15.07.2015
Đạm Phương Nữ Sử
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (10)


SANH NHAI BẰNG CÁCH LÀM MỐI DONG



Làm mối dong là một người đứng cửa giữa giới thiệu cho đôi bên biết nhau; nghĩa đen là đưa đường chỉ nẻo cho hai tình quen nhau, cho nên dù làm việc gì, cũng phải cậy người làm môi giới trước cho. Giả sử muốn quen biết thêm một người nào cũng phải nhờ người giới thiệu, muốn cưới vợ gả chồng cho con cái, cho đến việc bán ruộng mua đất, đều cần có mối dong hết thảy; mà điều trên hết là thuộc về nghĩa, mà hai điều dưới thì vì nghĩa mà cũng có lợi ở trong. Vì nghĩa mà không có lợi thì người ta ít muốn làm, vì lợi mà làm, thì cái tiếng mối dong lại không quí nữa. Nguyên cái người (tác hiệp) là thành nhân chi mỹ; như trai muốn có vợ, gái muốn có chồng, nhờ lời mai chước mà toại chữ bá niên, quí hóa thay. Nay mai chước dụng tâm về tiền của, tất là không có cái công tâm đối với người đời cho thỏa mãn, thường lấy cái tư dục của mình cho có lợi riêng, nên lắm lúc quyến oanh rủ én, chẳng qua vì đồng bạc trắng mà bỏ đạo nghĩa luân thường, làm cho gia đình người ta đổ nát, sinh ra cái ác cảm gớm ghê, biết bao kẻ chua xót đau ngầm trong tim, chết đuối ở dưới tay những hạng người độc địa như vậy.



 Ôi! ở đời bây giờ hình như vì lợi là to hơn hết thảy, việc gì có lợi thì làm, chớ không còn kể liêm sỉ thanh danh gì sốt, trong thiên hạ biết bao nhiêu nghề làm ăn mà đã cùng đường chi đó, lại xoay về nghề làm mối dong để giữ cách làm ăn, tri thức hẹp hòi như thế, còn nhân phẩm ở đâu, còn lương tâm ở đâu, các người mối dong mà ăn tiền của người ta nghĩ cũng làm sao? Có phải việc đời có điều gì khuất khúc khó khăn, tất là phải trở mặt làm trái, lấy phải làm chẳng, mà uốn lưỡi khua môi, lời ngon giọng ngọt, nhiên hậu mới làm mê hoặc đặng lòng người, thì mới đặng tiện cho mình. Khi nào mà có sự tư lợi toàn là có thiệt hại cho xã hội cả, xã hội hại là thiệt hại cho từng gia đình của mọi người, vì góp nhiều gia đình mới thành một xã hội. Người ta ai cũng muốn gia đình cho hòa hảo, thì không nên làm mất sự hòa hảo của gia đình kẻ khác. Những người đã có chồng có vợ rồi, mình không nên bài bác bình phẩm làm cho người chia rẽ nhau ra, để cho mình lợi dụng cái tài khôn khéo mà mưu sự tiền bạc là nghề đê tiện không chừng. Tiền của là đám mây nổi, tiếng tăm mới là vật để đời, hãy xin ai lấy gương công lý soi hình, chừa bớt thói xấu một lần, đừng nên tái lại nữa, bệnh truyền nhiễm thói xấu ấy lây cho xã hội, mà làm nguy cho nhân quần bây giờ.



 



Trung Bắc Tân văn. Số ra ngày 7-4-1924; Mục Lời đàn bà



 



CÁC TÍNH XẤU NÊN RĂN



Thế thường hay chê bai nhau rằng: tính lơ đễnh là tính hay quên và không kín đáo; tính bòng tranh là tính đương làm việc này lại bắt quàng sang việc khác, rút lại không thành đặng một việc gì là việc xong xuôi hết cả; tính tào lao là việc nhà thì nhác, việc người khác thì siêng, trong lòng không có chủ định, không có ngăn nắp thứ tự, bạ sao làm vậy, bạ răng nói rứa. Tính bốp tốp, công việc ít suy nghĩ, thấy ai làm thì nóng sốt làm theo, chớ không biết đầu đuôi gốc ngọn cái kết quả nó hay dở sau ra thế nào. Tính lười biếng lại khác hẳn các tính trên kia, tính lười biếng là tính không muốn làm công việc, thấy ai làm chi, nhắm mắt đi xuôi, hoặc khi có làm, cũng không được chí thú, thời giờ trễ nải, lơ láo qua ngày.



 Nói tóm lại, thì bao nhiêu tính mới kể qua đó, dầu có làm việc, hay không làm việc, đều hỏng công việc hết thảy. Người đàn bà con gái, là phải tập cách ăn ở cho có chủ trì trong bụng, gia đạo mới nên, sự nghiệp mới có, nếu loang toàng lắm, dầu của vạn tiền ngàn, chưa chắc đã giữ trọn được già đời, tuy có nết na ỉu nhỉu, mà mỗi việc ra đối phó với đời, mỗi tam phao lộn quấy, là cũng khổ hại cho chồng con vậy. Người đàn ông không dễ cứ ngồi bên cạnh người vợ, mà chỉ vẽ cho mãi, khi cái tâm tính đã sai đường chính, thì lần lần sai công việc hết trọi. Lắm người mới xem qua, cực kỳ tử tế, mà là cực kỳ không biết đường thi thố, do vì những tính như trên kia đã nói, hắn ngấm ngầm ở trong mà ăn mòn ra công việc, chớ không phải như tính xài phí, tính cờ bạc, tính chơi bời, mà ai cũng từng trông thấy, thì hạng ấy người ta cho là đàn bà con gái hư, không đủ kể nữa.



 Vậy thì muốn chữa cho khỏi những tính xấu ấy đi, cũng không khó gì. Trước hết phải biết kỷ cương làm căn bản, biết siêng năng làm bổn phận con người, biết nghĩa vụ nên làm thì làm, biết suy xét thì không đến lầm lỗi, biết cẩn thận giữ mình, thì không mang thẹn.



 



 Khi đã tránh khỏi, tự khắc coi lại các tính như vậy, rõ ràng biết nó là cực kỳ xấu xa vô cùng, chỉ hiềm hại thay một điều, là bao giờ những sự lầm lỗi vụng dại, toàn ưng giấu kín, không cho ai biết, bởi thế nên có người suốt đời chưa đổi được cái tính xấu trong mình.



Trung Bắc Tân văn



Số ra ngày 14-4-1924; Mục Lời đàn bà



 



NGÀY THANH MINH



Tiết thanh minh năm nay về tháng ba ngày mồng hai, ban mai sương mù, quá bảy giờ vẫn còn ướm đượm móc sa, đồng cây xanh ngắt, mặt nước trong ngần. Trên con đường cái, kẻ đi người lại, nào gánh nào mang, nào xe tay, nào xe ngựa, ngổn ngang gò đống kéo lên, hoặc cùng nhau lần bước dặm xanh, thế là ngày lễ tảo mộ, gọi là tiết đạp thanh vậy.



 Trên từ đấng thiên tử, dưới cho đến kẻ thứ dân, đều có cái quan niệm đối với lễ Thanh minh rất là thành kính, rất là mật thiết. Tuy cái ngày hội chung một nước mà lại là hội riêng của từng họ từng nhà, mà cái lòng truy niệm của từng hạng người đối với sông núi, đối với tiền nhân có hàm một đoạn cảm tưởng sâu xa, như khi đứng trước mộ địa trong lòng có cảm động: hoặc mình đã làm đặng trọn nghĩa vụ, thỏa nguyện cho người chín suối, hoặc còn đương dở dang; hoặc có kết quả, mà ngậm ngùi cho nỗi sau, mừng mà cảm, hay xót xa mà cảm không hạn, nhưng không ai là không chan chứa mối cảm tưởng. Khí trời còn sùi sụt, dở nắng pha mưa, càng như xúc động lòng người, miên man trăm ngả, khói hương ngui ngút, tro tàn bướm bay, ngọn gió đìu hiu, vẻ mây tan tác.



 Ông Đào Trang có câu vịnh tiết Thanh minh rằng: “Nhi nữ hữu châu đô thị lụy, Anh hùng vô cốt bất thành hôi” nghĩa là: Người con gái nào quanh tròng lại không đầy những giọt nước mắt, Kẻ anh hùng nào bộ xương lại không thành ra đống tro.



Rì rì một đám cỏ khâu



Thỏ tà ác lặn, nghìn thâu những người.



Vậy mà khi trước ai có danh cao nghĩa trọng, dẫu đời nọ truyền sang đời kia, miệng người vẫn còn truyền tụng cái công đức ấy, non sông còn kỷ niệm cái sự tích ấy, thì thể phách tiêu mà chính khí không bao giờ tan, cho nên hậu nhân bằng điếu , như cái dấu vết ghi để của sơn xuyên, lời tán dương của nhân thế, nên nhận ra cái tinh anh còn phưởng phất trong vũ trụ, mà cái giọt máu tinh thành đúc rút lại hạng người sau này, hình như cũng đương thở hớp không khí mới trong sạch, để bồi dưỡng sự nghiệp cao thượng của đời người. Ấy cái quan niệm thuộc về tinh thần lễ thanh minh là thế, còn cái hình thức lễ Thanh minh như trên kia đã kể, ngựa xe rộn rịp, siểng gánh quả mang, lũ lượt người đi vân vân.



 Ôi! người ta trọng tinh thần mà không bỏ hẳn hình thức đi đặng, là vì có cái hình thức để biểu hiện cho biết còn giữ đặng cái tinh thần. Nay lễ Thanh minh có người bàn nói rằng; ngày nào đi thăm mộ nỏ đặng, đợi chi ngày Thanh minh, lễ Thanh minh là của Tàu. Lại có người nói: cúng ông bà hương hoa cũng đủ, đợi chi cỗ bàn bánh trái. Nói thế đều không hợp lẽ phải cả. Sự cúng tế đã thuộc về lễ nghi của nước mình xưa nay như thế; tiết Thanh minh là ngày đi tảo mộ, can cớ chi Tàu có mà mình lại không có? Cứ lẽ phải có, thì ngày Thanh minh là ngày tiết tự, nhà nước đã định ra ngày ấy, mình theo cái công lệ của nhà nước, mà đi thăm mồ mả ông bà mình, làm sao lại gọi là lễ của Tàu đặng; nếu lễ của Tàu, nào có cúng bái ông bà gì bên Tàu đâu?



