25.01.2015
Vương Toàn
Hai mươi lăm năm khảo cứu Thái học ở Việt Nam

Tham luận tại Hội nghị Thái học Việt Nam (THVN) lần thứ VII, tổ chức tại Lai Châu vào tháng 03-2015.


1. Khảo cứu Thái học từ thế giới đến Việt Nam


Thái học (Thai/ Tai Studies) sớm được quan tâm khảo cứu không chỉ ở những nước có các dân tộc thuộc nhóm/hệ ngôn ngữ này mà cả ở một số nước khác như: Anh, Australia, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật, Pháp,…Thật vậy, không chỉ khảo cứu riêng rẽ, do nhu cầu gặp gỡ và trao đổi học thuật, 12 Hội nghị Thái học quốc tế (International Conference on the Thai Studies - ICTS) đã được tổ chức định kỳ 3 năm/ lần: Hội nghị lần thứ I họp tại Niu Đêli, Ấn Độ (15-27/2/1981); lần thứ II tại Bangkok, Thái Lan (22-24/8/1984); lần thứ III tại Canbera, Australia (03-06/7/1987); lần thứ IV tại Côn Minh, Trung Quốc (11-13/5/1990); lần thứ V tại London, Anh (05-10/7/1993); lần thứ VI tại Chiềng Mai, Thái Lan (14-17/10/1996); lần thứ VII tại Amsterdam, Hà Lan (04-08/7/1999); lần thứ VIII tại Nakhon Phanom, Thái Lan (9-12/01/2002); lần thứ IX tại Đại học Northern Illinois, Hoa Kỳ (3–6/4/2005); lần thứ X tại Đại học Thammasat, Bangkok, Thái Lan (09-11/01/2008); lần thứ XI tại Đại học Mahidol, Thái Lan (26-28/7/2011) và lần thứ XII tại Đại học Sydney, Australia (22-24/4/2014).


Khảo cứu Thái học còn được đề cập đến trong một số sinh hoạt khoa học quốc tế khác. Chẳng hạn như Liên đoàn Quốc tế Nghiên cứu Nhân học và Dân tộc học (International Union of Anthropological and Ethnological Sciences) đã dành một tiểu ban cho Kế thừa và phát triển văn hoá phi vật thể nhóm dân tộc Thái – Kađai (Tai-Kadai’s Inheritance and Development of Non-Physical Culture). Đại hội lần thứ 16 Liên đoàn (IUAES 2009) đã được tổ chức từ 27 đến 31/7/2009 tại thành phố Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc). Một số nhà khảo cứu ở nước ta được mời tham gia và trình bày tham luận tại các diễn đàn này.


TAI CULTURE (Văn hóa Thái) là xuất bản phẩm quốc tế công bố kết quả nghiên cứu về văn hóa và lịch sử các dân tộc thuộc ngữ hệ này ở những vùng địa lý khác nhau: Việt Nam, Lào, Miến Điện, Assam (Ấn Độ), Thái Lan, Campuchia và Trung Quốc.  Lúc đầu, tạp chí này được Trung tâm Thông tin Đông Nam Á (Southeast Asia Communication Centre – SEACOM) ở Berlin cho  ra mỗi năm 2 số (từ 1996 đến 2002) Từ 2003, xuất bản phẩm này được xem là Thái học liên ngành tùng thư (Interdisciplinary Tai Studies Series), dễ dàng đáp ứng các sự kiện như hội thảo hay dự án nghiên cứu. TAI CULTURE giới thiệu các bài viết của các nhà chuyên môn về lịch sử, nhân học, xã hội học, nghệ thuật, tôn giáo so sánh, ngôn ngữ, văn học, kinh tế, giáo dục và các lĩnh vực khác được khảo cứu. Chủ đề các bài viết từ những phản ánh lịch sử (historical reflections) cho đến những vấn đề của cuộc sống hiện đại. Ngôn ngữ chính là tiếng Anh, song trường hợp đặc biệt có bài tiếng Pháp và tiếng Đức.


GS. TS Nguyễn An đã từng chỉ rõ rằng “Thái học quốc tế chủ yếu là ngành khoa học nhân văn tổng hợp, nghiên cứu các vấn đề lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá, kinh tế xã hội… và sự phát triển xã hội các mối quan hệ của các cộng đồng ngữ hệ Thái, sống tập trung ở các nước khác nhau ở khu vực Đông Nam Á” (I, tr. 15).


