02.12.2016
Phan Khoang
Việt sử Xứ Đàng Trong



Pháp luật thời chúa Nguyễn


Các chúa Nguyễn chưa soạn luật riêng cho Nam Hà. Ở Nam triều, quan chế, phép thi cử không đầy đủ như ở Bắc triều và Nam Hà dùng luật của Bắc Hà.


Theo giáo sĩ Jean Koffler, tất cả những án tử hình đều phải đưa về tòa án tối cao của triều đình phán xét. Tòa án này gồm các quan coi về việc hình, các quan xét vụ án ấy và do pháp quan tối cao của vương quốc chủ tọa. Tội nào cũng có hình phạt nêu rõ trong bộ luật của quốc gia.


Các quan Trấn thủ tham lam, ngạo mạn, sách nhiễu, đục khoét tiền của dân chúng đều bị tội tử hình. Những kẻ cấp cho người khác thuốc độc, bùa mê, hoặc dùng thuốc độc, bùa mê hãm hại người khác, những kẻ phạm tội đại nghịch, khi quân, sẽ bị trừng phạt nặng: để voi dùng vòi quăng lên, bẻ mình hoặc dùng chân chà chết. Đàn bà giết chồng, con bị gươm đâm vào ngực...


Ở mỗi tỉnh (dinh), có tòa án xét xử các vụ án, quan Trấn thủ duyệt lại rồi mới thi hành, nhưng tội đại hình thì phải đưa về triều đình xét lại. Ở mỗi xã, cũng có pháp lệnh riêng, các hào lý theo đó mà cai trị; các thứ thợ hợp thành phường, mỗi phường có 1 người trưởng, một người phó và 4 người phụ tá cai quản, họ dàn xếp các cuộc đánh lộn xảy ra trong phường.


Cũng theo Koffler, hội nghị tối cao của quốc gia gồm 9 viên quan lớn nhất của triều đình gồm 5 quan võ, 4 quan văn và do chúa chủ tọa. Những vấn đề quan trọng đều đem bàn trong hội nghị này. Tuy là chủ tể tuyệt đối, chúa cũng không thể đặt thêm lễ cống, thuế mới, nếu không được hội nghị đồng ý. Nhưng chúa có thể ban những đặc ân, miễn là đặc ân ấy không trái với công ích. Một mình chúa không thể tuyên chiến, không thể đem vào quốc gia một tôn giáo mới, hoặc thay đổi phong tục. Vì vậy mà vị chúa đương kim khi muốn thay đổi y phục của nhân dân, bắt chước y phục cũ của Trung Quốc (trước khi người Mãn Châu làm chủ Trung Quốc), phải có hội nghị cấp cao chấp nhận đã.


Dân là gốc nước, gốc không vững thì nước không yên


Tài nguyên không thiếu để nuôi nhân dân, nhưng vì sự phân phối không đều, và ở Thuận Hóa, Quảng Nam, hễ năm gặp hạn, lụt thì mất mùa, cảnh đói kém liền bày ra, có năm có người chết đói.


Ngoài vấn đề nuôi sống gia đình ra, nhân dân thường bị xâu thuế bức bách, quan lại của rất nhiều nha môn nhũng nhiễu, những kẻ sai phái của bề trên quyền thế ức hiếp, nên không khỏi có người thất sở, xiêu tán. Việc bắt lính cũng là một tai nạn chung. Tuy có binh chế minh định và phép duyệt tuyển lựa chọn hạng dân phải đi lính, nhưng theo thiền sư Thích Đại Sán viết trong cuốn Hải ngoại kỷ sự vào cuối thế kỷ 17 thì: “Cứ mỗi năm vào khoảng tháng 3, tháng 4, quân nhân ra các làng bắt dân 16 tuổi trở lên, thể chất cường tráng, xiềng cổ bằng một cái gông tre, hình như cái thang nhưng hẹp hơn, đem về sung quân, cho học một nghề chuyên môn, học thành nghề rồi phân phát vào đội chiến thuyền để luyện tập, lúc hữu sự ra trận đánh giặc, vô sự bắt làm công dịch trong quan phủ, chưa được 60 tuổi chưa cho về làng, vì thế dân còn lại đều ốm yếu, tàn tật, ít có người tráng kiện...”.