Trung Bắc Tân văn



Số ra ngày 26-4-1924; Mục Lời đàn bà



 



CON MẮT THIÊN HẠ SÁNG NHƯ ĐÈN



Phàm việc gì đã làm ra, tất là không giấu ai đặng hết thảy, muốn cho người ta đừng biết, trừ phi đừng làm; nếu làm mà còn e trước lệ sau, thế là toàn điều bậy điều dở, trái với lòng lành.



 Tục ngữ có câu: “Con mắt thiên hạ sáng như đèn” nghĩa là không che lấp sự lỗi của mình đặng đâu. Những người có quyền chức, có tiền có của nhờ cậy rằng lấy thế lực, lấy tiền của, mà muốn làm gì đặng nấy, rồi ấp ủm đè nén người ta không cho ai nói đến việc lỗi của mình. Thiên hạ cái sự gì càng giấu kín, họ lại càng ưng nói, hình như cái của quí, ai ai cũng thích. Giả sử như câu chuyện một vài người biết, nhiều người chưa biết thời câu chuyện ấy tất phải có giá trị, cho nên việc kín người này nói với người kia nghe mà biểu giấu kín, thực như biểu họ truyền bá việc ấy ra cho mau đó mà thôi. Lý thế như vậy bao giờ cũng thành công lệ sẵn, là vì thói người đời thành thực đã hiếm, mà lại thành thực với việc phải còn chưa có ai, huống hồ thành thực với việc trái, thì dù kẻ trung tín đến đâu cũng không khỏi tiết lộ. Vì người ta nghĩ việc quái gở mà ẩn ác tợ hồ như trưởng ác cho kẻ phạm tội, thà nói ra để may có bổ cứu lại chút nào chăng kẻo người làm điều bậy vẫn nghĩ u u minh minh, mình làm ra thì mình biết, chớ còn có ai nữa; nhược bằng cứ căn cứ con mắt thiên hạ sáng như đèn mà đọc đi đọc lại năm bảy lượt, tự nhiên trong lòng phải áy náy nhiều ít rồi đổi lần các tánh tự đắc cũng dễ.



 Ôi, có cái dở của mình mà mình không biết, lỗi ấy còn chưa mấy. Có cái lỗi của mình mà mình biết, biết thì biết mà vẫn cứ làm, làm lại ưng đừng ai nói, đó mới thực là man muội quá lắm. Song họ không biết suy xét, chớ trong đời có cái gì để yên không lời bình phẩm đến bao giờ, bởi những lẽ phải lẽ trái, điều hay điều dở mới gây nên cái phong hóa cho xã hội, văn minh với dã man do ở chỗ đó mà ra cả. Người văn minh không hay làm sự mờ ám, đã dối người mà lại dối cả mình.



 Ngày nay đàn bà con gái học thức đã rộng, tưởng cũng nên để tâm suy xét cách cư xử ở đời sao cho hợp phép. Làm chớ nghĩ mênh mông quá nhãng bỏ những việc gần gũi bên mình là những cái nết na khuôn phép, làm cho con mắt người ngoài soi xét đến, cho là có vỏ mà không có ruột. Còn những người xưa nay không hề theo tân học thì nên giữ tính thiệt thà chất phác là hay, chớ ngộ nhận hai chữ văn minh mà làm càn, bộ đi bộ đứng kiêu ngạo, cách nói cách làm sỗ sàng, làm cho ra người thạo, nghĩ người đời thấy thế là choáng mắt không còn phân trong đục ra thế nào, câu nghĩ ấy là lầm, khi nào con mắt thiên hạ cũng sáng như đèn cả.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 6-5-1924; Mục Lời đàn bà



 



TRẺ CON TRONG NHÀ PHẢI NÊN DẠY



CHO BIẾT THỨ TỰ CÁCH ĂN Ở



 Dạy trẻ con cốt phải dạy cho biết sự sạch sẽ làm đầu, vì đứa trẻ bao giờ cũng ham chơi, bất cố bẩn thỉu, mà sự bẩn thỉu quen, trước là hại đường vệ sinh cho thân thể, sau là hại đến tâm tính của con người. Tây có câu phương ngôn nói rằng: “Sự sạch sẽ là mẹ đẻ sự sức khỏe”. Người bẩn thỉu quen, đến khi khôn lớn tâm tình cũng bẩn thỉu, quan hệ cho một đời người, vậy thì điều sạch sẽ là điều thứ nhất trong nhà thường ngày. Buổi mai sớm dậy, luyện cho trẻ con phải biết cách tự mình làm lấy, như là phải súc miệng, phải rửa mặt, sáu bảy tuổi đã tập học hành, giờ ăn, giờ học đúng lệ cho quen. Khi chơi cho có chừng có đỗi, áo quần đừng để rách rưới, mỗi ngày phải tắm một lượt, khi đi ngủ nhắc rửa chân, cầm đồ ăn tay phải cho sạch, nếu bẩn thì đừng cho ăn, tự khắc đứa trẻ con phải vâng theo lời dạy bảo.



 Điều thứ hai: muốn dạy cho tâm trí trẻ con được ngay thẳng, thì nhất thiết những vật gì của ai, không đặng tự tiện mà lấy đi, không xin phép với người lớn trước hoặc tới nhà ai, cấm không cho bạ cây gì quả gì của người cũng hái. Có đứa trẻ đã phá hại cây quả của người ta, về nhà mách lại với mẹ, bà mẹ còn khen con giỏi, con tài, làm sao con lại hái đặng. Như thế là dưỡng thành cái tính tham lam cho trẻ con, thật tại người lớn cả. Nguyên cái tính trẻ con có tham, cũng là tính tự nhiên, chớ không phải cố tham lam, cũng như cái tính ác, là ác tự nhiên. Hãy xét những đứa mới biết thông hiểu, thấy ai cầm vật gì cũng đòi, thấy con chim con chuột, hay cái hoa cái nụ, đã cầm lấy thì muốn xán đổ, dứt xé cho hư hỏng mới chịu nghe. Sao vật gì khi xin người ta đặng thì biết mừng, mà khi ném đi lại không biết tiếc, cái đó đủ chứng rằng trẻ con dầu tham dầu ác, đều không có cơ tâm hết thảy, tham ác một cách vô tâm, chỉ theo cái vật dục của đời sai khiến đó mà thôi.



 Điều thứ ba: là có ngăn nắp, những đồ dùng hay đồ chơi, phải biết của quí của hèn, vật thanh vật thô, để phòng khi dùng cho có thứ tự; áo quần thường dùng, dạy cho biết để có nơi có chỗ, mấy cái cũng biết. Đứa trẻ con đã đi học, thì cái áo quần mặc đến nhà trường, cái nào mặc ở nhà phải nhất định, khi về đến nhà phải thay đổi ngay, chớ cho nằm ngồi nhăn nhó, tối ngủ phải kiếm chỗ mình thường nằm, chớ không đặng bạ đâu nằm đó. Bữa ăn người lớn ngồi trên, người nhỏ ngồi dưới, không nên cho ăn nhiều, chỉ thường đủ phần, để tiêu hóa cho dễ. Ăn lắm tức phát bệnh, vì ngon miệng no ruột, không biết tục ngữ có câu “đói nhọc lo, no khó chịu”. Đói nghĩa là nhịn một vài miếng chẳng làm sao, cố cho đầy bọc chứa, lách ách mang không nổi, tham thực cực thân, trẻ con đã hiểu đâu câu ấy.



 Điều thứ tư: tính trẻ con là thuộc tín, những người lớn đối với trẻ con, phàm cái gì đã hứa lời cho, tức thì phải giữ lời, ví dụ như nói cho đi xem hát, cho đồ chơi, cho vật ăn, v.v… không đặng xáo trộn đổi lời hứa của mình, nói cho rồi lại không cho, làm cho đứa trẻ con nghi dạ một vài lần cứ như thế, sau dạy vẽ cũng không công hiệu gì nữa. Vì hắn nghi lời nói ấy chẳng qua cũng là lời nói phỉnh phờ, không có chắc chắn vào đâu; người lớn nói đặng, thì người nhỏ nói cũng đặng, lớn làm sao thì nhỏ bắt chước làm vậy.



 Lại còn nói với trẻ con, không nên nói chuyện ma quỉ, sự ấy là một sự mập mờ, không có bằng chứng đích xác, trẻ con tri thức còn non, thì nó yên trí là có ma quỉ sống như người ta cả. Lắm nhà trẻ con thấy trời tối, cây rung lá đập sạt sạt, mà mất cả hồn vía, thậm chí ra trước thềm, sau hè nhà, cũng không dám đi, tin lắm, sợ lắm, đều sinh tính yếu ớt ra cả.



 Điều thứ năm: đối với trẻ con, chớ nên quá yêu quá chiều, thì sinh tính lờn dễ; mà cũng chớ nên nghiêm khắc, đập đánh dọa nạt lắm, mất cái tính trìu mến của đứa trẻ con. Cho nên bày sự thưởng phạt làm cho vui lòng biết vâng lời thì thưởng, không biết vâng lời thì phải phạt: phạt quì phạt đứng, không cho đồ ăn, không cho đồ chơi, thế là đủ. Khi đương phạt không nên pha trò rỡn cợt, vì trẻ con thấy thế thành ra không sợ. Khi đương thưởng đừng nên lấy cớ lỗi trước mà kể lại, vì nếu có lỗi mà vẫn được thưởng, thì cái phần thưởng ấy chẳng có giá trị gì.



