08.02.2017
Pièrre-BERNARD Lafont
Champa (2)



Liên quan đến người Tây Nguyên có tiếng nói


thuộc gia đình ngôn ngữ Đa Đảo, dân số của họ vẫn còn lu


mờ mặc dù bảng điều tra năm 1991 đã liệt kê như sau: dân


tộc Ê Đê (Rhadé) có vào khoảng 194 000 người mặc dù


chỉ số của họ không quá 120 000 người ; dân tộc Raglai có


71 696 trong lúc đó họ chỉ có khoảng 50 000 người ; Dân


tộc Churu có 10 746 ; dân tộc Jarai dường như có khoảng


150 000.


Ấn hóa


Sau nền văn minh của thời kỳ đá mới (néolithique)


được xem như là giai đoạn sáng chói nhất, người ta phải


nói đến nền văn minh của thời đại đồng thiếc (bronze) từ


Trung Hoa tràn xuống pha trộn với một vài ảnh hưởng của


văn hóa Đồng Sơn. Thời đại này bất đầu đưa khu vực


miền trung và nam của vùng duyên hải Trung Việt vào


một không gian mới của thời tiền sử kể từ thế kỷ thứ VI


trước Công Nguyên. Sau thời đại của đồng thiếc (bronze),


khu vực vùng duyên hải Trung Việt đã từng có một nền


văn minh cực thịnh, bắt đầu tiếp thu thêm một nền văn


minh mới nữa từ Ấn Độ truyền sang kể từ thế kỷ đầu của


Công Nguyên.


Cho đến hôm nay, người ta không tìm thấy những


dấu tích cổ nói đến lịch sử của sự phát triển Ấn Giáo trên


lãnh thổ mang tên là vương quốc Champa. Ngược lại,


người ta chỉ biết các thương thuyền và nhà buôn Ấn Độ


chuyên đi tìm vàng đã từng đến vùng đông-nam và trung-


đông của bán đảo Đông Dương vào đầu thế kỷ Công


Nguyên càng ngày càng đông đảo. Họ thường thiết lập các


trạm giao thương buôn bán tại các vùng ven biển có đông


dân cư sinh sống. Sự hiện diện của những tu sĩ (Brahman)