Xem bức thư sau đây của Nguyễn Cư Trinh, Tuần phủ Quảng Ngãi, dâng lên chúa Thế Tông năm Tân Mùi (1751) thì biết các tình trạng khốn tệ trong xã hội đương thời do nền hành chính không lương hảo gây nên: “Dân là gốc nước, gốc không vững thì nước không yên, ngày thường không lấy ân huệ mà kết lòng dân, đến lúc có việc sẽ nương cậy vào đâu? Trộm lo: trong dân gian mối tệ chất chứa đã nhiều, nếu cứ an theo thói thường, giữ lề lối cũ, không tùy lời thêm, bớt, lập bày kỷ cương, thì một ấp chẳng làm được, huống chi một nước. Nay việc gây tệ hại cho dân là: cấp lính, nuôi voi và nạp tiền án. Ngoài ra, còn sự nhũng phí quá lệ rất nhiều, nhưng việc ấy thuộc về kinh kỳ, tôi không dám vượt chức nói ra. Xin nói những việc trong chức phận: dân Quảng Ngãi chịu thống thuộc nhiều nơi, đã chịu lệnh của nha trường sai dư, lại chịu lệnh các nha trường điền tô (thuế sai dư nạp ở một trường riêng, thuế điền tô nạp ở một trường riêng - NV), chịu đủ loại thuế, phí khác, lại chịu lệnh quan, nha môn, chịu lệnh các sai nhân (những người được quan lớn hoặc ở kinh sai đi - NV)... Nghèo khổ, thất nghiệp là đáng thương, đã không có hằng sản, làm sao giữ được hằng tâm? Trong lúc bình yên mà lòng dân còn rất dao động, một mai có việc thì chế ngự sao kịp? Dân nên để cho yên, không nên làm cho động, động thì dễ loạn, yên thì dễ trị”.


Đời chúa Thế Tông, nhân dân Thuận, Quảng phải đối phó với nạn đói mấy năm liền. Nạn đói kéo dài đến đời chúa Duệ Tông và năm Giáp Ngọ (1774), trong khi ở phương nam, Tây Sơn nổi dậy, ở phía bắc quân Trịnh đã vượt qua sông Gianh thì ở Thuận Hóa đói to, ngoài đường có xác người chết đói.


Việt sử Xứ Đàng Trong: Dẫu thêm hai cánh trường thành khó bay


Chính nhờ hệ thống các lũy phòng thủ được xây dựng do sáng kiến của Lộc Khê hầu Đào Duy Từ mà quân đội chúa Nguyễn - với lực lượng yếu hơn - đã đẩy lùi các cuộc tấn công của quân Trịnh.


Theo tài liệu của tác giả R.P.Cadière trong tạp chí nghiên cứu Bulletin de l’Ecole Françaises d’Extrème d’Orient, 1906 (tập san Viện Viễn Đông Bác Cổ), lũy Trường Dục là một trường thành bằng đất, bắt đầu từ làng Trường Dục, dưới chân núi Trường Sơn, chạy tới phá Hạc Hải (Thạch bàn hải nhi). Lũy dọc theo bờ sông Rào Đá, đến chỗ giáp sông Nhật Lệ, lại từ sông này ngược lên tả ngạn đến làng Quảng Xá, đi qua địa phận các làng Trường Dục, Xuân Dục, Cổ Hiền tới Đình Thôn. Lũy dài 2.500 trượng (khoảng 10 đến 12 cây số), có nơi cao đến 3 thước tây, chân rộng từ 6 đến 8 thước tây. Phỏng quân Trịnh vượt qua được sông Nhật Lệ mà tiến lên thì phía tây gặp núi non hiểm trở, không qua được, phía đông là một đồng bằng, nay là phá Vạn Xuân quanh năm bùn lầy, rồi đến một bãi cát lớn. Ở giữa phá Vạn Xuân và bãi cát có một khoảng đất, đường quốc lộ ngang qua đó, trên khoảng đất này chúa Nguyễn đặt nhiều công cuộc phòng thủ. Trong lũy Trường Dục, có dinh để các quan ở, các trại lính và kho lương, theo hình chữ dĩ 已, ở trong chữ hồi 回, nên lũy này còn gọi là Hồi văn lũy.