 Trẻ con hay có xử tính, vì thế mới hay tranh nhau. Phải nhân trong khi tranh nhau mà giảng cho biết sự lỗi phải cho hợp phép, vì rằng đã tranh là hai bên đều nghĩ phần mình là phải cả. Ví dụ như: vật chơi của đứa này rơi ra, đứa khác nhặt đi, bên nào cũng giành phần của mình hết thảy. Người kẻ lớn dạy vẽ liệu lý làm sao phân xử cho công bằng thì chữa tính cho trẻ con khỏi tham và lạm; của rơi bắt đã quen tay sau thì hay manh tâm gian phi cũng vì tại đó. Đứa mất của tự mình đã không biết giữ gìn cho cẩn thận, lại còn tranh giành dữ dội là lạm. Khó nhất là cách đối đãi với đầy tớ, người làm công trong nhà, vì bọn đó là hạng lam lũ, phục dịch nặng nhọc, trẻ con thấy thế đem lòng khinh rẻ, lắm khi ngược đãi kẻ dưới nhiều điều chua cay, thật là không nên. Không những đã tổn phần đức hạnh của mình, mà lại còn trưởng thêm cái tính ngạo ngược; phải bảo cho hắn biết rằng: người với mình là một loài, bởi tiền của khác nhau chớ tay chân mặt mũi không thiếu cái gì.



 Tục ngữ có câu: “Cơm cấu làm xấu người ta”. Xưa nay biết bao kẻ đã vì cái thế lực đồng tiền, đè nén hành hạ cái thân thể phải khó nhọc, phải thấp kém, mòn mỏi cái trí khôn, chớ không phải không có linh tính, nếu thế thì lại càng nên thương tình cho người ta mới phải; mình một ngày không có những hạng người ấy tức cũng khó chịu thay. Cái nghĩa ở đời là phải tương nhơn với nhau, kẻ công người của, vừa giúp lẫn nhau nhiên hậu mới sống nổi. Vòng sinh tụ, cuộc kinh doanh, nhà giàu không có nhà nghèo không làm nên giàu đặng; chủ nhà không có đứa ở không thành ông chủ; đầy tớ nhọc công, nhà chủ nhọc ruột; hai tình có liên lạc, mới vui lòng làm hết bổn phận.



 Bà La-Pha-Nhân có bài gia huấn dạy vẽ cho con trẻ nói rằng: “Phàm đứa tôi đòi của cha mẹ, người con cháu trong nhà, không đặng tự tiện sai sử, không đặng khinh thường, vì hắn phục dịch công việc của cha mẹ đã đủ rồi; nếu chính xuất đa môn , thì hóa ra hiếp đáp người ta quá, vả công việc cũng vị tất thập phần viên mãn nữa. Đến sự ăn mặc chớ nên bạc đãi kẻ dưới lắm, một thanh một thô mà thôi phải để cho sung túc. Lời nói phải để còn cái nhân cách cho hắn; nếu quá sỉ nhục thì ra tính khắc bạc không hay. Sự làm oai phúc với người trong nhà là hèn; bọn ấy không đủ tri thức cho mình bàn tính, chỉ lấy công việc mà nói thôi; dầu hắn có sơ lỡ lời nói, cũng nên dung thứ mới có độ lượng; xử lịnh cho có chừng có đổi để cho hắn biết qui tắc mà noi theo. Con trẻ tương lai thành nhân, biệt lập một sản nghiệp, cách điều bát hỗn tạp, thì hại cả tiền của, hại cả tâm trí. Nhiều nhà cứ than thở đầy tớ bất nghĩa, nhưng phải xét mình ở với hắn đã hết nghĩa chủ nhà chưa? Nếu mình thưởng phạt phân minh, mà hắn không chịu làm hết nghĩa vụ bổn phận thì đuổi đi là cùng”.



 



 Làm người phải nên thương người; thương nghĩa là niệm cái công lao người ta, không phải bạ sao cũng thương; không có công lao gì cũng cho tiền cho gạo, thế là giúp thêm sự hư nhác lười biếng cho hắn, thương thế là hại.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 20-5 và 6-6-1924



 (Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái”- 1928)



 



CON GÁI PHẢI NÊN TẬP VIỆC NHÀ CHO QUEN



 Con gái mười hai tuổi đã dạy lần cho biết công việc trong nhà, dầu cho đi học trường, nhưng cũng phải biết thêm một món việc nhỏ nhặt trong nhà nữa, có thiệt hại gì. Vì rằng tương lai người nào cũng phải có chủ trương một gia đình hết thảy, nếu biết văn chương mà không thực hành được công việc, thì hóa ra tư tưởng mông mênh, có văn mà không có chất, nói trời nói đất thì trúng, cách ăn cách ở thì ngô nghê. Cái ngộ điểm ấy, không phải ngày xưa ta học chữ Tàu mà không mắc phải cái bệnh đó đâu. Coi như đọc sách mười năm không ra xem vườn, lắm kẻ không phân biệt được con trâu hay con bò, một quan tiền không biết mấy đồng. Nay tân học đã không đến nỗi thế nữa, thì sự học phải suy xét. Phàm người đã có học thức, thì việc gì giữa đời cũng nên lãnh lược ít nhiều mới gọi là học phổ thông, đàn ông còn biết cách việc nhà cư xử, cách mua bán, cách nấu ăn, cách nuôi con, huống đàn bà bổn phận trong gia đình, lại sơ lược đi chẳng là bất lợi lắm ru. Vậy thì sự học của con gái, thiết tưởng phải chia ra làm hai phần: một phần luyện tập về tinh thần, cần phải đọc sách vở, một phần phải làm việc bằng tay chân mới nhuần nhã công việc, mới thực hành hiệu nghiệm. Nếu cứ biên bài lên trên mảnh giấy, cách nuôi con cho sạch sẽ, mà em út bên cạnh mình bẩn thỉu trối kệ, nói rằng vệ sinh, mà cách thức ăn uống phó mặc người, đồ ăn thức đựng không hợp với cách phòng bệnh, làm sao ăn vậy, ăn rồi lại đi, đi rồi về ăn, coi cái nhà như quán trọ một bữa, thì sự học không có ích lợi gì cho ai. Đọc câu bác ái thuộc lòng mà cha mẹ anh em trong nhà đã không quyến luyến nhau, thì còn thương yêu ai hơn nữa, chữ bổn phận viết mòn bút, mà thấy điều gì trái mắt cũng lơ đi, làm sao gọi là hết bổn phận đặng. Làm một người con gái trong nhà gồm thanh biết thô hay, nhiên hậu mới quí; nay muốn học tập công việc trong nhà, chỉ bằng ư qui củ sẵn của cha mẹ đã bày ra trước mắt mà mình luyện thục còn gì hay hơn.



 Đành rằng làm nghề gì thì một nghề, chớ chẳng ai bắt cá cả hai tay bao giờ, nhưng đây có phải nghề kiếm tiền đâu, mà sợ sự vận động đến lao thần khổ tứ, đây là phép học khôn ngoan ngăn nắp làm việc cho mình, giúp công cho nhà, làm việc tức là học, học tức là làm việc. Ví dụ như thấy cha mẹ buôn bán hay làm nghề nghiệp gì, cũng để con mắt đến xem xét cho tường hiểu. Cái cân lượng cái thước tấc đo lường, cân vàng khác cân bột, có cầm dây mới biết non già, thước mộc khác thước may, có so đến mới hay dài vắn; hoặc nhà có cúng kỵ, lễ mừng vui, làm bánh trái, làm mứt món, cũng thân hành phục dịch với người, đầu lạ sau quen; vải bô cắt quần áo, tính làm sao là lợi, làm sao là hại, có biết mới khỏi lầm.



 Nói tóm lại, trong đời việc gì kinh nghiệm rồi, thì toàn là có ích hết thảy. Kịp đến khi khôn lớn, tự mình suy xét, sổ sách chi tiêu phỏng làm thế là rộng, hay thế là hẹp, cách liệu lý gia chánh, toàn nhờ những tay nội tướng có kỷ cương cả, mà người kỷ cương thì là người siêng năng, siêng năng tự nhỏ tập lần lên, chờ đợi khi lớn tập sao cho nổi.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 24-5-1924; Mục Lời đàn bà



 (Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái” - 1928)



 



LÀM NGƯỜI PHẢI NÊN THƯƠNG NGƯỜI -



CHỮ “BÁC ÁI” VỚI CHỮ “TƯƠNG ÁI”



 Đối với vũ trụ, duy có ngoài người là tư cách siêu việt hơn muôn loài hết thảy. Sự siêu việt đó tức là cái cảm tình của loài người đối với loài người. Nếu ăn ở với nhau mà không thống dưỡng tương quan, thì làm sao liên lạc nghĩa gia tộc đặng? Ngoài nghĩa gia tộc có nghĩa xã hội, có nghĩa quốc gia, cho nên cái lòng yêu mến lẫn nhau mới gây nên cái phong hóa tốt đẹp, cái tinh thần tiến hóa cao lên, còn vật gì lớn bằng, còn vật gì lớn hơn, còn vật gì so sánh kịp.



 Vả lại yêu người để làm ích lợi cho đời, lại có yêu người để làm ích lợi cho mình. Nay thử chia chữ “ái” ra làm hai hạng để nghiên cứu.



 Một hạng là: cái lòng yêu của bậc hiền triết, thể lòng yêu của trời đất mà làm lòng, yêu một cách bình đẳng như nhau, thấy ai thua kém, thấy ai tàn tật, thấy ai mắc vòng khốn nạn, thấy ai làm phải cùng bần, cho đến không từng trông thấy mà nghe nói cũng đã động lòng; động lòng tất phải nghĩ ngợi, phải suy xét, mình có thể cứu giúp đặng, không khi nào dám quên bổn phận. Người ta không biết mình không trách, người ta ghét, mình không giận, nếu có cơ hội, nhân đó mà đem lời khuyên bảo cho người ta đổi lỗi lại cũng tốt, bằng không thì điềm nhiên như không, vì trong lòng mình không muốn chia rẽ một người nào là người thù nghịch với mình cả; người thù nghịch mình là chính người trái lẽ ở đời với xã hội, tất không mấy kẻ sẵn lòng dung thứ cho, như thế lại càng nên thương: thương cái tình cảnh của người ta, thương cái tư cách của người ta hãy còn đương khuyết điểm, thương cái kiến văn của người ta còn đương hẹp hòi. Nói tóm lại là thương hết mọi sự người đời chưa đạt đến cả mục đích ở đời mà hưởng phần hạnh phúc với người đời, là xã hội còn thiệt thòi mất đi một người vậy.



