEIENNE[3]


1. Vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm


Về đến Hà Nội, tôi tràn ngập trong “vinh dự”. Khoa Trưởng của trường Luật, một trường đang chết, Phó Chủ Tịch Hội Luật Gia, Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn, phó Khoa Trưởng Sư Phạm, giáo sư phụ trách việc giảng dạy về Văn Chương Pháp, thành viên ban chấp hành Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đồng thời cũng nằm trong ban bí thư của Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội, thành viên của Hội Huynh Đệ Việt – Pháp, Hội Huynh Đệ Liên Xô – Việt Nam, thành viên của Uỷ Ban Bảo Vệ Hoà Bình Thế Giới, chủ tịch sáng lập Câu Lạc Bộ Đoàn Kết Trí Thức… Đó là những “vinh dự” mà tôi mang, đủ để in đầy hai mặt của tấm danh thiếp.


Những “khuôn mặt uy quyền của chế độ” không làm phiền đến tôi, cuộc sống khiêm nhường của tôi cũng không bị khốn đốn, tôi cũng không cảm thấy mình quan trọng hơn hay nhỏ bé đi. Tôi biết rõ đó chỉ là một màn kịch, nên chẳng cần phải cảm thấy được tung hô hay bị xúc phạm. Chế độ cộng sản rất đam mê tôn thờ chủ nghĩa hình thức: họ tràn ngập thế giới với khẩu hiệu. Danh xưng hoa mỹ và kêu to chỉ để trang trí cho những con rối người đang bị giật dây bởi một ai đó trong nhóm, ở trên hoặc ở phía sau lưng họ. Những kịch sĩ đang diễn trên sân khấu đã thuộc về thế giới xa xưa của những bộ phim câm. Thế hệ phim câm và chủ nghĩa Cộng Sản xuất hiện cùng thời, người ta tự hỏi anh nào ảnh hưởng anh nào?


Tôi đã tự hỏi tại sao tôi lại được hưởng nhiều món hời như thế. Có phải chăng là nhờ tôi là khuôn mặt tiêu biểu cho một phẩm chất hay đại diện cho một cái gì đó? Tôi nghĩ là không. Điều đó không hề xảy ra dù chỉ một thoáng trong đầu của các lãnh tụ. Họ nghĩ rằng, bằng cách đưa một người nào đó vào chức vị cao thì họ sẽ biến người này thành một nhân vật có tầm cỡ, cũng như thế, khi họ đẩy một người nổi tiếng vào bóng tối là họ đã gọn gàng cắt đứt lòng kính phục mà những người này được công chúng dành cho. Nhưng đó là một sai lầm. Đã có nhiều người được hưởng bao nhiêu quyền lợi từ Đảng nay đã biến thành vô danh không tên tuổi, ngay khi họ đang còn chói lọi trong chức vụ. Ngược lại, có những người đầy khả năng và đạo đức được người đời kính trọng và tiếp tục được quần chúng tin yêu dù họ không còn giữ một địa vị gì hào nhoáng!


Có phải chăng Đảng đã chiếu cố đến tôi và muốn thổi tôi lên, biến tôi thành một trong những con khỉ làm hề trong gánh xiếc để chọc cười lũ trẻ con? Đã có lần vào năm 1952, trong vùng chiến khu Bắc Việt, giữa lúc đang kháng chiến chống Pháp, tôi được đề nghị vào Đảng, nhưng tôi đã từ chối “vinh dự” đó. Năm 1946, trước khi tham gia kháng chiến cùng với cha mẹ và gia đình, tôi đã hiến toàn bộ tài sản của tôi, ba căn phố ở Hà Nội, cho Cách Mạng và Dân Tộc. Trong suốt thời kỳ Kháng Chiến tôi chấp nhận hy sinh tất cả và cống hiến tài năng của một giáo sư và một luật gia cho Dân Tộc. Là thành viên của nhiều phái đoàn Việt Nam trong bốn Hội Nghị Quốc Tế, một ở Dalat năm 1946, ở Bắc Kinh năm 1952, ở Vienna năm 1953, và Bruxelles năm 1956, tôi đã đóng một vai trò tích cực và đã mang lại một số thành quả khiêm tốn… Cũng có thể vì đó mà Đảng đã ban cho tôi một giấy khen bằng cách cất nhắc tôi lên những vị trí danh dự nhưng cũng không kém phần vẻ vang tôn kính. Nhưng tôi biết là Đảng có một trí nhớ rất ngắn, dễ dàng quên đi những thành quả của người mà họ khen thưởng trước đây, một khi kẻ này trở nên đối tượng làm họ tức giận. Ngay cả đối với những người cộng sản nổi tiếng đã từng chia những ngày tù tội chung khám với những người đang cầm quyền hiện nay, họ vẫn không thể thoát khỏi bàn tay dững dưng và tàn ác của những người này.