Ở Việt Nam, một số dân tộc thiểu số như: Thái, Tày, Nùng,… sớm được quan tâm, song chủ yếu là trong các công trình riêng lẻ, đôi khi được ghép chung như trường hợp Tày – Nùng (cùng với chủ trương xây dựng một bộ chữ Latinh chung cho hai dân tộc này). Những người có công đầu ở nước ta, trước hết phải kể đến GS. TS. Nguyễn Văn Huyên (1905-1975), sau là các ông Lã Văn Lô (1912-1989) và Hà Văn Thư (1911- ?) về hai dân tộc Tày và Nùng; GS. Đặng Nghiêm Vạn và GS. TSKH.  Tô Ngọc Thanh về dân tộc Thái,…


Tuy nhiên, phải đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, việc khảo cứu (khảo tả và nghiên cứu) mới chính thức có một tổ chức khoa học, đó là Chương trình Thái học Việt Nam (THVN), thành lập theo Quyết định của Hiệu trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội ngày 07/9/1989, và được xác định là một chương trình dài hạn, đặt trong Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam - phát triển thành Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu Văn hoá (1995-2004) và từ 2004 là Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, với định hướng nghiên cứu liên ngành, gắn với Khu vực học và Khoa học phát triển.


Chủ nhiệm đầu tiên (1989 – 1996) của Chương trình,  PGS. TS Cầm Cường đã xác định: “nghiên cứu về các dân tộc thuộc ngữ hệ này ở nước ta rất cần đến khoa Thái học quốc tế, đồng thời các kết quả nghiên cứu về các dân tộc này ở nước ta cũng là những đóng góp xứng đáng với khoa Thái học quốc tế với chính tính đa dạng và sự phong phú của nó” (I, tr. 22-23). Về lịch sử nghiên cứu ngành học này ở Việt Nam, cố Chủ nhiệm (1997 – 2007) Cầm Trọng (1998) từng nhấn mạnh: “Không phải chờ đến tháng 9 năm 1989 khi THVN ra đời, những vấn đề nghiên cứu khoa học cơ bản trên mới bắt đầu. Đúng ra phải nói ngược lại, nhờ có những công trình nghiên cứu về các dân tộc Tày – Thái ở nước ta nên THVN mới có cơ sở để xuất hiện và tiếp nối hoạt động” (Một số vấn đề đặt ra với THVN. Trong: II, tr. 10). Ngay từ khi chưa đảm nhiệm vai trò Chủ nhiệm (2008-2013), PGS. TS Hoàng Lương đã khẳng định rằng: “Thái học là một đề tài lớn bao gồm nhiều nội dung khoa học, không chỉ có ý nghĩa đối với thực tiễn nước ta mà còn có một tầm quan trọng đối với thế giới. Lâu nay, Thái học đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới và trở thành vấn đề khoa học có tính chất quốc tế” (I, tr. 36).


Bài viết của tôi giới thiệu vắn tắt những kết quả chủ yếu từ 25 năm triển khai Chương trình này và từ đó, gợi ra phương hướng cho những hoạt động sắp tới về một “dòng tộc” trong đại gia đình các dân tộc Viêt Nam.


2. Hai nhăm năm với Chương trình Thái học Việt Nam


2. 1. Lúc mới ra đời (1989), Chương trình THVN được xác định là có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu tổng hợp - chủ yếu tập trung vào các khoa học xã hội (KHXH) & nhân văn và môi trường sinh thái - các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày –Thái ở Việt Nam. Với khoảng bốn triệu người, chiếm hơn 5% dân số Việt Nam, nhóm này sinh sống chủ yếu các khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và miền tây các tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An, gồm 8 tộc người: đông nhất là Tày, Thái, Nùng, sau đó là Giáy, Lào, Lự, Bố Y và Sán Chay (nhóm Cao Lan).