 Hạng thứ hai là: vì suy mình ra người, mình đặng mạnh giỏi thương cho người đau ốm, mình đặng giàu có thương cho kẻ nghèo khổ, mình thương người ta để hắn ghi ơn mới chịu hết sức với mình, mình phải mua chuộc lấy cái tiếng tốt để phòng ngừa sự oán thù sẽ đưa đến cho mình, có tiền của mà không ai phục, thì cũng buồn, không ai tương đắc mình thì không quí, không ai thù tạc mình thì không vui, lỡ chân trái bước, thiếu tay giúp đỡ, sao bằng đông có mây tây có sao, thần cậy cây da cây da cậy thần, công việc làm không thể ôm lấy một tay mà làm xong cả, thế nào cũng phải cần người, cần người mà không cần lòng thì công việc không chạy, phải thu phục nhân tâm, đối người xung quanh mình làm sao cho họ mến vị chi phải thương người.



 Tục ngữ có câu: “Thương người lấy của, dỗ người lấy công”. Thương như vậy không phải nghĩa chữ bác ái, nhưng cũng hợp với phép cư xử giữa đời ấy là nghĩa tương ái.



 Còn nói chi các hạng người đê liệt  không biết kính già yêu trẻ, không biết nghĩa phải chăng, coi tiền như mệnh, coi ơn như rác, chưa nóng đã lạnh, hạng ấy là hạng bỏ đi không đủ kể.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 21-6-1924; Mục Lời đàn bà



 



LỜI HỨA CỦA NGƯỜI TỬ TẾ CŨNG NHƯ LỜI THẾ



 Lời hứa làm sao mà phải thận trọng như thế? Do bởi trong cái lời hứa có nhiều điều quan hệ cho công việc thành bại lắm. Phàm người tử tế lời nói có chừng đỗi, việc làm có thứ tự, khi đã nói ra, thì chắc chắn không sai thất chút đỉnh, đã đem lòng giúp việc cho ai không bao giờ không hết sức: vì trước có suy nghiệm ngành ngọn cội rễ tất cả, sau mới dám hứa lời, cho nên lời nói ấy cũng ví như lời thề vậy. Lời thề chẳng qua vụ có thần minh chứng giám để khỏi lo sự thay đổi, mà lời người tử tế nói là như rìu chém xuống đá, ngựa tứ không theo kịp, dẫu trung gian có sự ngăn trở làm sao cũng phải cố gắng cho thành tựu cái kết quả mà mình đã mở miệng nhận lấy cái trách nhiệm đó, người ta băn khoăn theo mình; nếu mình nói lời mà lại ăn lời, chẳng ra làm ngộ sự của người ta đó ư! Huống ở đời với nhau chỉ lấy nói mà sau thi thố ra các công việc, nay lại nói, nói không tin đặng, phỏng còn nên việc gì, bởi thế mà phải giữ lời hứa cho lắm. Muốn giữ lời hứa cho vững vàng, phải nên biết trước có hai lẽ:



 Một lẽ phải biết mình có đủ sức mà đảm đang đặng sự yêu cầu của người ta chăng, sự yêu cầu ấy có lợi cho người ấy mà có để phần thiệt hại lại cho kẻ khác không; làm sao tránh khỏi những điều ăn năn về sau, nhiên hậu mới dám hứa lời.



 Lẽ thứ hai phải biết người có sự cực chẳng đã, làm lấy không xong, mới phải đến nhờ mình, nếu mình đã nói giúp, sau lại không giúp, thì hình như mình lừa dối người ta, mà lại lừa dối cả lương tâm mình nữa. Trong thế gian còn có điều chi thiết tha đau đớn với sự phải chăng, gặp chăng hay chớ như lũ hà rứa, khổ nào cho qua khổ ấy. Nên suy bụng người cũng như bụng mình mà chia lo với đồng loại, tự khắc phải giữ lời hứa, vả lại giữ đặng lời hứa cũng lợi cho mình vì các sự nhố nhăng không dám xâm phạm đến mình, điều quái gở không đưa quấy nhiễu mình; mình là một người trung tín với lời hứa, người đời có thể trông mong đặng mình, còn gì sung sướng hơn! Về đường giao thiệp bề ngoài đã thích hợp với đạo xử thế, lại cho đến các mối giấu ở trong lòng cũng thường thấy thỏa đáng hơn. Có nuôi đặng cái chí quả quyết là ở tính thành đốc  mà ra, còn chứa đặng cái tình cảm khái nhiều là tại mở cái trí suy xét rộng, nên chi người thành đốc toàn thị người quả quyết, người hay suy xét toàn thị, người cảm khích sâu xa. Bọn đàn bà con gái chị em mình ít có cảm khích sâu xa, có lẽ bởi ít suy xét cho rộng, không trí quả quyết như đàn ông đặng, nên tính thành đốc tợ hồ non đi, thành thử họ cứ bảo lời hứa của đàn bà con gái chẳng ăn thua gì. Chúng ta phải nghiệm lại, nếu có như vậy hẳn nên đổi ngay, lời hứa của người tử tế cũng như lời thề kia mà!



Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 1-7-1924; Mục Lời đàn bà



 (Đã đưa vào sách “Bàn về vấn đề giáo dục con gái”(1928)



 CUNG HẬU QUI ĐỨC CÔNG CHÚA TỪ KỶ NIỆM



(Lời ghi nhớ cảnh cũ ngài chúa Qui Đức)



 Đàn Nam Giao bên tả có con đường đi thẳng vào Dẫn Khiêm sơn, hai hàng lục dương xanh rờn che phủ, về tiết trời mộ xuân , mưa bay phơi phới, càng thấy im rợp lạnh lùng, dấu tiều thưa, bóng mục vắng, vẻ non phai ngấn, vừng ác lạt màu, trong rặng lục âm , bon chon chỉ có hai cái xe tay đương loanh quanh theo dải đường mới, đi vòng trong rừng thông.



Nhìn trông phong cảnh thờ ơ



Người quen năm trước ây giờ là ai?



 Quả núi Dẫn Khiêm dáng lài lài không cao, mà đó là một tòa núi án trước cửa Khiêm lăng , thông hàng ngàn ức vạn cây, giềm già bóng lợp, cảnh rất u tịch, đứng trên đỉnh núi trông xuống bốn mặt bao la, toàn những: sim, móc, tràm, chủi, cỏ rú rậm rạp um tùm, chỗ thấp chỗ cao, khúc thừa khúc hõm, quanh co theo sống núi chầu về hướng nam, mỗi một khoảng năm bảy chục cây thông xúm xít, trong đám xum xuê mù che khói tỏa, lại thấy ẩn ước  những bức tường vôi nóc cửa mộ tẩm của các đức ông, đức bà ngày trước; bên kia thì cung điện các tôn lăng, lâu đài chồng chập, vạn tượng sum nghiêm, gió chiều rung động ngành thông, vùn vụt mà xô đẩy nhau trong đám mênh mông khoáng rộng vậy.



 Hồi tưởng ba mươi năm về trước, trong chốn u tịch này, có cái vẻ thanh thú lạ thường, tuy rừng sâu rú rậm, ngõ hẹp hang cùng mà duyên cư những nhà ẩn dật, toàn bậc đại danh hết thảy. Về phía Nam núi Dẫn Khiêm thì biệt nghiệp đức tiên công tôi, nhà tên là “Học bạn tinh xá”, liền dây xóm đó có cụ Lạc Tịnh Viên, đức ông Cẩm Giang quận công; về phía bắc thì phủ đức bà Quy Đức công chúa. Thường ngài qua lại chơi với nhau, lấy rừng thông Dẫn Khiêm làm con đường tắt, chớ không men bờ núi đi, sợ xa đỗi một chút. Những lúc trăng thanh gió mát, mây sớm đèn khuya, chuốc chén bên tre, ngâm thi trước cúc, gậy lê tìm bạn, dép cỏ thăm chùa, thực là một cuộc nhã vận tự nhiên.



 Tôi năm ấy còn đương ngây thơ chưa biết chi, thấm thoắt mới ngày nào, mà mái tóc xõa vai, chốc đã mon men muốn bạc, trải bao sương tuyết, vật đổi sao dời, cảnh cũ tình xưa láng lai cảm tưởng.



Đoái trông mây trắng một màu



Ba xuân tấc cỏ rầu rầu mạch tương



 Tôi còn nhớ từ hồi đức tiên công tôi ở đây được vài năm thì có chỉ phụng sứ như Tây , còn cụ Lạc Tịnh cũng thăng thiên ngoại tỉnh, giã từ viên hạc, bụi cuốn chinh an, người một phương trời cảnh chia sông núi, duy đức cô tôi là ngài Qui Đức công chúa, đức bác tôi là ngài Cẩm Giang thì còn giữ lại; ít lâu lại nghe ngài thì dời nhà sang chỗ khác, ngài thì từ biệt cõi trần, bởi vậy mà cảnh lâm tuyền còn ê ủ cho trường tụ tán của nhân thế vậy.



Phong trần đầy cả sơn khê



Tang thương đến cả hoa kia cỏ này



 Sự thân thích kể không sao xiết, bây giờ chúng tôi men theo lối đường mòn đi xuống, tìm nhà người giám tự phủ đức bà để tỉnh thám cựu đệ  của ngài. Khi vào đến trong sân, chợt thấy trước bức bình phong có khảm ba chữ “Túc ung viên”  trong lòng tôi lại thấy cảm động một cách lạ dường. Túc ung viên ngày trước trù mật biết bao, lệ chi trồng đủ các giống, những ba mươi sáu cây, hai hàng đứng ngoài trường lang, đến mùa đâm bông kết trái, lục trĩu hồng sây, đầy vườn chói lói, còn trong bao lan thì bích đào, dạ hợp, lục ngạc, tỳ bà, các thứ kỳ hoa dị thảo, chẳng thiếu thức chi; nay cỏ lan mặt đất, rêu phong phấn tường.



Phong quang còn khác dấu xưa



Ao tù sen rụi, dậu thưa trúc cằn.



 Khoảng giữa đứng trơ một tòa cổ viện, nền kê chân núi, mái sát ngàn thông.



Mấy phen hạ lại thu về



Lọt mành nắng giỏ, quanh hè mưa soi.



 Cảnh sắc tiêu điều, thê lương mãn mục, ngậm ngùi nghĩ mãi, không biết thế nào cho cái lòng yêu mến của mình đối với tiền nhân cho được chút thỏa, bèn hỏi người giám tự có còn giữ lại ít nhiều di thảo của ngài không và bức song ảnh ở đâu, hở người?