Trong những uỷ ban điều hành các tổ chức quần chúng, người trí thức thường được đưa ra làm phụ tá cho những đảng viên giữ vai trò chủ chốt, nắm tay lái và điều khiển chiếc xe. Những con rối ngồi trên bàn chủ toạ, tuyên bố mở đầu và kết thúc Hội Nghị, nhận những tràng pháo tay nhu nhược và vỗ trả lại những tràn pháo tay nhu nhược không kém. Sinh hoạt này trở thành một thủ tục và một chỉ dấu cho thấy một loại hợp tác chặt chẽ giữa người trí thức ngoài Đảng và các đảng viên. Tôi hiểu rất rõ khía cạnh này và không hề ngạc nhiên về chuyện đó. Tôi chờ vòng thịnh suy của luân hồi quay và chuẩn bị cho tôi chịu đựng sự thống khổ sắp đến với một tâm hồn vui vẻ.


Trong thời gian đó ở Hà Nội, giới trí thức đang trải qua một cuộc khủng hoảng về nhiệt tình. Phong trào Trăm Hoa Đua Nở nổi lên trên toàn nước Việt Nam. Nhiều người, cho tới lúc ấy, nghi ngại và e dè Trung Quốc – nhưng không chống trà và thức ăn của họ – vẫn chưa biết được mặt trái của lá bài, dấn thân hết mình vào Phong Trào. Vắng những chứng cớ thích đáng, không có thông tin đáng tin cậy, nhưng họ vẫn đắm mình vui sướng trong cơn thuỷ triều đang nhởn nhơ dâng, và niềm khát khao dân chủ bị kềm kẹp và đè nén từ lâu nay bỗng nổ bùng thành những tia sáng đầy mầu sắc chói lọi và những chùm hoa đầy đốm lửa xanh. Một tờ báo Nhân Văn được in ra, lập tức được độc giả nhanh chóng giành đọc. Khi tờ báo Giai Phẩm được in ra, lòng người như sôi sục, như pháo hoa.


Khi đó Nguyễn Hữu Đang đến thăm, phỏng vấn tôi cho tờ Nhân Văn, và mong tôi viết bài cho Giai Phẩm. Tôi đã gặp Nguyễn Hữu Đang ít lâu trước đây khi Đang đến kiếm tôi đến gặp ông Hồ vì ông Hồ cần tôi giúp để soạn bản luận cứ mà Chính Phủ sẽ dùng để tranh đấu trong Hội Nghị Đalat năm 1946. Đang là một đảng viên Cộng Sản mà tôi tin cậy. Thời gian đó tôi không tiếp xúc với giới văn sĩ và nhà báo vì không có thì giờ và cơ hội. Nhưng khi tôi được cho biết về khuynh hướng của phong trào, đường hướng mà họ chấp nhận và bảo vệ, tôi sẵn sàng góp chút phần nhỏ mà cũng là ước vọng và mong muốn của tôi.


Năm 1928, vào năm thứ hai của tôi ở Đại Học Luật, cái tiếp xúc đầu tiên của tôi với chủ nghĩa Cộng Sản, vào thời đó, duy nhất là Liên Xô và bập bẹ những từ đầu tiên về chủ nghĩa này. Trong hai giờ giảng, vị giáo sư dạy về kinh tế chính trị dạy chúng tôi những điều căn bản về kinh tế theo Marx-Lenin. Sau đó, trong suốt mười năm theo kháng chiến chống thực dân, tôi được học thêm về chủ nghĩa Marx. Những giảng viên khiêm nhường tự mình nhận là những “báo cáo viên” thường là những người đã được qua học ở Trung Quốc, đôi khi về từ Liên Xô. Phương pháp dạy của họ làm tôi chú ý và khám phá những đặc tính của người cộng sản. Môn học về chủ nghĩa Marx được chia làm nhiều bài học, mỗi bài sẽ được một ông thầy “tương lai” chuyên về một chương đó dạy. Họ thấm nhuần những kiến thức nhồi nhét bởi các thầy giáo người Trung Quốc hay Liên Xô, đúc kết thành bài giảng cho hai giờ học, mang bài giảng cho cấp trách nhiệm phê bình. Sau đó họ chỉ có việc đọc bài giảng cho mọi người chép, hoàn toàn không có ý kiến riêng vì sợ gây những sai lầm về lý luận hay chệch hướng là những điều sẽ gây hại không nhỏ cho họ!