Nhiều sự kiện lịch sử vốn rất phức tạp và chồng chéo trong công cuộc khai phá và “mở cõi” đất Nam bộ đã được Phan Khoang, dựa trên hệ thống sử liệu đồ sộ, thể hiện một cách mạch lạc trong tác phẩm Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (Cuộc nam tiến của dân tộc VN).


Lũy Trường Dục là để giữ con đường núi và chặn ngang đường tiến lên của quân địch đã đổ bộ được sông Nhật Lệ. Vậy phải chặn ngay quân địch khi mới đổ bộ lên Nhật Lệ. Vì đó, năm sau, Lộc Khê hầu lại đắp lũy Động Hải, cách lũy Trường Dục 20 cây số, về phía bắc. Núi Đâu Mâu là một rặng núi lớn, từ núi Trường Sơn chia ra làm hai dãy đồi, dãy thứ nhất chạy đến sông Nhật Lệ, ở địa phận làng Văn In (sử gọi là làng Cầm La, thường gọi là Cồn Hàu), dãy thứ nhì chạy đến bờ biển, khoảng 15 cây số về phía bắc, ở địa phận là Phú Hội, thường gọi là Kẻ Địa. Hai dãy đồi ấy như hai cái càng cua ôm lại một đồng bằng rộng bùn lầy, hình bán nguyệt, mùa đông đầy nước, không qua được. Thành Đồng Hới ở giữa đường kinh nổi hai đầu cái bán nguyệt đó. Lũy Động Hải được xây dựng trên một đường từ cửa Nhật Lệ, ban đầu chạy xiên về phía nam, rồi rẽ sang phía tây, cho đến rặng núi Đâu Mâu, cắt ngang chính giữa đồng bằng nói trên. Phía bắc có con sông Lệ Kỳ khá rộng và hai bờ đều là bùn lầy.


Lũy Động Hải dài 3.000 trượng (12 cây số), cứ cách một trượng đặt một khẩu súng khóa sơn, 3 hay 5 trượng lại xây một pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn, lũy cao một trượng 5 xích (6 thước tây), mặt ngoài đóng gỗ lim, trong đắp đất, làm 5 cấp, voi ngựa có thể đi được.


Quân Trịnh từ bắc vào chỉ có thể dùng hai con đường: phía đông là đường theo bờ biển, nghĩa là dọc theo quốc lộ ngày nay, phía tây là đường núi, đồng bằng làng Võ Xá bùn lầy không cho họ tiến vào khoảng giữa được. Ở hai đầu lũy, chúa Nguyễn có các trở ngại. Hạm đội chúa Trịnh lên sông Nhật Lệ, còn bộ binh thì qua lũy Động Hải, theo đường bộ kéo vào nam. Thì ở đây, họ gặp phải đồn binh hiểm yếu của dinh Mười là lỵ sở hành chính và quân sự của Quảng Bình, ở trên địa phận làng Võ Xá hiện nay. Nơi này dài nhiều cây số, ở phía bắc và phía nam đều có những đồn binh bảo vệ.