 Người ấy ngơ ngẩn đáp: Năm Thìn bão lụt to quá, nhà cửa đổ nát thì bức song ảnh, sách vở cũng theo đó hư hỏng tất cả. Tôi nghe lấy làm thất vọng, than tiếc không cùng, cứ bước tới bước lui trước dãy thềm, trầm ngâm mãi giờ lâu, tư tưởng bấy giờ rối loạn, hình như cái cây cái lá cũng trỏ cho tôi biết rằng; khi trước tôi ngồi chơi đây, từng ăn cái quả vải thơm tho này, hai lượt ngọt hay chua tất hãy còn nhớ; cái tảng đá kia, cũng nhắc tôi nhớ lại đã ngày xuân nào, hoa tường vi mới nở, chị em bạn dắt nhau đi hái, ngồi đây mà giỡn cợt nô đùa; bức mành mành gió lay, mà lại phảng phất như có tiếng chim sáo, chim cưỡng niệm Phật, trong khi ban mai đức cô mới tiềng (tiềng tức là tỉnh).



 Tôi còn tưởng miên man ra đến những lúc học, buổi nghe giảng sách, vì đức cô có dạy cho bọn cung nữ ở trong nội ra học, tôi và chị tôi, cũng vâng mệnh tiên công tôi vào học cùng đức cô. Mỗi khi học bài tôi thuộc trước, chỉ lấm lét ngó lên trên sập đức cô ngồi, xem ngài đã bãi cho ra chơi chưa, song thấy ngài cứ điềm nhiên, chốc lại tủm tỉm cười, dáng mặt thùy mị, hai tai ngài có đeo hai cái trằm vàng, lóng lánh dưới mái tóc, trông rất xinh. Tiếng nói ngài hòa nhã, nhỏ nhẻ nghe rất êm ái, tính ngài ưa thanh vắng lặng lẽ, ai mới bước chân vào, như không trông thấy chủ nhân ở nhà, vì chỗ ngồi trước mặt thời cửa kính, bên giá sách, bên án thư, sau lưng chấn ngang một bức trấn phong sáu cánh tranh cũ, kẻ hầu hạ chỉ đứng chực sau tranh mà thôi, còn học trò con gái thì trải chiếu dưới đất mà ngồi học. Đó là cái cảnh tượng kỷ niệm trong tinh thần của tôi, cứ vơ vẩn kéo ra mãi không chán. Người giám tự thấy tôi có ý mật thiết thành tâm, sau khi cáo từ, thấy va  xăm xăm chạy vào trong khám thờ lấy ra một quyển “Nguyệt đình thi tập” sao bản, đưa cho tôi nói rằng: Chỉ còn một quyển này thôi. Tôi mừng quá hơn đặng ngọc bích không bằng, vội vàng tặng cho người ấy một món quà, lại nói rằng mươi hôm nữa tôi biên xong, rồi giao lại cho người phụng thủ. Nhưng tưởng cũng nên nói thực cho nhà ngươi biết cái chủ ý tôi, là muốn biểu dương cái danh hiệu ngài ra đời, để cho cùng với núi sông còn mãi, những các tàn biên thặng thảo  là toàn cái thủ trạch di phương , mà cái lời châu ngọc tức là nhất sinh tâm huyết cả. Than ôi! người ta không phải như cây cỏ, nỡ nào cam mục nát cùng cây cỏ, người lại bẩm khí thiêng của trời đất có siêu việt hơn muôn loài, là do vì còn để lại cái sự nghiệp về sau: sự nghiệp của nhà lương thần danh tướng, nhà hiếu tử liệt phụ, đều có thể tạc dấu son, tượng đồng bia đá; sự nghiệp của nhà văn nhân từ khách, thì chỉ có mấy dòng chữ, mà không phải là không có bổ cứu cho nhân tâm thế đạo, ảnh hưởng cho hậu tiến đâu; huống cái tài hoa, cái đức hạnh rõ rệt của một vị Hoàng nữ bản triều, sự tích còn có minh chứng, mà để cho mai một đi, chẳng cũng vô tình lắm vậy. Nguyên cái lịch sử của ngài, đã có bài Tự của đức ông Tuy Lý vương nói rõ, nay tôi xin lấy hai điều đáng nên kỷ niệm mà giải nghĩa ra đây để công đồng lãm. Điều kỷ niệm thứ nhứt, là cách trồng lệ chi đó, vì lấy theo bản thảo Hán tự, lệ chi có một tên là “thập bát nương” mà ngài là thứ mười tám, ông phò cũng thứ mười tám, cho nên khi ông phò mất rồi, ngài trồng ba mươi sáu cây vải đề là “Lệ chi động” nghĩa là ngụ ý có đôi lứa để đỡ nỗi tịch mịch vậy! Điều kỷ niệm thứ hai: bức song ảnh là chân dung của hai ông bà, hồi trước chưa có chụp bóng, ngài mới nghĩ cách rất mới và nhã lắm, trong khi hai ông bà ngồi chơi tựa bên vách tường, có chiếu ngọn đèn để cho hai cái bóng lại vào trong vách, biểu người lấy bút đề lại dấu mực, vẽ bóng bán diện, xa xem chỉ thấy lù lù như hai ngọn núi đen xì, mà nhận kỹ thì có tinh thần nhiều lắm. Bình sinh hai ông bà tương đắc với nhau, như vợ chồng ngoài thiên hạ, chớ không lấy lễ số tôn quí của bà công chúa mà đối đãi với ông phò theo lệ thường các ông phò bà chúa khác. Ấy cũng là một điều đặc biệt nên phục.



 Bài Tự lược dịch như sau này:



 Tập thi Nguyệt Đình này, là của đức bà Qui Đức công chúa Vĩnh Trinh soạn, ngài là công chúa thứ mười tám triều Thánh tổ, vợ quan thị lang Phạm Đăng Thuật, hiệu là Tiêu Lâm; quan thị là quí đệ đức Từ Dũ Bác huệ Thái hoàng Thái hậu. Công chúa là em gái tôi và bào muội đức Tùng Thiện quận vương, hoàng gia quí chúa, hạ giá thích lý, cho nên cảnh phú quí oai nghi, lừng lẫy nổi tiếng trong cung phủ, thế mà tính bà em vẫn giữ thái độ ôn hòa khiêm nhượng, không hâm mộ sự xa hoa, trong chốn phòng khuê trướng gấm, chỉ bài trí toàn đồ thư cổ họa, sử sách nghiên bút, phấn son giấy mực, chồng chập đến không có chỗ nhận ra danh sắc, kết hôn đặng người như Tiêu Lâm quân, tính rất ưa nghề ngâm vịnh, nên cuộc xướng họa thực là vui vẻ. Cảnh gia đình lạc thú rất êm đềm, mười năm sinh đặng một người con gái, sau Tiêu Lâm quân vì tòng chinh tử nạn, người con gái không bao lâu cũng tạ thế, từ đó thì bà em phát thệ trừ hết trang sức, bỏ ăn ngon mặc tốt, trai giới một lòng chịu khổ giữ tiết với chồng con. Tình cảnh lại hơn kẻ phương dân, đêm ngày lủi thủi một mình, song the chích bóng không mấy khi ra khỏi cổng vườn. Đến nay có hơn ba mươi năm. Than ôi, tuy giáo dục cùng hiền huynh, luyện tập dày công mới đặng như vậy, song không phải thiên tính sẵn có trinh tịnh làm sao nhuần nhã đến thế. Ngày xưa biến phong nước Vệ, thơ Tải Trì là chỉ bà Hứa Mục phu nhân, thơ Hà Quảng là chỉ bà Tống hoàng phu nhân, đều là lời bởi chữ tình, mà gốc ở tại chỗ lễ nghĩa, nên quốc sử khen, thời kẻ hậu học trọng đó. Nay bà em đức hạnh thủy chung như một, dù không thì cũng đủ truyền đời, phương chi có thi, mà thi lại nhuần những lời chính phong, ta tưởng tất nhiên không đến nỗi thuộc vào cái số thải ra đặng.



 Đồng Khánh năm thứ hai, tháng mười một, thân huynh là đức Tuy Lý vương soạn.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 10-7 và 11-7-1924



 



LÀM ĐIỀU LÀNH,



KHÔNG PHẢI VÌ MÌNH MUỐN CẦU LỢI LỘC



 Làm lành cầu danh tiếng với làm lành do bổn phận khác nhau thế nào? Thí dụ như gặp buổi thóc cao gạo kém, nhân dân đói khó, người có dư dả thì phát tâm chẩn cứu cho kẻ bần bách, hay gặp sự hiểm nghèo tai biến, giữa đường thấy người đau yếu, trong cơn lụt bão xẩy ra việc rủi ro; giúp công giúp của cho người là nghĩa bổn phận đối với đồng loại. Trong lòng không nỡ thấy cảnh thiết tha của người, mà làm; ấy mới xuất ư chân thành; khiến kẻ thụ dụng thỏa thiếp vui vẻ mà lãnh.



 Còn người dụng tâm làm lành, là muốn mua cái tiếng tốt, chớ không phải xuất tự lương tâm, nên có ý ích kỷ. Đã gọi là làm lành, mà còn ích kỷ, thật rất khó giải; nhưng mà ai vô tình mới xem qua thì biết đâu.



 Cái thói giả dối của hạng người ấy duy kẻ hữu tâm nghiệm xét lần lần, sự hành vi, cách cử động phán đoán ra tim gan ngay vậy, thì đời nào có ai dối đặng hết thảy thế gian bao giờ. Dẫu lầm chăng một người hai người, năm người mười người, lẽ nào trăm người ngàn người lại không có một cặp con mắt sáng suốt soi ra được sự lầm ấy ru; khi đã xét ra chi cho khỏi lòng rẻ rúng khinh bỉ.