Tôi học được hai điều: thứ nhất, đó là những người thầy thiếu nhân cách và cá nhân tính. Họ là người máy và có thể dễ dàng thay thế bằng một cái máy thu băng. Thứ hai, người cộng sản khi hành xử chuyện gì, họ chỉ làm theo cách họ, tự bó mình trong một lãnh địa chật hẹp, đào sâu trốn kỹ, không hề quan tâm hay biết người chung quanh đang làm gì.


Tôi thật sự bị kích thích bởi phương pháp làm việc của họ và tò mò tìm hiểu muốn biết chế độ Cộng Sản đào tạo bác sĩ y khoa như thế nào. Một người trẻ được chọn vì được người ta khám phá rằng anh này là người thông minh và có khả năng, ngay trong khoá học xoá nạn mù chữ, và nhất là thái độ cuồng nhiệt đối với Đảng. Anh ta được đào tạo thành một y sĩ giải phẫu chuyên về tay và chân. Trong năm năm, anh ta phải phục vụ như một y tá, rồi như phụ tá trong một bệnh viện ở nông thôn, cắt mổ hàng trăm tay chân và rồi cũng có được một số kiến thức về cơ thể học giúp tìm dò những thớ thịt, đường gân, mạch máu của chân tay. Kiến thức của anh ta dừng ở đó và nằm luôn ở đó.


Vì thế, nền giáo dục của cộng sản là không phí thì giờ dạy cho học sinh những điều có tính lý thuyết hay kiến thức tổng quát. Thực tế là họ “vừa học vừa làm”, thay vì thúc đẩy tình tò mò tìm hiểu những điều cao xa hơn, họ lại chọn “tự đào sâu trốn kỹ” trong cái lỗ càng sâu càng tốt. Những trường hợp thành công cá biệt lại được tung hô là tất cả, lấy chiều sâu trùm cả chiều ngang. Trong hoàn cảnh cấp bách, để tiết kiệm thời gian, người ta không đào tạo ai thành một “người chân chính, hiểu biết tất cả và không phiền lòng bất cứ chuyện gì” nhưng theo lối con buôn, chỉ một lần trao đổi mà thôi. Cần phải hiểu đây là cái logic của chủ nghĩa Cộng Sản: để đuổi kịp chủ nghĩa Tư Bản, đạt đến trình độ văn minh tân tiến họ không dư giả thì giờ tiền bạc để đầu tư vào lãnh vực tổng quát và nhằm đào tạo những cái đầu biết tư duy.