Năm Mậu Tý (1648), quân Trịnh chiếm được Động Hải và dinh Quảng Bình (dinh Mười), nhưng họ không thắng được, vì ở phía tây còn có lũy Trường Dục bẻ gãy mọi cố gắng tiến lên của họ. Xem thế thì tuy lũy Trường Dục và lũy Động Hải đã được kiến trúc hai lần, trong hai giai đoạn, nhưng vẫn tạo thành một hệ thống phối hợp với nhau.


Lũy Động Hải còn gọi là Trường Lũy (lũy dài) hoặc là lũy Nhật Lệ vì nó nằm ngay trên tả ngạn sông này, hoặc lũy Trấn Ninh, là lấy tên làng ở phía đông lũy mà gọi, thường thì gọi là lũy Thầy, vì Đào Duy Từ đáng là thầy Chúa, đắp lên.


Thời ấy có những câu ca dao nói lên sự hiểm trở của lũy Thầy:


Thứ nhứt thì sợ lũy Thầy,


Thứ nhì sợ lầy Võ Xá.


Và


Có tài vượt nổi sông Gianh


Dẫu thêm hai cánh trường thành khó bay.


Các lũy phụ


Ngoài lũy Trường Dục và lũy Động Hải (Nhật Lệ) là hai lũy lớn, còn nhiều công trình phụ thuộc mà các tướng sẽ tùy theo nhu cầu, kiến trúc thêm để bổ túc cho việc phòng thủ. Chúng ta sẽ thấy lũy Trường Sa đắp lên năm Quý Dậu (1633), trên bãi cát giữa cửa Động Hải và cửa Tùng để phòng đối phó quân địch khi họ không đổ bộ ở cửa Nhật Lệ mà theo đường thủy xuống phía nam, đổ bộ lên bãi biển ở phía bắc cửa Tùng; lũy Trấn Ninh kiến trúc năm Nhâm Dần (1662) để bảo vệ phía đông lũy Động Hải mà giữ đường biển.


Chính lũy Trấn Ninh này, trong chiến cuộc năm Nhâm Tí (1672), quân Trịnh đã cố gắng đánh trong mấy tháng, hy sinh rất nhiều, nhưng không hạ được, vì sự chống giữ kiên trì của Nguyễn Hữu Dật, rồi phải rút về, và từ đó nghỉ binh, mặc nhiên chấp nhận sông Gianh làm giới tuyến giữa hai miền Nam, Bắc.


Việt sử Xứ Đàng Trong: Công cuộc phòng thủ biên giới của chúa Nguyễn


Nhiều sự kiện lịch sử vốn rất phức tạp và chồng chéo trong công cuộc khai phá và “mở cõi” đất Nam bộ đã được Phan Khoang, dựa trên hệ thống sử liệu đồ sộ, thể hiện một cách mạch lạc trong tác phẩm Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (Cuộc nam tiến của dân tộc VN).


Cuốn sách đã góp phần đưa ông trở thành một trong những cây bút hàng đầu của sử học miền Nam trước 1975. Nhân dịp NXB Khoa học xã hội tái bản tác phẩm này (theo bản in của NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1969), Thanh Niên xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.


Sau khi các chúa Nguyễn thiết lập chính quyền ở Đàng Trong, hai bên Trịnh, Nguyễn chiến tranh 7 lần, khi đánh, khi nghỉ trong suốt 45 năm.


Tương quan lực lượng


Tài liệu không cho chúng ta biết một cách đích xác lực lượng quân sự của chúa Nguyễn và chúa Trịnh trong các cuộc chiến tranh này, nhưng chúng ta biết chắc rằng ở Bắc Hà, việc tổ chức quân đội đã có quy củ lâu đời. Bấy giờ chiến tranh, biến loạn xảy ra luôn, chúa Trịnh lại ỷ vào binh lực để tự tồn, quan, dân cũng lấy việc quân làm trọng, cho nên Bắc Hà đã có một đạo quân khá mạnh.