GS Phan Huy Lê (2002) từng chỉ rõ rằng “THVN ở đây được xác định là  nghiên cứu về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Thái ở Việt Nam mà trước đây quen gọi là nhóm Tày – Thái, thuộc hệ Thái Kadai, trên các lĩnh vực dân tộc học, lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá, nói chung trên các lĩnh vực KHXH và nhân văn, và cả lĩnh vực môi trường, sinh thái” (Lời giới thiệu. Trong: II,, tr. 21).


Hiện nay, Thái học còn được giới nghiên cứu trong nước và thế giới quan niệm với phạm vi rộng hơn, đó là những khảo cứu có liên quan đến cả ngữ hệ Thái – Kađai, nghĩa là hướng sự quan tâm thêm đến 4 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai: La Chí, La Ha, Cơ Lao và Pu Péo ở Việt Nam.


Như thế, trước hết cần làm rõ vấn đề tên gọi. Xác định đúng đối tượng mà tác giả nói đến trong công trình khoa học là một yêu cầu cần thiết. Người ta dễ nhầm lẫn tên một dân tộc với tên nhóm dân tộc xếp theo ngôn ngữ, mà giới nghiên cứu thường sử dụng. Chẳng hạn, trong một bản thảo công trình, có lúc tác giả viết là các dân tộc Tày – Nùng, ở trên dùng tiếng Tày, rồi xuống thêm 2 dòng dùng tiếng Tày-Nùng (tr. 112), song ngữ Tày Nùng – Việt (tr. 130), người Tày Nùng (tr. 336). Học sinh người Nùng “dùng song ngữ Tày – Việt” (tr. 354), đến chỗ khác lại viết: tiếng Tày, Nùng… Về sau lại viết: Các ngôn ngữ:… Tày, Nùng (tr. 356). Trong một ấn phẩm, ở trên là tiếng Tày – Nùng (146 và tr. 196), xuống dưới 3 dòng lại gọi là tiếng Tày (tr. 149) và đến tr. 192: “nhìn chung người Hoa và kể cả người Nùng ở Thái Nguyên đều có thể sử dụng được tiếng Tày”.


Trước tình hình "Gần đây các học giả phương Tây có xu hướng coi Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chỉ là một tộc người; và để tiếp tục nghiên cứu các dân tộc cùng ngôn ngữ này ở Đông Nam Á, đã kiến nghị dùng tên gọi Tai để biểu hiện cho đối tượng nghiên cứu chung (Tai study)", PGS, TS Hoàng Văn Ma (2013) đã có bài phân tích, rồi đưa ra nhận xét như sau:


“1.Tay - Thai - Đai xét ở góc độ từ nguyên là cùng một gốc và có nghĩa là 'người'. Như vậy, Thai - Kađai là một thuật ngữ, một định danh gồm hai yếu tố cùng gốc. Đối với nhà nghiên cứu thì cần tìm hiểu cái gốc của nó, còn đối với người ngoài ngành thì chỉ quan tâm đến tên gọi một hiện tượng một sự vật phân biệt với một hiện tượng một sự vật khác.


“2 Tai/Thai (Tay/Thay) được dùng với nghĩa rộng hẹp khác nhau. Trong các tổ hợp "Tai languages" hoặc "Tai studies" thì Tai được sử dụng với nghĩa rộng, nó bao trùm lên tất cả các ngôn ngữ nhóm Thái ở Đông Nam Á... Còn nghĩa hẹp thì chỉ một ngôn ngữ cụ thể, như tiếng Thái ở Tây Bắc, tiếng Thái ở Thái Lan (Taiskii jazyk)...


“3 Từ những năm 60 (thế kỷ XX) đã xuất hiện thuật ngữ ghép Tày-Thái (như các ngôn ngữ Tày-Thái). Thuật ngữ này nay đã quen dùng. Song xét ở góc độ tên tự gọi thì từ ghép này đã có đôi chút dư thừa, Tày-Thái chẳng qua là Tày-Tãy mà thôi. Đối với thế giới, trong các công trình nghiên cứu thường chỉ dùng Tai hoặc Thai (Tai được dùng phổ biến hơn). Do vậy đối với chúng ta thiết nghĩ cũng nên chỉ dùng Thái hoặc Tay trong các trường hợp như: nhóm Thái hoặc nhóm Tay là ổn, không nhất thiết phải dùng tên ghép nhóm Tày Thái» (VIII).


