Những dòng sau đây trích từ Sổ Tang viết bởi văn thi hữu, nghệ sĩ các ngành, đại diện cơ sở báo chí, tôn giáo và quần chúng ái mộ đến vĩnh biệt thi sĩ Bùi Giáng tại chùa Vĩnh Nghiêm (Sài Gòn)
Bùi Giang Bàng Dúi Bùi Giáng
Ô hay trăm ngõ bàng hoàng lỗ không
Lỗ không trời đất ngỡ ngàng
Hóa ra thi thể là ngàn hư vô
Nhớ thương vô cùng là từ
Là từ vô tận ứ ừ viễn vông
TRỊNH CÔNG SƠN/ 1998
Hành trình của hạt cát
Tặng Bùi Giáng
Ban sơ là hạt cát vùi
Dưới lòng biển cả muôn đời ngủ yên
Rồi một hôm bỗng trồi lên
Bay bay bay mãi tới miền Bộ châu
Thõng tay đánh cuộc bể dâu
Hòa tan thành lệ nhỏ vào thiên thu
Chảy qua sa mạc thâm u
Qua vùng gió xoáy mịt mù tử sinh
Xác trai hồn khách biên đình
Hóa thân làm gã ăn xin cõi đời
Ngàn năm say ngủ bên đời
Coi như chưa đã một thời viễn du
Báo GIÁC NGỘ số 181
Tạm Biệt Bùi Giáng
Ra đi từ vô thỉ
Điểm hẹn là vô chung
Ôi! Mệt nhoài cuộc lữ
Này đây, phút tạm dừng
Chùa Vĩnh Nghiêm 09.10.1998
Bích Nhãn Hồ
Bạn từ trên ấy xuống đây
Bay theo có một nét mây ngang trời
Nay về nắng chẳng còn tươi
Người đi kim cổ sáng hoài dáng ai
Nũ Hà Miên
Ngõ ban sơ hạnh ngân dài
Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua
B.G
Tôi nghĩ cái hình ảnh bầm dập của trang tài tử đời nay là anh, quả thật khiến người ta phải cẩn thận coi lại công lực của mình trước khi quyết định dan díu với Cái Đẹp.
Thành kính tưởng niệm Lê Nguyên Đại
Bái biệt Bùi Giàng Giáng tiên sinh
Tôi nghe danh rồi quen biết Bùi Giáng tiên sinh từ những năm tôi còn ngồi trên ghế nhà trường. Lúc bấy giờ ông đã rền tiếng trên thi đàn nửa nước Việt.
Về con người văn nghệ Bùi tiên sinh, ai đã hơn một lần đọc thơ ông ắt biết về “thi sĩ trung niên” kiêm họa sĩ chuyên vẽ tranh, làm thơ tặng những nàng thiếu nữ bên bờ cỏ Phi châu và châu chấu, chuồn chuồn… này.
Bẵng đi một thời gian dài với bao hưng phế. Rồi những năm 80 tôi gặp lại “trung niên thi sĩ” – bây giờ là lão thành thi nhân – dưới mái chùa Già Lam cạnh Xóm Gà, Gia Định, nơi thi sĩ đang ẩn am. Trong lần tái ngộ ấy, bậc thi sĩ đàn anh hân hoan viết vào sổ tay tặng tôi mấy câu thơ chữ Hán và đoạn lục bát:
- “Bỗng nhiên tao ngộ bao giờ?
Quãng Nam cố quận bây giờ là đây
Nghiêng vai chúc tụng thiên tài
Trăm năm dâu bể một ngày phục sinh!”
Viết xong câu thơ thứ tư trên, “trung niên thi sĩ” giựt mình nói nhỏ:“phục sinh”! thôi thì “tái sinh” vậy!
Rồi thế đấy! Với bao dòng nước chảy qua cầu… và sau này đây “trung niên thi sĩ” của chúng ta sẽ nằm yên trong lòng đất lạnh, nằm an nghỉ để đợi ngày tái sinh (phục sinh) cho chính mình và trong ký ức của những người mến mộ cuộc đời và sự nghiệp văn chương trác tuyệt có một không hai của thi đàn nước Việt. Người có một cái tên bất tuyệt “Bùi Giàng Búi là người ngụ xóm gà Gia Định” như thi sĩ đã tự khai sinh.