Những buổi học về chủ nghĩa Marx chẳng giúp ích gì cho tôi. Những gì tôi biết về nó là tôi đã bị kéo vào thế giới Cộng Sản từ năm 1946. Những quan hệ với con người, những gì tôi quan sát được ở Đảng và những chính sách của họ, ở Nhà Nước với những cơ chế của nó, những ý kiến mà tôi được nghe, những màn kịch mà tôi được xem, cộng chung với những suy nghĩ riêng tư đã làm tôi sinh ra cảnh giác và trở nên cô đơn. Tất cả những chuyện đó là cách tốt nhất mà tôi tiếp cận chủ nghĩa Cộng Sản. Có thể nói một cách chung, những người bận tâm về một vấn đề như thế thường hành xử theo cảm xúc riêng tư và chọn một thái độ mạnh mẽ. Họ theo hoặc chống Cộng Sản! Cá nhân tôi, tôi cho rằng cả hai thái độ đều thiếu tính thuyết phục và công bằng, trong bản sắc cũng như khách quan. Đảng không nuông chiều tôi, những “vinh dự” được ban bố cho tôi chỉ là một màn trưng bày loè loẹt, cũng chẳng mang lại cho tôi và gia đình một chút gì lợi lộc hơn những người biết tán tỉnh, cầu cạnh và biết làm cho Đảng nở những nụ cười hả hê thoả mãn. Ngược lại, mặc dù tôi đã đưa ra những bằng chứng không thể chối cãi được về lòng yêu nước của tôi, mặc dù tôi đã hết lòng trung thành phục vụ Dân Tộc, Đảng cũng đành đoạn đày tôi vào sa mạc, một cuộc hành trình mới đó đã ba mươi lăm năm qua mà tôi sẽ kể lại những khổ đau trong những trang sắp tới. Cũng nên hiểu rằng tôi có quyền trả thù cho những khổ đau mà tôi đã gánh chịu. Tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Cộng Sản đang chờ xem tôi trút những cơn giận điên người lên chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi là một nạn nhân. Nhưng xin mọi người hãy tha thứ cho tôi. Tôi đã chọn thái độ của một triết gia: chỉ tìm hiểu chứ không xử án. Hiểu biết đòi hỏi mình phải nhìn vấn đề dưới mọi khía cạnh và dưới hai phía: mặt ưu và mặt thiếu sót, mặt trái và mặt phải của trang giấy, sự tốt và sự xấu. Nó sẽ dẫn đến sự công bằng và người trí thức chỉ muốn điều đúng đắn.


Không cần nhắc lại là người cộng sản đã góp phần đấu tranh cho Tự Do và Độc Lập của Dân Tộc. Thật vậy, đây không phải là lần thứ nhất Tổ Quốc bị xâm lăng và đã đánh đuổi ngoại xâm một cách vinh quang. Lòng yêu nước, vì vậy, là yếu tố bất biến và nguyên do sâu xa nhất cho mọi lần thắng giặc. Nhưng lực lượng quần chúng chưa phải là lực lượng tự mình tiến hành giải phóng Dân Tộc. Lực lượng này chỉ phát huy được sức mạnh và hiệu quả dưới sự lãnh đạo lão luyện của một ai biết dẫn dắt nó và làm nó phát huy hiệu quả đến mức tốt nhất. Đó là vinh dự của những ông vua biết giao trách nhiệm cho những vì tướng biết động viên quân sĩ kiên quyết biểu hiện chủ nghĩa anh hùng và quyết lòng hy sinh. Đó là ba nhân tố có tầm quan trọng như nhau mà sự luân phiên vận dụng để đi tới chiến thắng. Thật là bất công nếu chúng ta đã công nhận sự xứng đáng của người cộng sản rồi sau đó chối bỏ sự đóng góp của họ sau ngày thành công. Chuyện quan trọng không phải là đưa người cộng sản lên một vị thế cao hay đưa vào chỗ thấp, mà là chuyện định đặt họ ở đúng vị trí mà họ phải có.


Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đưa Dân Tộc vào con đường Xã Hội Chủ Nghĩa về lâu về dài là một thảm hoạ. Cái lỗi lầm kinh hoàng đầu tiên không thể quên được là cuộc Cải Cách Ruộng Đất, nó không phải chỉ là cuộc thảm sát hàng chục ngàn người dân vô tội, mà nó còn làm giảm sút nghiêm trọng uy tín của Đảng và làm hại đến cái giáo điều “không bao giờ sai lầm” của Đảng. Những cặp mắt mở to, những soi mói nhìn lại chính sách của Đảng, và những “bộ óc biết suy nghĩ”, vội vàng tỉnh giấc Nam Kha để tổ chức những buổi phê bình thích đáng ngay trước khi Đảng lấy lại thế đứng và quan điểm của mình.


Cá nhân tôi, qua những quan sát, phân tích và suy nghĩ, tôi đã đi đến một số kết luận về những sai lầm của Đảng. Thứ nhất, cái mà giáng lên ngay cả những người ít học nhất, là thái độ nô lệ thần phục hoàn toàn trước hai “ông anh lớn” Liên Xô và Trung Quốc. Sự thần phục hoàn toàn không chỉ ở mức độ chủ thuyết mà họ là người biện hộ cho tính chính thống của Liên Xô và Trung Quốc, mà còn biểu hiện ngay trong cách ăn mặc, hội họp riêng chung, cung cách chào hỏi nhau và cả đến lối sống v.v. Việt Nam đã mất bản sắc dân tộc để trở nên một khuôn rập phản ảnh hai nước Liên Xô và Trung Quốc.