 Kinh Phật có câu: “Bất trước tướng bố thí” nghĩa là không rệt rõ tướng bố thí. Vì đã cố làm ra mặt bố thí tất lòng có hy vọng điều gì; đã có hy vọng điều gì là sự cầu lợi lộc riêng cho mình, như phần danh tiếng là một, tài sản là hai, thắng nhân là ba, làm vậy e không tận tâm, đã hữu vọng thường có thất vọng; mà những khi thất vọng thì thối chí ngay. Nếu sự làm lành mà cốt cầu lợi lộc cho mình, sao gọi là làm lành đặng. Cho nên có những người giúp công giúp của người ta rồi sau cứ kể mãi, làm ân nghĩa cho ai, lấy thế mà kiêu ngạo hoài; cho đến làm chùa tô tượng đúc chuông lễ bái mà vẫn cứ tranh đua lời nói hơn người, rằng công của mình nhiều, công của người kia ít. Lắm lúc, trước nguyên là sự làm lành, mà sau rút cục lại thì sự kết oán, cái đó thật đàn bà nhiều người hay kể công, kể của cũng là cái thông bệnh của đàn bà. Vậy thì sự làm lành chính không nên khoe khoang, không nên so đo, không nên trích bác, cứ tùy cái cảnh ngộ mà làm, gặp việc trước thì làm trước, đáng việc sau thì làm sau, chớ có bỏ điều thiện nhỏ mà không làm, chớ có nghĩ điều ác nhỏ mà cứ làm. Góp nhiều điều thiện nhỏ cũng thành một sự thiện lớn, góp nhiều điều ác nhỏ cũng thành một điều ác lớn, người ta phải gìn giữ mới đặng.



 



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 21-7-1924; Mục Lời đàn bà



 



THÂN PHẬN NGƯỜI ĐÀN BÀ



Hai chữ thân phận, lời nói như lời than, vì sao người cùng người lại có cái tiếng ủ dột như vậy? Bởi cớ có ngụ ý khinh trọng ở trong. Xưa nay theo phong tục nước nhà bó buộc người đàn bà nhiều điều tàn nhẫn, như không kể nhân cách nữa. Cha mẹ nuôi con gái thường phàn nàn hao công tốn của, khôn lớn về nhà người ta, vợ chồng đối nhau hình như chủ nhà với đầy tớ. Nhân đây mà nhắc lại câu chuyện mà tôi từng để mắt trông thấy, nghĩ mà buồn thay: Hôm nọ tôi vào chơi một nhà kia, nghe bà mẹ bỡn mấy đứa con gái nói rằng: “Sắp bây như chó con, rồi mỗi nhà chia mỗi con”. Lời nói tuy là nói đùa, mà kỳ thật nhiễm cái thói đời trọng nam khinh nữ. Lại hai vợ chồng nhà kia, cãi cọ nhau làm sao không biết, nghe người đàn ông quát to lên rằng: “Nếu nên thì làm cột mạ, không nên tao hạ cột con”. Đau đớn thay cái tình cảnh, vì không tự lập đặng, mà phải hèn hạ cái giá thể của con người đi biết bao nhiêu. Nếu những người con gái thông minh, tưởng nên nghĩ lại, vì duyên do làm sao, mà người đàn bà lại lắm nỗi chua cay như thế, thân phận sao không được như thân phận người đàn ông? Có tại chỗ yếu đuối chăng? Có tại chỗ vô nghề nghiệp chăng? Cho nên không hưởng được quyền lợi như ai, hay là hẹp đường tri thức, không biết đạo cư xử, hay là thiếu kẻ dắt dìu giúp đỡ cái phương pháp cho mà đi? Vì những lẽ như thế, thì thực cũng nên than cho thân phận của người đàn bà; song le xét lại cho kỹ, thì thực ra người đàn bà cũng có hai cớ đáng làm cho người ta khinh rẻ. Cớ thứ nhất là tại các bà mẹ không chịu dạy vẽ cho con gái, không công tâm đối với con gái, cứ theo thói quen, viện những lễ phép cũ rích mà dọa nạt người non nớt yếu tính, làm cho mất cả cái tính tự lập. Thương thì cho ăn cho chơi, chớ không luyện tập công việc, đến khi lười biếng lại khép tội nặng nề. Cớ thứ hai: tại đàn bà con gái mình thói quen không ưng làm việc. Trừ ra một số ít người, có lo bề gia thất, mưu sinh tần tảo, lợi cho thân cho nhà, chớ cũng chưa nghĩ gì đến vận mệnh chung của xã hội, còn một số nhiều người, thì mảng trông ỷ lại mà đặng an thân. Con sâu mà con sâu gạo, mới độc hơn các thứ sâu kia, ăn hại gia đình, ăn hại xã hội, làm cho người ta sinh chán, thì trách nào mà giữ cho khỏi cái lời nặng nhẹ đến mình.



 Than ôi! Tay chân mày mặt ai cũng như ai, can gì mà lại không biết mưu thân chi kế, việc gì lại không kỷ cương lấy cho mình, lại để hệ lụy đến người ta. Người đàn bà có chồng, cũng như người đàn ông phải có vợ, đặng cùng nhau nương tựa suốt đời, chung hưởng cái hạnh phúc hoàn toàn đó mà thôi, chớ có nên nghĩ lấy chồng nhất định nhờ chồng, không còn tưởng làm công việc gì nữa. Phải tùy với bổn phận, phàm làm người thì phải có làm việc. Làm việc đặng nhiều thì danh giá đặng nhiều, khỏi hổ mình đứng trong vũ trụ, không phải là một số thừa, ấy là nâng cao cái thể giá của mình lên, tự khắc tiêu những nỗi ác cảm than thân trách phận. Bài thuốc làm việc rất màu nhiệm, kỳ sau sẽ tiếp.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 18-8-1924; Mục Lời đàn bà



 



PHẢI NÊN LÀM VIỆC



Người ta không phải vì sự giàu sang mà phải làm việc. Không phải vì nghèo khổ mà phải làm việc, cho có để ăn mặc; nếu thế thì kẻ vừa ăn đủ dùng không ưng làm việc nữa, mà người nghèo khổ nhận lấy chức làm việc, như cực bất đắc dĩ mà phải làm, coi sự làm việc như thù nghịch với mình, không chú trọng, không khoan khoái thỏa thích chút nào. Cho nên phải biết sự làm việc… (mất một dòng) một cái luật chung của nhân loại”. Có làm việc, đời người mới có giá trị, huống làm việc lại có bổ ích về đường thân thể, khỏi bị bệnh tật xâm phạm đến mình. Ở nể luống xương, luống gân, chưa mưa đã lạnh, chưa nắng đã bức, ít ra vào vận động, thì ăn uống không tiêu hóa, cứ sợ rằng làm việc có đau đớn đến thân thể chăng, mà kỳ thực không làm việc mới đau đớn cho thân thể, bởi thân thể con người lấy sự vận động làm thư sướng, nay tay chân mỏi mệt, hình như mắc bệnh ma mộc còn gì khổ bằng.



 Lại ông bác sĩ Tây có câu nói rằng:



 “Sự làm việc là một cái phần tử của đời người, nhưng người làm việc thường có hai hạng: Một hạng người làm việc kiếm gạo, một hạng người làm việc bán hàng; làm việc kiếm gạo, thì khi nào no cơm ấm áo là sinh lười biếng vì lỗ miệng mà làm việc, trong lòng như có phàn nàn ân hận khó nhọc vì sự làm việc lắm lúc mảng ham làm cho có mà tiêu dùng, đến làm xằng làm quấy cũng nên. Còn người làm việc như bán hàng: là làm việc mà trông trao đổi cái công với của, nghĩa là chủ có lợi mới chịu làm việc, khi việc xong, tiền lấy rồi, ví như bán hàng, hai đàng không còn can thiệp gì, kết quả hai hạng làm việc như thế, cũng như một, đều trái với sự thực làm việc cả”.



 Lời nói rất cao thượng thay! Thế thì sự thực làm việc, là lấy công lý công tâm mà làm, làm việc để cho ích xã hội, chớ không phải cầu lợi lộc riêng cho mình mà thôi, ở đời tức phải làm việc đời, kỳ cho đến cái ngày không còn ở đời là mãn mùa làm việc.



 Đem tư tưởng của người phương Tây mà chứng với tư tưởng của người mình, thì khác xa muôn phần. Người mình lắm kẻ thường hay có ý lấy sự nhàn rỗi làm sung sướng, ăn mà không phải làm việc mới thích, chớ người ta cho ăn mà không làm là ăn khín; làm mà vì ăn, cũng còn hèn thay, huống hồ không làm mà ăn, lại còn thua các hạng cầm thú, thử xem con gà còn biết bới móc sâu bọ mà ăn, con bò còn biết kiếm cỏ rạ mà ăn, nuôi lớn còn dùng đặng việc này việc khác, ngoài sự kiếm ăn còn có điều bổ ích cho người đời, đã có ích tất có tiếng tốt, có tiếng tốt thì không thiệt thòi cái đời. Kìa như loài ong nấu mật, loài tằm ươm tơ, đó là sự kết quả làm việc của nó giữa đời mà còn để lại dấu tích sự nghiệp, là cái kết quả của sự làm việc của con người ta, hoặc làm bằng tinh thần, hoặc làm bằng sức lực, sao cho tận tâm mới tới chỗ mục đích đặng. Muốn cho gia đình vẻ vang lên, thì người trong nhà đều phải có phần chung lo làm việc, xã hội cũng vậy, làm việc không thừa ra đâu, vì mỗi người là có một cái tài riêng khác nhau. Ví như một tòa lâu đài nguy nga kia, dựng lên không phải tay một vài người làm nên, tất phải số nhiều người, nào thợ nề, thợ mộc, nào tiểu công, đại công càng làm thêm thấy bề bộn mà ham, hết người này đến người nọ kế nối mãi, nếu dừng lại là có cơ nguy hiểm, thiệt hại mình một phần, mà thiệt hại chung có trăm phần, cho nên phải ra công bồi đắp luôn luôn. Sự làm dù có gặp cảnh khó khăn cũng không nên nản chí, bởi chính chỗ khó khăn ấy mà càng làm thêm vinh hiển cho mình.



 Có người làm việc nhiều lại sợ không ai biết cho, cái đó hà tất phải cần; mình làm việc là để cho hết cái bổn phận của mình, bao giờ có cái kết quả chứng minh với sự thực, thì sáng suốt cho mình, tự mình cũng đủ vui lòng rồi. Chỗ sáng suốt đó, người này mờ tối chưa thấy, tất có kẻ khác không mờ tối, hay là bây giờ họ chưa biết, năm mười năm sau họ sẽ biết cũng nên. Can gì mà phải vội, nếu vội muốn cho người ta biết liền, thế là làm việc trong bề ngoài; phải nên làm việc vì trong lòng vui mà muốn làm việc.