Tuy nhiên, trong thực tế ta vẫn thường gặp đây đó những cách dùng khác nhau, đôi khi do “quen dùng”, đôi khi để nhấn mạnh. Người ta dễ nhầm lẫn tên một dân tộc với tên nhóm dân tộc xếp theo ngôn ngữ, mà giới nghiên cứu thường sử dụng. Để tránh sự hiểu nhầm về tên gọi kiểu như vậy, Chúng tôi đã có dịp trình bày về hiện tượng này (XI).


2. 2. Đánh giá chung về hoạt động của Chương trình, sau khi nhắc tới sự đóng góp của hai cố Chủ nhiêm: PGS. TS Cầm Cường (1934-1996), và nhà dân tộc học Cầm Trọng (1934-2007), diễn văn của PGS. TS Viện trưởng Phạm Hồng Tung đọc tại Lễ kỷ niệm 25 năm truyền thống và 10 năm ngày thành lập Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, tổ chức ngày 19/03/2014, có đoạn: “Chương trình THVN được Viện tổ chức triển khai từ năm 1989. Trải qua 25 năm Chương trình đã tổ chức thực hiện thành công nhiều vấn đề cơ bản về cộng đồng các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái – Kadai và tổ chức được 6 Hội nghị toàn quốc về Thái học”.


Như thế, khi nhìn lại 25 năm hoạt động của Chương trình, trước hết hãy nói đến một hoạt động xuyên suốt và tập hợp được đông đảo nhất, phát huy được sức mạnh tiềm tàng của lực lượng khảo cứu từ mọi cơ sở, nhất là những nhà nghiên cứu và sưu tầm ở các địa phương, đó là đã tổ chức được sáu hội nghị/ hội thảo khoa học cấp quốc gia: Ba hội nghị đầu được tổ chức tại Hà Nội, không theo định kỳ cụ thể mà tùy khả năng tập hợp lực lượng nghiên cứu, và nhất là – trong khó khăn chung - tùy việc tìm kiếm sự ủng hộ về tài chính để in kỷ yếu và tổ chức Hội nghị. Theo đề xuất của địa phương và cũng là nguyện vọng của giới khảo cứu, từ Hội nghị lần thứ tư, đã được tổ chức phối hợp với các địa phương (Cao Bằng, Điện Biên, Thanh Hóa). Cũng từ năm 2006, Chương trình thống nhất quy định tổ chức Hội nghị ba năm một lần và khẳng định việc ưu tiên đăng cai hội nghị cho địa phương có nhiều thành tựu sưu tầm, tập hợp tư liệu và triển khai nghiên cứu.


 Đáng chú ý là bên cạnh những công trình nghiên cứu chuyên sâu, nhiều bài viết chứa đựng hàm lượng thông tin cao và khách quan, do tác giả chính là người địa phương sưu tầm, cung cấp. Vì thế nguồn tư liệu đa dạng và phong phú, giúp người đọc dễ dàng nhận diện những khía cạnh lịch sử và đường nét làm nên bản sắc văn hoá các tộc người thuộc ngữ hệ này ở Việt Nam. Các báo cáo gửi đến được lựa chọn và tập hợp in thành Kỷ yếu (Xem Thư mục, từ I đến VI). Chúng tôi đã có dịp giới thiệu về Bộ sưu tập tài nguyên thông tin này (XII).


Hội nghị lần thứ VII này được tổ chức tại Lai Châu, vào mùa Hoa Ban 2015, với chủ đề “Cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam: Những vấn đề phát triển bền vững”, tập trung vào 2 nội dung chính: Bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống và Cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam trên lộ trình phát triển bền vững”, nhằm tới các mục đích sau:


•           Tiếp tục làm sáng tỏ những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử đó trong bối cảnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc


•           Tiếp tục làm sáng tỏ vai trò, vị trí của cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và cộng đồng Thái - Kadai trên thế giới, trong lịch sử và hiện tại.


•           Tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra đối với cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam trong quá trình phát triển bền vững của cả cộng đồng cũng như vùng Tây Bắc (với nghĩa rộng nhất), trên các lĩnh vực Kinh tế - Xã hội, Văn hóa, Môi trường và Chuyển đổi sinh kế v.v…


•           Đề xuất các chính sách và cơ chế đặc thù phục vụ cho mục tiêu phát triển đối với cộng đồng Thái – Kadai Việt Nam và thế giới, trên quan điểm phát triển bền vững vùng Tây Bắc và trên phạm vi cả nước.