Cái rập khuôn thứ nhất là lãnh vực kinh tế, nơi mà chúng ta có thể nhìn thấy cùng một chính sách kế hoạch, tự quyết định chính sách giá cả, sự độc quyền của Nhà Nước trong lãnh vực sản xuất, thương mại trong nước và quốc tế, những chính sách thâu tóm toàn bộ lợi nhuận, bù đắp cho mọi lỗ lã, chọn lựa nhân sự cũng như tính toán tiền lương cho họ. Quyền tuyệt đối và sự hiện diện khắp nơi của Nhà Nước trên toàn nước, bất cứ chỗ nào, đã gạt bỏ mọi sáng kiến, mọi quyền lợi tư nhân, sự vắng mặt của sự cạnh tranh, không có bất cứ một quan hệ gì giữa giá phí sản xuất và giá bán, sẽ dẫn đến không sớm thì muộn một nền kinh tế trì trệ, đến một nền kinh tế suy sụp, một nền kinh tế hoàn toàn được dẫn dắt bởi chính trị, hoàn toàn quay lưng về những quy luật, những giá trị và những hiệu quả đã được chứng nghiệm suốt mấy thế kỷ vừa qua.


Hơn nữa, chưa bao giờ người ta lại khinh miệt và hận thù luât lệ với một thái độ láo xược như thế. Nhà Nước chỉ là bàn tay nối dài của Đảng. Người ta cấm tiệt bất cứ mọi thứ can thiệp hay ngay cả một tia mắt nhòm ngó vào hai lãnh vực Lập Pháp và Tư Pháp. Nguyên tắc “không thể sai lầm” và “không chịu trách nhiệm” của Đảng đã mở cửa cho biết bao chuyện kỳ quặc, bệnh hoạn, tự tung tự tác và hậu quả là đưa đến những hành động phạm pháp bởi mọi tầng cán bộ, bởi các đảng viên hay những người được Đảng nặn ra. Chưa bao giờ nhân dân lại bị đẩy vào một thế im lặng đê hèn và tai hại; không một gợi ý, đề xuất, nhận xét hay ý kiến tư vấn nào mà nhân dân có thể đưa ra cho nhà cầm quyền để cải thiện việc điều hành của Nhà Nước và làm cải thiện tốt hơn cho con dân trong nước. Bất hạnh thay, những điều Luật được “bầu” ra bởi Quốc Hội, các cấp Toà do chính phủ dựng nên chỉ có một và một mục đích duy nhất là bắt người dân quy phục, và tuân thủ vô điều kiện bất kể chuyện gì mà nhà cầm quyền muốn dù là chuyện ngông cuồng vô lý nhất. Mặc dù vậy, để lừa phỉnh trong nước và quốc tế họ luôn luôn ra rả không ngừng là họ vì dân và do dân.