Nam Hà, từ sau khi chúa Thái Tổ đánh thắng Lập Bạo, trong cõi yên ổn một thời gian lâu, quân đội vẫn như lúc chúa mới vào, từ chức Chưởng dinh, Chưởng cơ cho đến Cai đội, chỉ dùng người công tộc và người Thanh Hoa, con cháu họ lớn lên thì làm cho Cai đội trong quân ở các dinh, xem vậy quân đội chưa được mở rộng thành một lực lượng của toàn dân.


Đại Nam thực lục tiền biên cho ta biết năm Quý Tị (1653) là năm sắp đánh lần thứ 5 với họ Trịnh (trận Ất Mùi, 1655), chúa Thái Tông mở một cuộc duyệt binh lớn ở An Cựu, nay xem số quân của các dinh, cơ, đội, thuyền tham dự, cộng lại cả thảy chỉ 22.740 người. Số lính chính quy của Bắc Hà, theo những người ngoại quốc cho biết, gồm tới 50.000 người đóng ở Thăng Long.


Ấy là số binh sĩ túc trực thường ngày ở kinh đô. Gặp chiến tranh, chúa Nguyễn cũng như chúa Trịnh, có thể gọi thêm binh ở các địa phương và hương binh ở các phủ, huyện, như chúa Nguyễn Thái Tông đã làm năm Nhâm Tý (1672). Theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes, đã mục kích đạo quân chúa Trịnh đi đánh chúa Nguyễn năm Ất Mão (1626), thì quân bộ của Bắc Hà không dưới 12 vạn, và thủy, bộ cả thảy là 20 vạn người.


Về thủy quân, Trịnh hơn hẳn Nguyễn. Vì ở bắc có nhiều sông ngòi lớn, liên lạc với nhau, hạm đội dễ điều động nên người bắc chú trọng thủy quân, tu tạo nhiều chiến thuyền, còn ở nam thì sông ngòi hẹp, lại không liên lạc được nhau, thuyền chỉ dùng ở mặt biển mà thôi. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong dịp nói trên, đã thấy Trịnh Tráng có 600 chiến thuyền, lớn hơn tàu Âu châu thời ấy, mỗi chiếc trang bị 3 khẩu đại bác, mỗi bên thuyền có 25 người chèo, xen lẫn vào đám thủy thủ là những lính chiến. Theo các tài liệu của nhiều giáo sĩ khác nhau có mặt ở khắp Nam Hà lúc ấy thì chúa Nguyễn có chừng 200 chiến thuyền thôi.


Theo giáo sĩ Bénigne Vachet (đến Nam Hà năm 1671) thì chúa Nam Hà có 40.000 lính chính quy, trong số ấy lấy 15.000 phòng thủ biên giới phương bắc, 9.000 giữ phủ chúa, 6.000 giữ dinh thự các hoàng thân, đại thần, 10.000 giữ các dinh (tỉnh) khác. Số chiến thuyền của chúa lên đến 200 chiếc, nhưng chiến thuyền của Bắc Hà nhiều gấp ba, gấp bốn số ấy, mà lại lớn hơn, trang bị khí giới đầy đủ hơn.


Công trình phòng thủ quan trọng của chúa Nguyễn


Sau cuộc phát binh vào nam của chúa Trịnh năm Đinh Mão (1627) và sau việc trả lại sắc của vua Lê, chúa Hy Tông thấy rằng muốn bảo tồn lãnh thổ và duy trì địa vị thì chiến tranh với họ Trịnh không thể tránh khỏi. Mà đã thế thì trước phải lo việc biên phòng.


May đâu, một nhân vật đã đến làm quen với chúa, được chúa tin dùng, đó là Lộc Khê hầu Đào Duy Từ, đã giúp chúa kế hoạch bố trí sự phòng thủ ấy. Hai lũy Trường Dục và Nhật Lệ do sáng kiến của Lộc Khê hầu vạch ra đồ bản và thực hành các công tác, đã giữ một vai trò tối quan trọng trong cuộc chiến tranh với họ Trịnh, và chính nhờ hai công trình kiến trúc ấy mà các chúa Nguyễn đã đẩy lùi các cuộc xâm nhập của quân Trịnh.