và giai cấp thượng lưu (Ksatriya) của Ấn Độ đã biến các


trạm giao thương này trở thành trung tâm truyền bá nền


văn minh Ấn Giáo vào cộng đồng của người dân bản địa


(G. Coedès, Les États hindouisés d’Indochine et


d’Indonésie, Paris, De Boccard, 1964, trg 44-72). Người ta


cũng không biết lúc nào nền văn minh Ấn Giáo trở thành


một tôn giáo thịnh hành trong khu vực này, mặc dù một số


nhà nghiên cứu cho rằng sự phát triển của Ấn Giáo chỉ bắt


đầu vào khoảng thế kỷ thứ IV. Người ta vẫn không biết sự


du nhập Ấn Giáo vào Champa qua hệ thống đường biển


hay là theo đường bộ như trường hợp của khu vực nằm ở


phía nam của bán đảo Đông Dương (tức là Funan và bán


đảo Mã Lai). Quá trình Ấn Hóa (indianisation) này chắc


chắn đã giúp cho những nhà tăng lữ Bà La Môn du nhập


một cách dễ dàng vào cuộc sống dân bản địa Champa,


một cộng đồng đã từng sẵn có một nền văn minh hưng


thịnh nhằm xây dựng lại cho mình một nền móng chính trị


vững chắc hơn dựa vào hệ thống của Ấn Giáo. Hoàn toàn


trái ngược hẳn với lý thuyết đã từng đưa ra gần một thế kỷ


qua, Ấn Giáo là hệ thống tôn giáo chỉ giành cho một số


giai cấp xã hội ở vương quốc Champa mà thôi, chứ không


phải là một tín ngưỡng quần chúng dành cho mọi tầng lớp


của người dân bản địa Champa thời đó. Trên thực tế, Ấn


Giáo chỉ đặt nền tảng vào cộng đồng người dân bản xứ có


mối quan hệ chặt chẽ với các người Ấn nhập cư, đặc biệt


là cộng đồng của người bản địa Champa thuộc đẳng cấp


cao, chấp nhận tiếp thu nền văn minh Ấn Độ và gò mình


vào nếp sống của họ. Đây là hiện tượng đã từng xảy ra


vào thế kỷ thứ XV và cho phép người ta đưa ra kết luận


rằng chỉ có một thiểu số thuộc tầng lớp của giai cấp


thượng lưu Champa mới có quyền theo Ấn Giáo trong khi


đó đa số thần dân Champa còn lại chỉ tiếp thu một số yếu


tố tín ngưỡng mang tính cách kỹ thuật được sơn phết lên


trên một lớp mỏng của màu sắc Ấn Giáo mà thôi. Vì rằng


đa số quần chúng Champa vẫn tiếp tục duy trì truyền


thống và bản sắc văn hóa riêng tư khá tiến bộ của họ đã


có sẵn trước khi người Ấn chưa xâm nhập vào vương quốc


này. Kể từ đó, người ta thường nghĩ rằng Ấn Giáo là một


tín ngưỡng đặc quyền chỉ dành cho giai cấp lãnh đạo


Champa thường dựa vào đó để áp đặt nền thống trị của họ


lên trên thành phần của xã hội nơi mà họ đã từng xuất


thân.


Cũng nhờ sự phát triển của nền Ấn Hóa


(indianisation), các tầng lớp lãnh đạo Champa đã dựa vào


mẫu tự của devanagari của Ấn Độ để sáng chế cho mình


một loại chữ viết riêng và có cơ hội để sử dụng Phạn ngữ


cho đến năm 1253. Và giai đoạn Ấn Hóa (indianisation)


này đã mang lại cho vương quốc Champa hai nền giáo lý


rõ rệt đó là Shiva Giáo và Phật Giáo và một hệ thống tổ


chức xã hội dựa vào sự phân chia quần chúng thành bốn


giai cấp xã hội cha truyền con nối, được tồn tại cho đến


thế kỷ thứ XV (L. Finot, “Les inscriptions de Mĩ-sơn XVI”


trong BEFEO IV, 1904, trg. 950). Nền văn minh Ấn Hóa


này còn cung cấp thêm các tác phẩm văn học về tôn giáo,


sử thi (épic), văn chương kỹ thuật cũng như hệ thống quân


chủ cấu thành một nền tảng của tổ chức quốc gia Champa


Ấn Hóa và còn tồn tại dưới thời Champa bản địa (Champa


indigène) sau thế kỷ XV.


Liên quan đến khu vực miền cao, các tài liệu cho


thấy rằng vào những thế kỷ đầu của Tây Lịch, dân chúng


Tây Nguyên chưa tiếp thu những ảnh hưởng của Ấn Giáo


và cuộc sống của nhóm tộc người này vẫn còn ở trong tình


trạng kém mở mang. Mãi cho đến lúc bia ký Batau Tablah


(gần thôn Văn Lâm, Phan Rang) viết vào thế kỷ XII cho


rằng các dân tộc “Randaiy (Rhadé), Mada, Mleccha và các


người dân lạc hậu khác” chấp nhận thần phục vương quốc


Champa. Kể từ đó, dân tộc Tây Nguyên thuộc gia đình


ngôn ngữ đa đảo (austronesien) mới bắt đầu tiếp thu một


nền văn hóa và kỹ thuật mới do dân tộc Chăm truyền


sang, đã giúp họ tự biến hóa từ nhóm người lạc hậu


(Mleccha) sang hình thái xã hội của dân tộc miền núi


(Kirata). Quá trình lịch sử này đã cho phép dân tộc Tây


Nguyên phát triển nhiều mối quan hệ rất là chặt chẽ với


dân tộc Chăm mà bia ký Champa thường ghi lại, mặc dù


bia ký này cũng như các đền đài của Champa Ấn Giáo tìm


thấy trên cao nguyên không bao giờ nói rõ dân tộc Tây


Nguyên đã hòa nhập vào giai cấp xã hội Champa Ấn Hóa


như người Chăm sinh sống ở vùng duyên hải hay không?