 



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 23-8-1924; Mục Lời đàn bà



 



BIẾT CÁCH ĐỐI ĐÃI



THÌ NGƯỜI NÀO CŨNG LÀ NGƯỜI TỐT CẢ



 Cách đối đãi là biết khu xử cho hợp với tính tình, mà lợi dụng đặng cái tài năng của người ta; phàm người sinh trong đời, ai ai cũng có một cái tài năng ông trời phó thác cho, để mọi người đều nhờ đó mà hộ vệ lấy thân mình. Nhưng tài năng tự dưng không có kẻ điều khiển giúp cho, thì cũng khó mà phát triển ra đặng. Ví như đứa con trẻ vẫn có tư chất thông minh, mà không ai nuôi dạy cho khéo làm sao nên người giỏi giang, hòn ngọc vẫn báu mà chưa chạm trổ, ai biết là xinh, lại sự điều khiển sai lầm, cũng mất cái giá trị của hắn đi nhiều.



 Nay có người mướn một tên cày ruộng, lại sai ra nấu bếp; thợ may là nghề thành thạo, bảo khiêng vôi nhắc gạch làm việc nề, có trái đi không? Dầu có gắng sức cho hết, cũng không bằng người chuyên môn của người ta, vậy thì tùy tài xử lính, nhiên hậu mới thành công. Cổ nhân có câu: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng cây gỗ, cây gỗ đáng làm cột làm kèo, hay là đáng đóng tủ, đóng ghế, cái ít chịu mưa nắng, cái không có mối mọt, đó là tự tay thợ biết lựa chọn, khéo tính đặng việc, vụng tính hỏng việc.



 Phương chi cái tài năng là thường có nhờ công đề bạt của mọi đường hợp sức lại, nếu có tài năng mà không có vận mệnh, không gặp thời thế, không có ai giúp đỡ, tưởng tài năng cũng bỏ luống đó thôi. Cho nên muốn lợi dụng tài năng phải nuôi dưỡng tài năng một cách cho hợp phép, trước luyện tập rèn đúc cho tinh tiến, sau đối đãi nâng đỡ cho thành thực, làm cho mở mang mạnh dạn ra thì mới bổ ích cho đời. Biết rằng tài năng là vị bổ ích cho đời, ta nên yêu lấy tài năng, vì xã hội mà ta đối đãi với công việc trong đời châu đáo, nhiệt thành mà làm, không nên thấy sự khuyết điểm mà đã vội ghét bỏ chê bai. Phải suy xét sự khuyết điểm đó do bởi cớ gì mà sinh ra, bao nhiêu sự dở sự hay giữa đời, toàn có tương nhân với nhau, hay cũng mỗi người mỗi tí mà thành hay nhiều, dở cũng tại mỗi người mỗi tí mà thành dở lắm; cái hay cái dở đã vì số nhiều người run rủi cho như thế, huống chi dùng tài năng lại trái như trên kia vừa mới nói, thì làm sao chẳng sai lầm công việc đi đặng.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 5-9-1924; Mục Lời đàn bà



 



VIẾNG CỤ NGUYỄN BÁ HỌC



 Mưa gió không thường, sao dời vật đổi, bánh kiền khôn xây hoài đến tối, người trần ai xúi xúi hiệp tan!



 Mới rồi chúng tôi có xem báo Trung Bắc có đăng bài “Đám tang cụ Nguyễn Bá Học ở Nam Định”, thời chúng tôi kinh thán bội thường và sinh mối cảm tình lai láng! Tuy chúng tôi không được thừa nhan cụ khi nào, nhưng bao nhiêu lời hùng biện cao đàm của cụ vẫn lừng lẫy khắp một phương cầu này mà chúng tôi đã được lắm phen nghe thấy, mà lòng hâm mộ một bậc tiên nho như chan như chứa ở lòng không bao giờ quên vậy.



 Vả lại cụ là lệnh nhạc Tiêu Đẩu tiên sinh. Tiên sinh cùng chúng tôi là văn chương hữu nghị, vân thủy tri giao. Vậy nên được tin buồn xin cũng có mấy lời chia sầu cùng tiên sinh và quí quyến.



 Mà không những chia sầu cùng tiên sinh mà thôi, mà lại cũng lấy làm ai bi cho nền Hán học sau này đã mất một người có mô phạm để duy trì bổ cứu cho các nỗi khó khăn lắm vậy.



 Ôi! Hán học suy đồi, nhân tâm biến cải, trí hóa mới chưa thành, mà đức hóa cũ đã lần hồi mòn mỏi; những nhà cựu học lão thành có nhiệt thành với nhân tâm thế đạo, mong ra tay kéo vớt lại, thời cũng không đặng mấy người, vì đời bây giờ không phải câu thúc như trước, mà lại phải khai thông dân trí, cho nên phải tham bán  cả Âu học, Hán học mà dựng nên một nền quốc văn giáo dục cho hiệp thời hiệp thế nó mới hoàn toàn nhân cách cho, nếu thiên về một mặt nào, tất là chếch lệch đó. Như cụ Nguyễn Bá Học là gồm đủ các tư cách ấy, mỗi khi cụ làm ra bài văn nào và bài tiểu thuyết nào toàn có cái lý tưởng mới cũ điều hòa để dắt dủ người và khuyên răn đời, cái công nghiệp vĩ đại thay! Thế mà trời sao không tựa người hiền, nữa để cho bễ nghễ cái lòng tham luyến của công chúng đương đối với cụ có nhiều sự trông mong, từ đây nền quốc văn thiếu một cánh tay lớn, thật đáng tiếc thay!



 Song le tử sinh hữu mệnh, ta cũng không nên phàn nàn hoài, ví như làm một cái nhà to lớn, ngót trăm năm mới xong, thế thời không phải một tay người kiến tạo mà nên; tất phải số nhiều người giúp sức kế theo; kỳ cho đến ngày thành công thời kẻ trước người sau đều làm một sự công ích cho xã hội cả. Vì thế mà khi lâm chung cụ có di chúc mấy lời rằng: “Bảo tồn quốc túy”, đó là cái chủ nghĩa của cụ nhất sinh tâm huyết toàn thuộc vào bốn chữ đó. Than ôi! Người tuy mất chí vẫn còn, mong sao đồng bào tô bồi vào để chóng thành cái cơ sở ấy, lời ủy thác ấy chính Tiêu Đẩu tiên sinh đã là một người từng thọ trí với cụ trong buổi sinh tiền, thôi xin tiên sinh gắng lấy.



 Sau này chúng tôi kính vãn cụ một cặp đối gọi là biểu chút mến tưởng không cùng:



Chấn niên lai, nhiệt tâm giáo dục, Nam quận di thiên, hách hách huy âm tiêu tạp chí,



Thiên lý ngoại, hâm mộ quốc văn, Đông kinh thạc sĩ, ta ta liễu mộng hốt tân văn .



Đạm Phương Nữ Sử



Nguyễn Khoa Thanh Nguyên



Tôn thất Vân Bình, đồng văn



Nam Phong, số 51, tháng 9-1924



 



SỰ HỌC CỦA CON GÁI



CŨNG ĐÃ KẾT QUẢ TỐT NÊN KHEN



 Về đường nữ giới, người ta bình phẩm đã nhiều, công kích cũng lắm: nào những cô có học hành mà không giữ tính nết; nào những cô lấy chồng không biết kính trọng gia nương, không biết đường tiết kiệm, không biết đạo xướng tùy, hằng ngày các báo đăng luôn.



 Nhưng tôi thiết nghĩ có kẻ dở cũng có kẻ hay, dở thì chê bai đã đành, còn hay tưởng nên khen ngợi cho vui lòng, mới giúp thêm phần tăng tiến, kẻ khác bắt chước, cũng là một điều ích lợi chung vậy. Từ khi có trường nữ học, nhờ ơn nhà nước đào luyện những bọn quần thoa, đặng sự giáo dục tốt đẹp, phần nhiều đàn bà con gái mình đã biết tranh đua tìm công kiếm việc mà lo làm, chen vai gánh vác với xã hội. Trừ những người ăn chơi tiêu phí nỡ nói làm chi, vì họ dẫu không làm việc với nhà nước mà chồng con làm, thì kẻ có tính chơi bời, tiêu xài cũng đã chán lọ là phải làm. Còn người cần kiệm, xưa không có lương bổng cũng cần kiệm, mà nay có lại càng biết cái công lao làm ra cái đồng tiền khó nhọc bao nhiêu thì phải kiệm ước bấy nhiêu. Tôi cũng thường thấy những nhà trung đẳng ở xứ Huế, hoặc những nhà thế gia cựu thời, trong nhà năm bảy người con, cha già mẹ yếu, con trai chưa có công việc làm, mà một vài người con gái làm công việc với nhà nước, biết chia lo học phí cho các người anh em, giúp đỡ lần lần, dìu dắt nhau mà đặng thành tài hết thảy, thực là làm cho cái cảnh gia đình vui vẻ đáng khen. Lại những người có con cái phần nhiều biết chăm nom cho con cái sạch sẽ, nuôi nấng rất có công phu. Xét ra bọn nhi đồng đời bây giờ, bảo dưỡng có vệ sinh nhiều hơn trước; khi xưa tục mình mảng ham công việc ăn làm, thường nhãng bỏ trẻ con lam lũ, ít ai săn sóc cho lắm, có chăng những nhà phú quí lại quá ư kiêng mưa tránh nắng, tường cao cửa kín, vị tất đã biết cách cho ăn cho uống, cho chơi, cho ngủ, cho tắm đúng phép vệ sinh đặng, nên con trẻ hay yếu ớt, hay mắc bệnh như là cam tích, cam nhãn rất nhiều. Ngày nay đi đến các nơi, trong nhà nào có người đàn bà đi làm việc, thì con cái khác ngay. Bởi cớ họ đã học hành đôi chút, thế tất tự trong nhà mà ra ngoài, tình thương con cái người nào lại không có, nếu có thương, mà không biết cách giữ gìn, chớ có thương mà lại biết cách giữ gìn nữa, thì không thi ra cho con cái, còn thi ra cho ai nữa, cho nên sự bảo dưỡng cho nhi đồng thiệt có tấn bộ lắm.