Người ta phải tự hỏi vì sao chỉ phòng thủ ở Quảng Bình mà thôi, quân Trịnh không thể đổ bộ ở một nơi nào khác rồi kéo đến phủ chúa Nguyễn ở Phước Yên, ở Kim Long, ở Phú Xuân sao? Quân Trịnh không thể đổ bộ vào một hải cảng nào ở phía nam Thuận Hóa, ở Thị Nại, ví dụ như vua Lê Thánh Tông đã làm, vì bấy giờ Chiêm Thành còn có lực lượng, sợ có thể bị kẹp vào giữa hai lực lượng Chiêm, Nguyễn thì không có đường thoát. Quân Trịnh cũng không thể đổ bộ ở một hải cảng nào gần hơn, như cửa Việt, cửa Eo (hoặc gọi là cửa Noãn, tức cửa Thuận An ngày nay) để rồi lên sông Quảng Trị hay sông Thuận An, vì các sông này chật hẹp, chiến thuyền lớn vào không tiện. Vả lại không binh gia nào lại đem quân xông thẳng vào kinh đô của địch là nơi phòng thủ chắc phải nghiêm ngặt rồi. Vậy muốn đánh Thuận Hóa, ắt phải đánh sông Nhật Lệ, đổ bộ lên đất Quảng Bình, rồi từ đó quân bộ, quân thủy mới chia ra mà đi công kích. Vì đó mà Quảng Bình phải làm đất chiến trường cho hai họ Trịnh, Nguyễn suốt nửa thế kỷ, trên đó hai lũy Trường Dục và Nhật Lệ là đối tượng của hai bên, bên này cố giữ đến cùng, bên kia cố lấy cho được.


Việt sử Xứ Đàng Trong: Phân hạng dân để nộp thuế và tuyển binh


Chúa Hy Tông với ý định lập giang sơn riêng, sau khi bãi bỏ các cơ quan hành chính của triều Lê, đặt Tam ty để thay thế, năm Nhâm Thân (1632), bắt đầu thi hành phép duyệt tuyển.


Duyệt tuyển là duyệt dân, chia ra từng hạng để đánh thuế và tuyển binh. Đó là một điển lệ quan trọng của quốc gia, phải do lệnh triều đình ban hành, nay chúa Nguyễn tự ý quyết định để tỏ rằng Thuận, Quảng thoát khỏi uy quyền nhà Lê.


Quy trình duyệt tuyển


Phép này, chúa Hy Tông nói theo quy chế thời Hồng Đức và các chúa kế sau đều thi hành: 6 năm 1 lần duyệt tuyển lớn, gọi là đại điển, 3 năm một lần duyệt tuyển nhỏ, gọi là tiểu điển. Đến năm duyệt tuyển thì tháng giêng sai các tổng, xã làm sổ sách, để riêng dân chính hộ là dân chính quán ở xã và dân khánh hộ là dân ngụ cư, rồi chia làm các hạng: tráng là người mạnh khỏe để sung vào quân đội; quân là người được ở nhà làm ruộng, đến khi quân ngũ có thiếu thì theo thứ tự trong sổ lấy mà bổ sung; dân là người từ 18 tuổi trở lên không được chọn làm binh lính; lão là người cao tuổi; tật là người tàn tật; cố là người làm thuê; cùng là người nghèo túng; đào là người bỏ trốn.