Tổ chức xã hội


Tổ chức xã hội của dân cư Champa hoàn toàn khác


biệt nhau vào thời kỳ Ấn Hóa và sau thế kỷ XV. Cũng vào


hai thời kỳ này, hệ thống xã hội người dân sống ở vùng


đồng bằng và ở miền cao không có sự tương đồng rõ rệt.


Vào thời kỳ Ấn Hóa, vùng duyên hải là địa bàn


dân cư của dân tộc Chăm, trong đó số lượng người Chăm


mang dòng máu Ấn Độ qua các cuộc hôn nhân hỗn hợp rất


là ít. Người ta cũng không biết cộng đồng người Chăm thời


đó theo chế độ phụ hệ hay mẫu hệ. Vì rằng một bia ký ghi


bằng hai ngôn ngữ (Phạn và Chăm) tìm thấy tại Mĩ Sơn có


nội dung mâu thuẫn với nhau. Phần viết bằng tiếng Phạn


(Sanskrit) thì nhấn mạnh về vai trò phụ hệ trong triều đại


của vua Harivarman IV, trong khi đó phần viết bằng tiếng


Chăm lại tôn vinh quyền mẫu hệ trong gia đình của ông ta


(L. Finot, “Les inscriptions de Mĩ-sơn XII” trong BEFEO


1904, trg 904, 934-935, 937-938). Sự mâu thuẫn này có thể


phát xuất từ nguyên nhân sau đây. Một khi bia ký Champa


viết bằng Phạn ngữ, thì tác giả của bia ký này phải tôn


trọng truyền thống của Ấn Giáo trong đó dòng dõi vua


chúa của người Ấn Độ đều theo chế độ phụ hệ, trong khi


đó các đoạn văn viết bằng tiếng Chăm thì tác giả này phải


đề cao chế độ mẫu hệ, một hệ thống tổ chức gia đình vẫn


còn tồn tại trong cộng đồng người Chăm tại miền trung


Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XXI này. Cho đến hôm nay,


không ai có thể trả lời cho sự mâu thuẫn này. Theo tấm


bia tìm thấy ở Mĩ Sơn viết bằng tiếng “Chăm cổ”, dân


tộc Chăm vào thời ký đó đã hòa nhập vào hệ thống xã hội


chia thành bốn giai cấp (caste) theo qui luật cha truyền con


nối, nhưng chỉ có một nhóm thiểu số mới có quyền nằm


trong thành phần giai cấp quí phái thượng lưu (BEFEO IV,


1904, trg 948, 950). Giai cấp đầu tiên là những bậc tu sĩ


Bà La Môn (Brahman) mà một bia ký ghi rằng “ không có


tội nào nặng hơn bằng tội giết tu sĩ Brahman” (BEFEO IV,


1904, trg. 925). Gia cấp thứ hai là thành phần thượng lưu


(Ksatriya) thường liên kết với các nhà tu sĩ Brahman để


tạo thành một giai cấp hỗn hợp gọi là Brahman-ksatriya


(BEFEO IV, 1904, trg. 963-964) mà một số người thường


cho rằng đó là giai cấp lãnh đạo tôn giáo và quân sự. Các


giai cấp thượng tầng này cấu thành một tầng lớp lãnh đạo


nắm toàn quyền trong guồng máy chính trị và tôn giáo tại


các tiểu vương quốc hay liên bang Champa. Bia ký cũng


thường nhắc đến vai trò dòng tộc (vamsa), chứ không phải


là bộ tộc (clan) của một số vị hoàng tử lên làm quốc vương


liên bang Champa mà bia ký gọi là “Vua của Vua”


(rajadhiraja). Ba dòng tộc quen thuộc nhất đó là


Narikelavamsa (dòng cây dừa), Kramukavamsa (dòng cây


cau) và Brsuvamsa. Cũng vì các bia ký không bao giờ nhắc


đến tên dòng tộc của các thành phần gia cấp xã hội khác,


thành ra người ta cũng không biết quần chúng bình dân


Champa có một hệ thống dòng tộc hay không, và nếu có


thì họ có mang một tên gọi nào hay không ? Giai cấp thứ


ba là giai cấp vaisya tức là tập thể bao gồm những người


nông dân sinh sống ở miền duyên hải ; những người khai


thác rừng núi của dẫy Trường Sơn ; những người buôn bán


và thành phần chuyên sống về nghề biển như nghề đánh


cá, thương thuyền trên biển Nam Hải và nghề cướp biển.