Với “trung niên thi sĩ”, ai cũng nghĩ ằng nhà thơ đã đi đúng nghiệp văn chương, nên ông chẳng bao giờ màng tiếng thị phi. Lúc nào “trung niên thi sĩ” cũng là người trượng phu, vẫn lạc quan yêu đời như phong cách của một thiền sư thi sĩ luôn thấy được bản lai diện mục mình. Với ông, dù lúc đáng bi lụy mà chẳng bao giờ vướng lụy ngay cả khi nhà thơ đang nghĩ về thế giới… bên kia, như ông viết:
“Và mai sau tôi xuống suối vàng vẫn mong rằng các vị… sẽ ban ân huệ mưa móc xum xuê trên nấm mồ mọc cỏ những giọt sương trần gian sẽ giỏ hằng ngày xuống đáy huyệt cô đơn”
Chẳng phải như ông, chúng tôi vốn là những người mang nhiều hệ lụy của một kiếp nhân sinh trần tục nên chân thành khóc thi sĩ:
“Đời như hiu quạnh nghĩa trang không
Sự thể vùi trong nấm cỏ đồng]
Tro giấy bay thành hồ điệp trắng
Lệ rơi máu đỏ đỗ quyên hồng”
Trước khi bái tiễn Bùi tiên sinh về cõi thọ, xin mượn câu thơ ông huơ bút năm nào tặng tôi mà tôi mường tượng rằng đây là lời Bùi Giàng Búi đại ca tự tặng mình thì có lẽ đúng hơn:
“Phương cảo phù du vân cẩm đoạn
Tòng giao sất luyện tả thu quang”
Như văn chương tuyệt thế của ông
Xin bái biệt “trung niên thi sĩ”
Ngã Ba Ông Tạ - tiết mưa dầm
Gia Định 11-10-1998
Nguyễn Q. Thắng
Nhớ người Phụng Hiến
Ngày sẽ hết tôi sẽ không trở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Sẽ đi từ chốn quay về
Hồn du mục, cỏ Nhà Quê ngậm ngùi
Lời sương ý tuyết chia đôi
Đất ngâm ngấm lạnh bên trời mây bay
Sẽ đi từ cuối chân ngày
Từ đêm vô lượng ngón tay vô ngần
Mưa Nguồn, Chớp Bể hòa âm
Ngàn Thu Rớt Hột nẫy nầm chiêm bao
Sẽ đi từ một điệu chào
Khóc cười náo nhiệt, nháo nhào tử sinh
Bài thơ muối mặn rùng mình
Gừng cay úp mặt tận tình tri âm
Sẽ đi từ một chỗ nằm
Đá vang tiếng ngựa, gió cầm tin loa
Rưng rưng vũ trụ sáng lòa
Hài nhi khép mặt mưa qua ngàn trùng
7/10/1998
Nguyễn Lương Vỵ
Những dòng thư ngắn Trong kỷ niệm với Bùi quân
Một ngày lập đông, năm Đinh Mão (1987), thi sĩ Bùi Giáng đến quán cà phê đường Bà Lê Chân, Tân Định để gặp và “khoe” với Huy Tưởng một “lá thư” bằng phiên âm chữ Hán của một tiên sinh tự xưng là đang ở tận một nơi xa gọi là “viễn phố”, xa hơn cả nửa vòng trái đất, và gọi Bùi trung niên thi sĩ là cháu. Bức thư vỏn vẹn có mấy dòng nhưng đã bày tỏ được mối tương hệ rất sâu đậm cùng sự thấu cảm nhau một cách tinh tế đầy ẩn mật đối với một thiên tài không sao định nghĩa được (génie indéfinissable) bằng thứ ngôn ngữ tưởng như là “vu vơ”. Nói năng bông lơn mà lại hàm dưỡng một công phu bề thế, bận bịu vô song giữa các vạn vật nhất thể ở khởi nguyên chưa phân ly thì còn hàm hổn nhưng tràn đầy sức sống, như có kẻ luôn tự vấn: làm sao nối lại non xanh và biển rộng giữa cát và bờ? Làm sao chuẩn bị cho một cuộc đối thoại tái hợp nhất thiết phải có giữa Đông và Tây? Làm sao bắt lại nhịp cầu tương giao giữa Thi Ca và Tư Tưởng, hai lãnh vực hoạt động theo quy luật riêng, cách nhau cả vực thẳm, mà lại có mối quan hệ tàng ẩn thắm thiết ở cội nguồn?