Đến tháng 6 thì duyệt tuyển. Ở các địa phương lập nên các tuyển trường, có quan văn, võ do trung ương phái đến phụ trách về việc duyệt tuyển. Thời ấy, lập 1 trường cho 3 huyện Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vang; 1 trường cho huyện Võ Xương, Hải Lăng, Minh Linh; 1 trường cho huyện Khương Lộc; 1 trường cho huyện Lệ Thủy; 1 trường cho châu Nam Bố Chính; 5 phủ Điện Bàn, Thăng Hoa, Quảng Ngãi, Hoài Nhân, Phú Yên mỗi phủ 1 trường, sau khi đặt phủ Thái Khương (sau đổi là Bình Khương) thì lập 1 trường ở đấy, đến năm Mậu Tý (1708), chúa Hiển Tông lập thêm 1 trường ở phủ Bình Thuận, 1 trường ở phủ Gia Định, cộng cả thảy 13 trường. Duyệt tuyển ở tuyển trường 1 tháng thì xong. Xã nào thấy sự ấn định các hạng dân nặng cho mình có quyền làm đơn xin xuống hạn.


Định mức thuế điền


Các chúa Nguyễn sai quan đo đạc ruộng công của các xã dân để thu thuế điền mỗi năm. Cứ mùa gặt xong, sai người đến tận nơi chiếu theo số ruộng đất cày cấy mà thu thuế. Năm 1669, thuế lệ định như sau: ruộng công nhất đẳng, mỗi mẫu nộp thuế bằng 40 thăng lúa, nhị đẳng mỗi mẫu 30 thăng, tam đẳng mỗi mẫu 20 thăng.


Ruộng khô mỗi mẫu 4 tiền, hoặc 1 tiền 30 đồng, hoặc 2 tiền, hoặc 2 tiền 30 đồng tùy vị trí. Ruộng hoang mới khai phá nạp 3 quan hoặc 3 tiền...


Định lệ thu thuế sai dư (thuế thân) cho các hạng dân như sau: ở Thuận Hóa về chính hộ, con cháu quan viên nạp 1 quan; tráng hạng 2 quan; quân hạng 1 quan 5 tiền; dân hạng 8 tiền; lão hạng 1 quan; tật hạng, cố hạng đều 5 tiền; cùng hạng 3 tiền; đào hạng 2 tiền. Về khách hộ, con cháu quan viên nạp 3 tiền; tráng hạng 1 quan; quân hạng 7 tiền; dân hạng, lão hạng đều 5 tiền; các hạng cố, cùng, đào, tật đều được miễn. Còn các người viên chức cũ như cựu xã trưởng, cựu tướng thần, cựu tri phủ, cựu ưu binh... cũng phải nạp sai dư và phụ thu, nhưng nhẹ hơn. Ở Quảng Nam, về chính hộ, tráng hạng nạp 2 quan; quân hạng 1 quan 7 tiền; dân hạng 8 tiền; lão hạng 9 tiền; cố hạng chia làm 3 hạng; hạng nhất 1 quan 5 tiền; hạng nhì 1 quan; hạng ba 7 tiền; tật hạng 6 tiền; cùng hạng 3 tiền; đào hạng 2 tiền. Về khách hộ, tráng hạng 1 quan 2 tiền, quân hạng 1 quan; dân hạng, lão hạng đều 6 tiền; tật hạng 4 tiền... các hạng cùng, đào được miễn.


Tiền từ thuế sai dư định từ năm Nhâm Thân (1632), nhưng xem trong Phủ biên tạp lục ông Lê Quý Đôn đã chiếu theo số thuế đời chúa Duệ Tông mà chép lại thì thấy các sổ ấy vẫn không thay đổi, sau 150 năm.


Dân nộp nhiều loại phí khác


Ngoài thuế sai dư, các hạng dân đều phải nạp các món tiền phụ thu này: tiền tiết liệu là lễ tết, tiền thường tân là lễ cơm mới và cước mễ đại nạp tiền, gọi tắt là tiền cước mễ (gạo cước) là tiền để chuyên chở thóc thuế, nhiều ít tùy hạng. Duy hai hạng cùng, đào trong chính hộ và các hạng trong khách hộ đều được miễn.