 Chí như tính hạnh, thì tùy theo cái gia phong, con nhà khuê các, phần nhiều cũng giữ đặng cái thói nết ngày xưa. Trong đám nữ học có người đã làm cô trợ cô giáo, mà nay lấy chồng làm bà tuần bà án, cũng ngôi mạnh phụ đường đường, cũng chấp gia chánh đều có trật tự. Lại những người nhơn việc nhà không chịu bổ đi làm việc những tỉnh xa xôi, song về làm buôn bán cũng nghiễm nhiên một bậc giàu có, không phụ sở học, nghề gì cũng là nghề tốt cả, dầu dạy học chẳng qua là nghề bút canh, mà nghề đi buôn là nghề thương mại, hai đàng có khác chi nhau. Ví như người ra đảm đang công việc xã hội, với người giữ gìn trật tự trong gia đình, cũng một chức vụ, nếu hết bổn phận, thì mới có danh giá.



Trung Bắc Tân văn Số ra ngày 9-10-1924; Mục Lời đàn bà



NGHỀ LÀM BÁNH



 Nước mình các nghề nữ công không gì thịnh hành bằng nghề làm bánh trái mứt món thuộc về thực phẩm; nhà nào có con gái trước hết cũng dạy cho biết làm các thứ bánh nầy, thứ mứt khác, để sau sung chức chủ quĩ cho đủ tư cách mà lo công việc chung thường, tiếp đãi quan khách, là một phần lợi ích cho gia đình. Đàn ông có tiếng hay chữ, đàn bà có tiếng hay khéo, cũng danh giá lắm, vì những khi cuộc tiệc ăn mừng đám cưới, làm chay, tang ma, đều cần dùng bánh trái mứt món hết thảy, nên chi không có các tay khác, thì làm sao cho nổi cỗ. Tục mình lại hay thù tạc đi lại với nhau, như kỵ lạp, ngày tết, lễ khánh, lễ điếu mà tình thân thiết, cho mứt cho bánh là đẹp hơn cả, mà cũng hữu dụng hơn cả. Vì thế nghề bánh trái con gái cần phải học, lại phải nên biết cho đủ các tên bánh, chứ bánh của người mình làm cũng nhiều thứ lắm, không phải biết năm mười vị mà đã đủ đâu. Nay thử kể qua sơ lược như sau này; xem cộng đặng bao nhiêu thứ, chị em ai còn biết vị gì, nói thêm rồi biên thành một quyển, dưới chú thích cách làm cho rõ ràng, để giúp cho bọn bạn gái tiện khi kê cứu, lợi ích biết bao nhiêu.



 Phàm bánh của ta làm, có hai cách: một thứ bánh khô, một thứ bánh ướt, trong hai thứ ấy, lại chia ra bánh làm ăn đặng và bánh để đơm chơi cho đẹp con mắt mà thôi. Nay hãy kể món bánh ăn đặng trước, về phần bánh khô như là: bánh thuẫn, có thuẫn ổ, thuẫn nhẹ, thuẫn nở, thuẫn giòn; bánh bò: bánh bò ngũ sắc, bánh bò bông, bánh bò rễ tre; bánh in: bánh in dẻo, bánh đậu, bánh tế điều, bánh khô khảo, bánh xà lam; bánh sen: bánh sen tán, bánh sen chấy, bánh sen tua. Về thứ bánh bò, có thứ bánh hột bàng, bánh bí đao, bánh nổ, bánh mà, bánh mứt, chuối dưa cà chua, thu đủ, bánh men, bánh măng, bánh bảy lửu, bánh đậu phụng, bánh dưa hấu, bánh xoài, bánh hồng, bánh quế, bánh mối… (mất 6 chữ), lại có bánh thâu đa nạp thiểu, bánh gối dựa, bánh phục linh, bánh gừng rán, bánh nhỡn, bánh dừa, bánh rơm.



 Bánh ướt như là: bánh chưng, bánh tét, bánh cốm dẹp, bánh phu thê (tức là su sê), bánh vả (tức là bánh sống lươn), bánh ít đen, ít trắng, bánh nóc chùa, bánh khoai tía, bánh củ cải, bánh tro, bánh dày, bánh tổ, bánh lá, bánh tai mèo, bánh nghệ, bánh đúc xanh, bánh quai vạc, bánh khoái, bánh bèo, bánh nậm lá gai, bánh tày, bánh ú vân vân.



 Còn bánh bắt, tức là bột nặn ra thức cây này, thức giống nọ, như là: nặn hình tứ linh, hình lưỡng long tranh châu, hình ngũ sư hí cầu, phúc lộc thọ, cỗ đồ bát bửu, tứ bửu; cây lan, mai, cúc, trúc; hình cây: đào, lựu, lê, phật thủ v.v... nhưng có thứ làm bằng bột đậu xanh, lại có chế đường vào, có thứ làm bằng bột gạo trắng, mới chế phẩm sắc đặng. Người nào có hoa tay thì tỉa vẽ rất mau và tinh tế lắm, hòa nước thuốc cho đúng màu, có khác gì nghệ thuật hội họa mô tượng vậy.



 Năm trước ở Huế, có một vị quí quan ưng các thứ bánh nặn ấy, có đặt thửa một trăm đồng bạc bánh, đóng thùng gửi về Tây; coi thế thì nghề làm khéo của đàn bà mình, cũng được vào con mắt xanh của người ngoại quốc, lại những khi các lễ lớn lao, như lễ tứ tuần đại khánh đây, trong Đại Nội làm bánh để yến đãi ban phát, có đến tám vạn bánh thì đủ biết.



 Từ khi con gái mình theo đòi nghề nghiên bút thường hay nhãng bỏ việc bánh trái, nghĩ rất đáng tiếc. Cái chức vụ người đàn bà mình phải lo công việc trong nhà, dù làm bà quan lớn cho đến người vợ kẻ thường dân, ai ai cũng có công việc nhà riêng của từng người, mà công việc người đàn ông thì lo bề ngoài, công việc người đàn bà lo bề trong, nếu lo bề trong tức là làm cỗ bàn bánh trái. Dẫu khi mắc phải công việc khác không làm đặng, nhưng phải biết mới thuê mướn người ta, nhắc nhở người làm mới khỏi hư hỏng thiệt hại của mình. Nghề gì biết thêm toàn có lợi, huống chi nghề làm bánh là nghề cận dụng của mình xưa nay.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 11-10-1924; Mục Lời đàn bà



 



DẠY TRẺ CON KHI GIAO THIỆP VỚI NGƯỜI NGOÀI



 Giao thiệp là một sự lợi ích và rất hệ trọng, vậy nên trước phải tập luyện để sau ra cho rộng đường nghe thấy, suy xét mới đặng sâu xa; trẻ con những khi đi học, khi đi chơi cùng chúng bạn, riêng một mình không có cha mẹ anh chị kiểm thúc, thường hay lôi thôi sinh sự với nhau. Cho nên cách đối đãi cần phải có, nết ăn ý ở, phải dạy đề huề khiêm nhượng, chớ nên quá mềm mà người ta lấn lướt cho, cũng đừng ỷ mạnh mà xâm phạm đến quyền lợi của kẻ khác. Đáng vai cha mẹ chú bác, thì phải sợ kính, ngang hàng với nhau, thì kiêng nể, về vai em út thì thương yêu như em út của mình.



 Trẻ con có đứa quá ư lanh lợi, thường hay nói phách nói pháo, nói hỗn nói xấc, đặt để bày điều ra mà nói, như thế là không tốt; lại việc gì đã lầm lỡ, hư hỏng của người ta, tự mình cũng không chịu nhận lỗi mình, cứ đổ lộn đổ tháo tại người này bởi người kia. Nếu giao thiệp với người ta, mà làm những thói ấy, chắc là ít kẻ bằng lòng. Còn đứa trẻ nhút nhát lắm, mở miệng không ra hơi, chậm chạp tối tăm, đi chơi không biết tìm lối mà về, không biết tên họ cha mẹ mà thưa thốt với ai, có họng ăn không có họng nói, bao giờ cho vỡ trí khôn.



 Tục ngữ có câu: “Thật thà là cha dại”. Dạy trẻ con phải khuyên bảo tính thành thực làm đầu, nhưng mà thành thực với điều của mình đã nói ra, thì phải giữ chớ sai chạy mà thôi, còn không phải thành thực đem việc người này nói với người khác, công việc nhà cửa cha mẹ đương làm việc gì. Cha mẹ có kêu cho biết mới nên biết, không thì thủ phận trẻ con, đừng nên can thiệp đến, chỉ có hại mà không có lợi chút nào, bởi công việc có cái quan hệ về tiền bạc, có cái quan hệ về danh dự, trẻ con đã biết đâu mà phán đoán cân nhắc. Vui miệng là nói ngay cho người ngoài nghe, thật là bất tiện vậy. Nên biểu cho trẻ con biết câu cách ngôn Tây: “Nói là bạc, mà không nói là vàng”. Thế là có cái nên nói mới lợi, mà có cái không nên nói mới lợi; nên nói như là về đường vật chất về đường cách trí vệ sinh, có hỏi mới nói, có nói mới biết, mình có ưng biết ưng hỏi, người ta mới nói cho mà nghe, chớ làm thinh đi, ai biết ngứa đâu mà gãi. Sự học khôn, phi nhờ nghe thấy cảnh bề ngoài, tất không đâu tìm có những bài học hay như thế. Song le sự giao thiệp khéo là toàn tại cách “hư kỷ dĩ thính nhơn chi giáo ngã”, nghĩa là trống lòng mình để nghe lời người dạy, thì biết thêm đặng nhiều, nếu mình đã tự phụ, còn ai dám nói cho mình nghe, phải trái khó mà vỡ lẽ, dầu tuổi khôn lớn cũng phải thế.



 Trung Bắc Tân văn



 Số ra ngày 30-10-1924; Mục Lời đàn bà



(còn tiếp)



Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung, sửa chữa. Triệu Xuân biên tập. NXB Văn học, 2010.



www.trieuxuan.info



 



 


trieuxuan.info