            Cho đến nay (18/01/2015), Ban tổ chức đã nhận được 112 bài viết trong số 175 tên bài, với 147 tác giả từ 17 tỉnh/ thành đăng ký tham  gia. Do khả năng in có hạn nên Ban biên tập đã chọn ra một số bài đưa vào in Kỷ yếu. Dù sao, chúng ta vẫn có thể nhận thấy THVN ngay càng được quan tâm, thông qua những con số biết nói dưới đây:


Tổng hợp về 6 Hội thảo THVN đã tổ chức:


STT      Năm     Nơi họp              Số bài được in                Số tác giả    Khổ sách kỷ yếu           Số trang


1.         1991     Hà Nội              34                     27         13,5x20,5cm                 340


2.         1998     Hà Nội              63                     62         14,5x20,5cm                 698


3.         2002     Hà Nội              113                   86         20x29cm                       904+4


4.         2006     Cao Bằng         50                     51         19x27cm                       467


5.         2009     Điên Biên          48                     50         19x27cm                       392


6.         2 012    Thanh Hóa        74                     85         19x27cm                       788


Tổng cộng        386       212                   3593


Tổng hợp số lượng tác giả theo địa chỉ cư trú (147): 


 1)        BR - Vũng Tàu (1)


2)         Cao Bằng, 21


3)         Dak Nông, 2


4)         Điện Biên, 12 


5)         Hà Nội, 37+4


6)         Hòa Bình, 1


7)         Huế, 1


8)         Lai Châu, 8


9)         Lạng Sơn, 5


10)        Lào Cai, 1


11)        Nghệ An, 13


12)        Phú Yên, 1


13)        Sơn La 16


14)        Thái Nguyên 7


15)        Thanh Hoá, 14


16)        Tuyên Quang, 1


17)        Yên Bái, 2  


2. 3. Sau 25 năm triển khai hoạt động, tuy chưa thực sự hình thành bộ môn Thái học, nhưng Viện Việt Nam học và Trường Đại học KHXH và nhân văn (đều thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) đã đào tạo được một số cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ thực hiện đề tài về các dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ này. Đối tượng đào tạo không chỉ là người trong nước mà có cả một số người nước ngoài.


Các khóa luận, luận văn và luận án đề cập đến nhiều vấn đề, không chỉ về ngôn ngữ và chữ viết mà nhiều lĩnh vực khác trong đời sống con người, như ăn uống, trang phục, nhà cửa, hôn nhân, gia đình, ma chay, tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật trang trí, một số làn điệu dân ca, sinh hoạt kinh tế, công cụ sản xuất…, không chỉ về các dân tộc có dân số đông như Thái, Tày, Nùng mà đã có đề tài khảo cứu về các dân tộc ít người hơn như Sán Chay (nhóm Cao Lan), La Ha.


Việc triển khai dạy tiếng Thái và tiếng Tày ở nhiều nơi gần đây được thực hiện theo Luật Giáo dục (2005), đó là “ Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số (DTTS) được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho người DTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác”, thể hiện  ở Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên và Quyết định số 03/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/01/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình khung dạy tiếng DTTS (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở vùng DTTS, căn cứ vào Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi, xem đó “là một trong những nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc”.


Chữ viết truyền thống của các dân tộc được chú ý theo các nhu cầu khác nhau, như cùng với việc “nhận diện giá trị của văn bản chữ Nôm Tày trên phương diện văn bản học”, TS. Triệu Thị Kiều Dung (2014) cho rằng “việc tiếp tục sưu tầm, lưu giữ và phát huy các giá trị của văn bản Nôm Tày là một việc làm ý nghĩa, thiết thực” (VII).