Những định luật khoa học, những cấu trúc thực tiễn của một nền kinh tế đều bị khinh thường. Niềm cả tin bất khả bại cũng như tinh thần vô trách nhiệm của lãnh đạo làm cho những định chế Lập Pháp và Tư Pháp trở nên vô dụng. Những tai hại đó, dưới hiện tượng siêu hình, trở lại điều khiển mọi sinh hoạt kinh tế chính trị: đó là quy luật của sự đổi thay đổi. Người cộng sản thường hay hãnh diện về những cái biết duy vật biện chứng về sự thay đổi mà họ rao giảng cho hàng tín đồ của họ. Nhưng trên thực tế họ đếch cần đến nó. Họ chỉ biết dựa ngửa trên chiếc ghế bành của lãnh đạo, tuyên phán những câu tuyệt vời là sẵn sàng chết nơi nào mà Đảng đã đặt họ ở đó. Mọi xúc phạm (đến chỗ ngồi của họ) sẽ nhanh chóng biến thành một cuộc đấu tranh giành quyền lực đầy hung bạo, đặc biệt là ở những chỗ ngồi cao cấp; kẻ nắm ghế quyền lực không dễ dàng tự ý nhường ghế cho ai! Vì thế trật tự kiểu lão làng là chỉ thị hành động cho những người cộng sản. Nhưng trong kinh tế, sản xuất và thương mãi, chính tính ù lì không thay đổi này đã gây ra những phiền phức đầy tai hại. Trong một thế giới hiện đại, nơi mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã phát triển tột bực, những phương thức sản xuất, giao thông, viễn thông, tin học, sự chuyển dịch của con người và hàng hoá, tất cả mỗi ngày mỗi thay đổi nhanh chóng. Đã phải mất mấy ngàn năm con người mới biết định cư định canh trong nông nghiệp và cho loài người phát triển tiến lên; phải mất mấy trăm năm để con người khám phá ra nguồn năng lượng mới khởi đầu cho nền văn minh máy móc, cho phép kỷ nghệ được phát triển dưới nhiều hình thức. Khoa học kỹ thuật đã mất chừng ba thế kỷ để khám phá ra những bí mật của thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, khám phá ra những nguyên liệu mới khó tin nhưng đầy tuyệt vời, bảo đảm cho một chiến thắng tuyệt vời trên điện tử và xử lý thông tin. Một triết gia người Hy Lạp đã đưa ra một hình ảnh gây ấn tượng sâu sắc về tính thay đổi của sự vật khi nói “Con người không bao giờ hai lần tắm cùng một nước sông”, ngược lại người cộng sản cứ khư khư chối bỏ không chấp nhận sự thay đổi, luôn luôn bảo vệ tính “liên tục” của các định chế kinh tế và chính trị của họ, đồng thời bám rễ luôn vào chỗ ngồi của mình.


Đối diện với một hoàn cảnh như thế, làm sao tôi có thể góp sức gì cho Phong Trào Trăm Hoa Đua Nở? Tôi sẽ không tham gia bàn cãi về những vấn đề lớn. Tôi sẽ chú tâm vào những điều chi tiết nhưng đó là những tiêu chuẩn của một nền dân chủ: Tôi mong rằng những kẻ lạm quyền nên bớt khắt khe, đừng bịt họng Mặt Trận Tổ Quốc, rằng họ nên chấm dứt việc đòi Thẩm Phán phải hỏi ý kiến xin chỉ thị của Đảng cho những vi phạm Luật hay những án hình sự. Đối những chuyện nhỏ nhặt cần chi phải ồn ào, như người đời thường nói. Tôi không phải là một chiến sĩ, lại càng không phải là kẻ bạo gan. Tôi không có một chút thich thú gì về chuyện xung đột, nhất là khi một thanh kiếm gỗ phải chiến đấu với thanh kiếm sắt. Những đồng nghiệp khác của tôi ở Đại Học như Giáo Sư Đào Duy Anh, sử gia và là một nhà Trung Quốc Học, triết gia Trần Đức Thảo, nhà phê bình văn học Trương Tửu cùng dấn thân trong cùng khuynh hướng dân chủ và cùng giữ mình cẩn thận đối với những người cầm quyền mà ai cũng biết là nổi tiếng đao phủ, tàn bạo thời trung cổ, tất cả đều giấu mình thô thiển dưới danh nghĩa “đấu tranh giai cấp”, chiến đấu cho chủ nghĩa Marx.


Giới sĩ phu Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, đa số – ít nhất là những người cầm bút và còn quan tâm đến tự do và liêm sỉ của người trí thức, kể cả những nhà văn còn trong bộ đội – Bộ Đội, như đã từng được biết, là thành trì của tinh thần cách mạng trong sáng và chính thống – đồng tâm đứng lên theo tiếng gọi của dân chủ và tố cáo sự bạo ngược đối với những sinh hoạt trí thức.


Về sau này, Việt Nam còn nghe được những tin khủng khiếp động trời về vụ tàn sát dã man của Hồng Vệ Binh bên Trung Quốc do nhà cầm quyền ra lệnh.