Nay bất chợt tìm thấy trong mớ kỷ niệm hỗn mang mà đầy hứng khởi, những dòng khơi mở ngắn ngủi vô cùng thi vị ấy, không ngăn nỗi phải nhắm mắt “liều lĩnh một phen” chuyển và phóng dịch cho thỏa cơn mộ chữ.
Xin rất biết ơn những ai - đó, như trúc có lòng, nở cho nụ cười hoan hỉ.
Viễn phố, 27/11/87
Huy Tưởng
Bùi Tần Thân lão điệt nhã giám!
Nhĩ ký ngã vô lượng thi + thơ, tổng thị tiếu đề diệc vận, nùng đạm tương nghi…
Độc thậm khoái hoạt, như du du tại Hoạn hỉ địa chi gian
Ngô viên tự hữu, vô tâm chi trúc, tự nhĩ lai thời, kiêm hữu trường lử chi nhân, khả phát nhất tiếu, nhiên nhi vu vơ chi vũ mạc đình phóng túng hình hài, ngang tàng tính mệnh, phất vi dã!
Ngã kim tại Viễn phố, sa mạc hồi khan, trùng trùng tâm cảnh. Triêu chỉ kiến thiền vu, mộ hồ sơn ứng mộng.
Hàm tình vô phiến, ký nhĩ Hô-đơ-gây* phiêu bồng di ảnh cộng sổ hàng ẩn ngữ ninh vi phỉ thuý lục ngạn hành từ.
Nguyên tác bằng chữ Hán – bút tự của BG – Rất tiếc những đoạn trích trong Sổ Tang này được chuyển từ trong nước qua đường email, người gửi không có máy scan, nên buộc phải âm ra chữ Việt.
DỊCH:
Viễn phố, 27/11/87
Gửi Bùi lão điệt vô cùng thân thiết!
Cháu gửi ta thi thơ vô lượng, khóc cười ứng hợp, đậm nhạt hài hòa. Đọc rất hứng thú, như lảng đãng trong vùng hoan hỉ.
Vườn ta như trúc có lòng, từ khi cháu đến, nay có người dặm dà rong ruổi, nở được một đóa cười. Nhưng mưa vu vơ chẳng tạnh, phóng túng hình hài, ngang tàng tính mệnh không làm đâu!
Nay ta đang ở bến xa, trông về sa mạc, tâm cảnh chất chồng. Sáng chỉ thấy Thiền Vu, chiều chiêm bao bờ núi. Tình chan chứa lặng thinh không nói một lời!
Gởi cháu di ảnh “Heidegei”* phiêu bồng, cùng bao la ẩn ngữ thà làm phim phỉ thuý thơ thẩn bờ xanh.
_______
*Hơ-đơ-gây (nói lái của Martin Hiedegger)
Vĩnh biệt anh Bùi Giáng
Bùi huynh! Trung Phước đợi anh về
Đồi cũ mong người thuở “giữ dê”
Giọt giọt “mưa nguồn” rơi chằng ngớt
Sài Gòn xa vọng tiếng mưa quê!
Tường Linh
(Trung Phước)
Thấp cao nào thuộc về chân cẳng
Có trèo lên mấy chục tầng lầu
Và nằm phục xuống như con rắn
Núi đời thành thị vẫn nương dâu
Thấp cao vậy chắc là trồi sụt
Trồi quỉ ma và sụt thánh hiền
Cái gì ở ranh cao thấp
Một ÔNG BÙI giáng giữa thanh thiên!
Bùi Chí Vinh
“Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”
Đã chơi thì mặc xác luân hồi
Phạm Thiên Thư
Hơn bảy mươi năm lạc cõi đời
Chỉ là chớp mắt một trò chơi
Có không không có ông hằng rõ
Sinh tử hề chi chuyện nhỏ thôi
Nguyễn Đăng Trình
Thoắt nhanh một trận say dài
Tóc bay trắng thác đổ ngoài hư không
Vĩnh biệt anh
Nguyễn Thuỵ Kha
Con kính viếng hương hồn của thầy
“Cổ kim hậu sự thiên nan vấn
Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không” (BG)
Con, người học trò thơ của thầy
Trần Tuấn Kiệt
(còn tiếp)
Nguồn: Đặc San Hợp Lưu. số 44, tháng 12/1998 - tháng 1/1999. |