Công trình tập thể Tổng kết Chương trinh THVN (1989-2003) đã khẳng định lại việc Nghiên cứu và hoàn thiện bộ chữ viết của dân tộc Thái là đề tài nghiên cứu cơ bản của Đại học Quốc gia Hà Nội do GS. TS Đoàn Thiện Thuật chủ trì, được nghiệm thu ngày 26/3/2002 xếp loại xuất sắc. Chương trình đã tiến hành biên soạn sách dạy/học tiếng Thái và tiến hành đào tạo thí điểm ở một số nơi như Mai Châu (Hòa Bình), Nghĩa Lộ (Yên Bái),… Tuy nhiên, bộ chữ này đã không đi vào cuộc sống như mong muốn.


Song xu hướng muốn tìm về với hệ chữ viết cổ truyền vẫn thể hiện rõ ở người Thái. Để thuận lợi cho việc chế bản và in ấn bằng phương tiện hiện đại, việc xây dựng bộ Font chữ Thái dùng cho máy vi tính đã được ThS Lò Mai Cương hoàn thành năm 2006: nhóm kỹ thuật quốc tế đã cấp 72 mã Unicode năm 2007. Ngày 30/5/2008, một số nhà nghiên cứu và các chuyên gia văn hóa Thái của 7 tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Nghĩa Lộ đã tham gia hội nghị - do Trung tâm Vì sự phát triển bền vững Miền núi (Center for Sustainable Development in Mountainous areas – CSDM) tổ chức và đi đến thống nhất lựa chọn bộ chữ Thái Đen vùng Tây Bắc làm chuẩn và bổ sung thêm 3 cặp chữ của Thái Trắng, 2 dấu thanh làm bộ chữ chung gọi là chữ Thái Việt Nam. Bộ Font chữ Thái do cô giáo người Thái này xây dựng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ trao giải khuyến khích Thưởng sáng tạo khoa học – công nghệ Việt Nam năm 2012 và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trao giải Tài năng sáng tạo nữ năm 2013. Hiện bộ chữ này được sử dụng phổ biến khi viết sách tiếng Thái. Nhiều tỉnh đã ra quyết định sử dụng bộ chữ này nên rất cần được công nhận ở cấp Nhà nước (XIII).


Tuy nhiên, trong đời sống ngôn ngữ, việc sử dụng các phương ngữ trong giao tiếp cũng như việc sưu tầm văn bản bằng những bộ chữ vốn có ở địa phương vẫn được tôn trọng. Và nơi có điều kiện, để thuận lợi cho việc in ấn, một bộ chữ địa phương, như chữ Thái hệ Lai Tay do Sầm Văn Bình xây dựng hiện cũng được dùng phổ biến ở tỉnh Nghệ An.


Các thành viên Ban chủ nhiệm cũng đã góp sức biên soạn các bộ giáo trình tiếng Thái, tiếng Nùng (bên cạnh tiếng Mông), được Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành năm 2010, dùng cho bộ môn Ngôn ngữ các DTTS, Khoa Ngôn ngữ học, Đại học KHXH và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), đó là:


•           Nhập môn tiếng Thái ở Việt Nam: Tiếng Thái Đen vùng Tây Bắc, 370 tr.


•           Tiếng Thái cơ sở: Tiếng Thái Đen vùng Tây Bắc, 494 tr.


•           Giáo trình ngữ pháp thực hành tiếng Nùng, 331 tr


Đáng chú ý nữa là từ năm 2004 đến nay, nhóm tác giả gồm: Cầm Trọng, Nguyễn Văn Hòa, Hoàng Văn Ma và Vương Toàn đã hoàn thành việc biên soạn công trình Từ điển văn hoá các dân tộc Thái - Tày – Nùng (2011, 478 tr. A4), dưới sự chỉ đạo của PGS. TS Nguyễn Thị Việt Thanh (khi đó là Phó Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển). Từ điển được chỉnh sửa, bổ sung và biên tập thống nhất sẽ ra mắt bạn đọc vào dịp thích hợp. Bản thảo Văn hóa dân gian các dân tộc Nùng và Tày – Các khái niệm cổ truyền, (270 tr, A4, do Vương Toàn chủ biên, Hoàng Văn Ma & Hoàng Tuấn Cư) đã được trao Giải thưởng Khuyến khích của Hội Văn Nghệ Dân gian (VNDG) Việt Nam năm 2012.