Ở Thuận Hóa, chính hộ hạng tráng nạp tiền lễ tết 3 tiền 30 đồng, tiền thường tân 3 tiền 30 đồng, tiền cước mễ 6 tiền; hạng dân nạp tiền lễ tết 2 tiền 30 đồng, tiền thường tân 2 tiền 30 đồng, tiền cước mễ 6 tiền; hạng lão nạp tiền lễ tết 2 tiền 30 đồng, tiền thường tân 2 tiền 30 đồng, tiền cước mễ 6 tiền...


Các tiền trên đây do bản huyện thu, rồi nạp ở ty tướng thần lại bản dinh; còn các xã, thôn, phường nội phủ thì do nội lệnh sử thu riêng. Cũng có xã, huyện được miễn một hoặc nhiều trong các món tiền phụ thu ấy, ví dụ như huyện Minh Linh được miễn tiền tiết liệu, hai huyện Khương Lộc, Lệ Thủy được miễn tiền thường tân và tiết liệu, châu Nam Bố Chính được miễn các tiền tiết liệu, thường tân, cước mễ...


Các nhà sư Phật giáo nếu có quan điệp (giấy của quan cấp chứng nhận là tăng) và có trai giới, tu hành thì được miễn thuế và các thứ sưu sai. Lại có những địa phương làm sản vật riêng thì cho nạp sản phẩm thay thuế sai dư, hoặc sưu dịch. Như huyện Phú Châu nạp lụa; thuộc Kim Bộ nạp vàng; thuộc Tịch Tượng nạp chiếu... Các xã duyên hải làm nghề đánh cá thì nạp mắm (mắm mòi, mắm ướp, nước mắm, dầu cá) thay thuế sai dư hoặc tiền phụ thu.


Phan Khoang


Việt sử Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 (Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam). NXB Khoa học Xã hội, 2016.
thanhnien.vn trích đăng nhiều kỳ


Tái bản Việt sử: Xứ Đàng Trong của Phan Khoang


Nói đến tên tuổi của các nhà sử học miền Nam nổi tiếng trước 1975 phải kể đến học giả Phan Khoang (1906 - 1971).


Ông sinh ra tại Quảng Nam, là tác giả của nhiều tác phẩm xuất sắc như Việt - Pháp bang giao sử lược (nhà in Nguyễn Văn Bửu, Huế, 1950), VN Pháp thuộc sử (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1961)... Đặc biệt tập sách Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 - 1777 - Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam đã được Phan Khoang dụng công cả đời để hoàn thành, lưu lại cho hậu thế một cuốn sách sử nghiêm túc, cẩn trọng.


Tác phẩm quý vừa được NXB Khoa học Xã hội và Công ty TNHH văn hóa Khai Tâm tái bản (ảnh) theo bản in của NXB Khai Trí, Sài Gòn năm 1969. Sách dày hơn 500 trang, không chỉ phục hiện hệ thống và chi tiết về lịch sử hình thành vương triều Nguyễn và lịch sử Đại Việt thời Lê - Trịnh..., tác giả Phan Khoang còn trình bày chi tiết phả hệ các chúa Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phước Thuần và các chúa Nguyễn khác; bộ máy chính quyền, tổ chức quân đội, chế độ quân điền, thuế khóa, giáo dục, thi cử, tiền tệ, đo lường, pháp luật... kể cả lĩnh vực ngoại giao với Xiêm La, Trung Quốc, Nhật Bản. Ông cũng giới thiệu về âm nhạc và ca kịch của thời các chúa Nguyễn, chuyện ông Đào Duy Từ dạy cho dân hát bội một hơi dài chứ không ngắt câu với tiếng ví ư ư như ở đất Lê - Trịnh...


Lê Công Sơn/ thanhnien.vn trích đăng nhiều kỳ


 


 

trieuxuan.info