Những tin tức nhận được ở Việt Nam cho thấy cuộc “Cách Mạng Văn Hoá” chỉ đơn thuần là một cái bẫy đưa ra để thanh toán những kẻ thù của chế độ Mao. Nạn nhân, dĩ nhiên, là bao gồm giới trí thức đã quá ngây thơ tin vào lời nói của bọn cầm quyền độc tài và đã hát lên bài thánh ca dân chủ hiến dâng cho giới chức quyền của của Vương Quốc Thiên Triều, và gồm cả những người cộng sản với một quá khứ không tì vết luôn sẵn sàng quy phục dưới thế lực của Đại Vương. Từng bầy Vệ Binh Đỏ tràn khắp đất nước, sôi sục hận thù với những kẻ thù của Chủ Nghĩa Xã Hội, phát tiết sự hung bạo cuồng tín tấn công khắp nơi chỉ bằng vào những lời hứa thần kỳ của lãnh đạo. Chúng tấn công những người vô tội không phương tiện tự vệ, những nạn nhân của những những tên sát nhân đầy mặc cảm tự ti mà sự điên tiết và tàn bạo luôn được nhà cầm quyền khuấy động. Máu đã đổ thành dòng, nhân dân Trung Quốc đã phải ướt chân để vượt qua những cơn thuỷ triều đỏ màu máu, mắt của họ đỏ lên màu đỏ của những lá cờ, biểu ngữ, cờ hiệu đang hể hả tung bay trên những nóc nhà và trên những buyn đinh. Nhưng khi cuộc diệt chủng đến thời kỳ cuối, không còn ai để cắt cổ, thì bọn Vệ Binh Đỏ lại tới phiên mình gục ngã dưới lằn đạn của những khẩu súng máy ngã nhào vào những chiếc mồ chung, cũng từ lệnh ban ra từ những tên quỉ dữ không còn muốn giữ lại một nhân chứng sống nào cho tội ác của chúng! Qua thế giới bên kia, nạn nhân và kẻ giết người sẽ gặp nhau và cùng khóc những giọt nước mắt đắng cay với ảo tưởng đã chết và một niềm tin bị phản bội. Cách Mạng Văn Hoá đã buông màn phủ lên cái chết của những người có văn hoá và lên cái chết của chính cái gì gọi là Văn Hoá.


Ở Việt Nam, người ta bắt đầu vụ xử án liên quan đến những người viết văn, làm báo, thầy giáo mà lý do duy nhất là họ dám giễu cợt trên cái kỳ quặc và nực cười của những người cộng sản. Họ bị kết án là đã bắn mũi tên vào trí tuệ của lãnh đạo, của lực lượng vũ trang. Những kẻ cứng đầu ngoan cố này bị kết án là chống Đảng và làm nhiễm độc Cách Mạng. Nhưng trong kho công cụ trấn áp lại không có loại văn bản nào nói về mấy tội trên. Mặc kệ, họ có thể làm ra ngay một cái. Nhưng văn bản để áp dụng biện pháp trị tội lại không thể có hiệu lực hồi tố. Như trong thời kỳ Thượng Cổ, luật pháp là điều bí mật mà các Pháp Sư và quan toà nắm độc quyền. Không còn gì kinh hoàng hơn là Nhà Nước Cộng Sản đã vực dậy những thứ đã thành quá khứ từ hàng ngàn năm nay để nhảy xổm lên trên Luật Pháp và dùng nó duy nhất là để cô lập, tiêu diệt những người mà họ nghi là có tư tường xét lại chống Đảng, cóc cần biết đến cái gì là công lý và công bằng! Tại sao mọi người phải quan tâm đến chuyện văn bản trong khi quyền lực chỉ ở trong tay một kẻ độc tài?


Một logic như thế chỉ cho thấy mùi vị của một thứ luật rừng, của những bộ lạc rừng rú. Có luật gia nào trung thành với thiên chức của mình lại chịu đánh mất lương tâm, chịu nén cơn thịnh nộ để làm vui lòng những lãnh đạo chính trị mà họ đang đợi mong những điều kỳ diệu? Nhưng thời nào, bao giờ cũng có kẻ sẵn sàng đứng ra làm công việc hèn hạ kết án những người trí thức mà chính họ cũng thừa biết những người này là vô tội đối với Luật Pháp. Tên quan toà đó, tiêu biểu nhất cho loại người cam tâm làm đầy tớ. Và đây là chân dung của loại thẩm phán đó.


(còn tiếp)


Nguồn: Kẻ bị mất phép thông công Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức. Hồi ký của LS Nguyễn Mạnh Tường. Nguyên văn tiếng Pháp: Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel. NXB Quê Mẹ, Paris, 1992. Người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ.

trieuxuan.info