Trong buổi làm việc ngày 07/5/2013, với Ban chủ nhiệm mới (nhiệm kỳ 2013-2018) của Chương trình, sau khi khẳng định nhiều việc lớn đã làm được xuất phát từ tâm huyết của các thế hệ đi trước, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển PGS. TS Phạm Hồng Tung chỉ đạo THVN sắp tới cần theo định hướng mới, để có các sản phẩm mới: Đó là trong khi tiếp tục các nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc học làm cơ sở cho việc tiếp cận những vấn đề nóng bỏng của cộng đồng Thái – Kađai (8+4 dân tộc) cùng với các dân tộc khác sống cận kề, với phương pháp nghiên cứu liên ngành, chú ý nhiều hơn đến các mặt địa lí, kinh tế, đặc biệt là sinh kế của đồng bào các dân tộc sau những chuyển đổi to lớn về sản xuất và môi trường (hậu tái định cư). Nói cách khác, THVN cần chú ý đến những lợi ích thiết thực của đồng bào. Như vậy, bên cạnh việc chuẩn bị cho công bố những sản phẩm đã làm được, cần xây dựng Tổng tập nghiên cứu; cần có những báo cáo kiến nghị về đường lối chính sách đối với Đảng và Nhà nước. 


Chương trình hoạt động trong thời gian tới tập trung vào:


1.         Tham gia nghiên cứu đề xuất để Nhà nước công nhận bộ chữ Thái Việt Nam thống nhất, do điều kiện đã chín muồi.


2.         Tham gia xây dựng hồ sơ múa dân gian Thái và Then vùng núi phía Bắc trình công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.


3.         Tổng kết thành tựu nghiên cứu về các tộc người thuộc ngữ hệ Thái Kadai ở Việt Nam bằng việc xây dựng Tổng tập nghiên cứu về Thái học (chọn lọc những bài viết đã được công bố trong 7 Hội thảo và bổ sung mới). Dự kiến gồm 10 tập:


1)         Quá trình tộc người với lịch sử hình thành và phát triển quốc gia;


2)         Kinh tế truyền thống;


3)         Xã hội truyền thống;


4)         Kiến thức bản địa;


5)         Văn hóa truyền thống; 


6)         Tôn giáo, tín ngưỡng & tâm lý;


7)         Văn học truyền thống;


8)         Tiếng nói và chữ viết;


9)         Những biến đổi trong hội nhập và phát triển;


10)        Sự phát triển của ngành THVN và thế giới


Cũng có thể cho ra các tập có tên chung là: Góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cho từng địa phương, theo yêu cầu.


Như thế, cùng với việc chuẩn bị cho cuốn Kỉ yếu Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ VII (đang biên tập), Chương trình còn tổ chức biên soạn CSDL  Từ điển đa ngữ Vốn từ cơ bản: Nùng – Tày – Thái – Việt (Pháp, Anh…) - từ đó có thể cho ra đời các tập Từ điển song ngữ, như Thái – Viêt, Việt – Thái…, tùy nhu cầu - và cơ sở dữ liệu Thư mục Thái học Việt Nam (được cập nhật và trích xuất in sau các tập sách thích hợp).


Các ấn phẩm của Chương trình và cộng tác viên có liên quan có thể cho ra đời Tủ sách Thái học Việt Nam, một khi có điều kiện xuất bản (được các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ, bằng việc đặt in).


3. Thay cho kết luận


Không chỉ nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhà nghiên cứu và sự giúp đỡ của nhiều tổ chức trong nước, suốt hai mươi năm qua, THVN đã nhận được sự quan tâm và ủng hộ của không ít cá nhân và tổ chức quốc tế và nước ngoài, từ việc trao đổi tư liệu nghiên cứu đến tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia các hội nghị, hội thảo quốc tế có liên quan đến những vấn đề của Thái học. Chính vì thế, Ban chủ nhiệm và một số thành viên đã có dịp tiếp xúc, trao đổi khoa học và chuyển giao tri thức về THVN với một số đồng nghiệp quốc tế.


Khi phụ trách cơ quan chủ quản của Chương trình, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, GS. TS Nguyễn Quang Ngọc chỉ rõ: “THVN là Việt Nam học trên không gian văn hoá xã hội và môi trường Tày - Thái, sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp Dân tộc học với các ngành khoa học liên quan như sử học, xã hội học, ngôn ngữ học, văn hoá dân gian, địa lý, môi trường... để đi đến nhận thức khách quan và tổng thể về các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hoá truyền thống, làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển khu vực, đồng thời củng cố, nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc, thực hiện thành công các chủ trương chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, mở cửa và hội nhập hiện nay...”. Và sau đó, ông đánh giá rằng: “Trên cơ sở những thành tựu mà cả một thế hệ các nhà THVN đã tạo dựng mấy chục năm qua, hoà cùng với xu thế phát triển mạnh mẽ của Việt Nam học theo định hướng liên ngành những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá và mở cửa, hội nhập của đất nước, chúng ta hoàn toàn có đủ khả năng và điều kiện hướng tới một nền THVN tiên tiến, ngang tầm với những nền Thái học lớn trong khu vực và trên thế giới» (IX).


Với tuổi hai nhăm đầy sức sống, với đội ngũ tập hợp được ngày một đông đảo và đang được trẻ hóa, nghiên cứu THVN hẳn sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu mà nhiều người chúng ta mong đợi.


Tháng 01- 2015


VT.


___


THƯ MỤC


I.          Kỉ yếu "Hội thảo Thái học lần thứ I ". H. NXB Văn hóa dân tộc, 1992, 340 tr.


II.          Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam. Hà Nội, Nxb Văn hoá Dân tộc, 1998, 698 tr.


III.         Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam. H., Nxb Văn hoá Thông tin, 2002, 904 tr.


IV.        Đóng góp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam - Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ IV, Cao Bằng – 2006. H., Nxb ĐHQGHN, 2006, 468 tr.


V.         Địa danh và những vấn đề lịch sử - văn hoá của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Việt Nam. H., Nxb Thế giới, 2009, 392 tr.


VI.        Cộng đồng các tộc người ngữ hệ Thái - Kadai ở Việt nam Truyền thống, hội nhập và phát triển (Kỉ yếu Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ VI, Thanh Hóa). H., Nxb Thế giới, 788 tr.


VII.       Triệu Thị Kiều Dung (2014).- Nhận diện các giá trị văn bản viết bằng chữ Nôm Tày. Bài viết gửi Hội thảo THVN lần thứ VII.


VIII.       Hoàng Văn Ma (2013).- Về tên gọi hệ Thái – Kađai.   Bài viết gửi Hội thảo THVN lần thứ VII.


IX.        Nguyễn Quang Ngọc.- Hội thảo Thái học Việt Nam lần thứ V  http://www.ivides.edu.vn/Main.aspx?MNU=1202&Chitiet=831&Style=1


X.         Vương Toàn (2009). - Hai mươi năm nghiên cứu Thái học Việt Nam. Tc. Thông tin KHXH, 2009, s. 7, tr. 10-16. // 20 years of Thai Studies in Vietnam. Social Sciences Information Review, Vol. 3, n. 3, September 2009, pp. 12-18.


XI.        Vương Toàn (2000).- Về tên gọi các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái ở Việt Nam. Tóm tắt báo cáo Hội nghị quốc tế lần thứ năm về các ngôn ngữ châu Á. ĐHQG tp HCM, 2000, tr. 256-258; Hiểu cho đúng các nhóm từ: Tày – Nùng, Tày – Thái, Tày -Thổ. Báo cáo tại Hội thảo Ngữ học toàn quốc do Hội Ngôn ngữ học phối hợp với Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng tổ chức ngày 22/4/2011.


XII.       Vương Toàn (2012).- Bộ sưu tập tài nguyên thông tin về các dân tộc thuộc ngữ hệ Thái – Kadai. Báo cáo tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ IV, Hà Nội. Bổ sung và sửa chữa in lại trong Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đổi mới hoạt động thư viện. H., Nxb Thông tin và Truyền thông, tr. 191-208.


XIII.       Vương Toàn (2014). - Những nguyên tắc đi tới cùng sử dụng một bộ chữ Thái. BCKH  in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc”. H., Nxb Đại học Sư phạm, 2014, tr. 182-189; Hướng tới cùng sử dụng một bộ chữ Thái. Tc. Nghiên cứu dân tộc, Viện Dân tộc – UBDT, số 9/2014.

trieuxuan.info