Giai cấp thứ tư dành cho thành phần dân chúng còn lại gọi


là sudra mà người ta không biết họ là ai, vì bia ký chỉ lưu


ý đến hai giai cấp Brahman và Ksatriya mà thôi. Thêm


vào đó, các tư liệu lịch sử cũng không quên lưu ý rằng dân


tộc Champa thời đó thường hay chống đối lẫn nhau, kéo


theo sự rạn nức giữa người Champa miền nam, đặc biệt là


tiểu vương quốc Panduranga, với những người Champa


miền bắc. Chính vì thế, tấm bia Po Klaung Garai không


ngần ngại ghi rằng những người dân Champa miền nam


“luôn luôn nổi loạn chống lại vua chúa cai trị quốc gia


Champa” (L. Finot, “Panduranga”, trong BEFEO III, 1903,


trg. 643, 645). Bên cạnh những thành phần nằm trong bốn


giai cấp này, các bia ký cũng nói đến sự hiện diện của


hulun, một thuật ngữ mà người ta có thói quen cho đến


hôm nay gán cho nó là người “nô lệ”. Trên thực tế, halun


không ám chỉ cho người “nô lệ” mà là người mất quyền


tự do (non-libre), vì họ phải làm nghề lao dịch để đền bù


cho một vấn đề gì đó, như lao động để trả nợ nần, phục


dịch trong hệ thống tôn giáo, v.v. (L. Finot, BEFEO IV,


1904, trg. 915). Vì rằng, tấm bia Lamngâ tìm thấy ở khu


vực Phan Rang có liệt kê cả “người Tàu”, “người Xiêm”


(Thái Lan) và “người Pukam” (Miến Điện) thuộc vào


thành phần người hulun trong vương quốc Champa thời đó


(L. Finot, BEFEO III, 1903, trg. 634). Cuối cùng, một số tư


liệu còn cho rằng có một số ít người Thượng sinh sống ở


đồng bằng vì chịu ảnh hưởng của người Chăm, tự cho mình


là người nằm trong qui chế halun. Đây chỉ là một giả


thuyết không đáng tin cậy cho lắm.


Trong suốt giai đoạn của Champa Ấn Hóa, người ta


hoàn toàn không biết thế nào là tổ chức xã hội của dân tộc


Tây Nguyên thời đó. Họ chia thành hai sắc dân (ethnies) :


nhóm sử dụng ngôn ngữ thuộc gia đình đa đảo


(austronesien) thì theo chế độ mẫu hệ và nhóm nói tiếng


môn-khmer (austroasiatique) thì theo chế độ phụ hệ.


Những sắc dân nói tiếng đa đảo được gọi chung là ngôn


ngữ Chamic (tức là ngôn ngữ rất gần với tiếng Chăm) có


mối quan hệ rất chặt chẽ với người Chăm. Bằng chứng cụ


thể là một số dân tộc Tây Nguyên đã từng đón tiếp quốc


vương Champa và cả triều đình của ông ta chạy lên cao


nguyên lánh nạn khi thủ đô Vijaya bị lọt vào tay của quân


Mông Cổ vào năm 1283 và 1285. Dân tộc miền cao này


cũng từng tham gia vào cuộc chiến bên cạnh vua chúa


Champa để chống lại quân Mông Cổ đã chiếm đóng vùng


duyên hải của vương quốc này. Liên quan đến một số sắc


dân miền núi không tuân phục uy quyền triều đình


Champa, các bia ký thường gọi họ là Mleccha (người Man,


theo Hán-Việt), tức là tập thể dân tộc còn chậm tiến. Theo


câu chuyện truyền khẩu bình dân vào giữa thế kỷ XX của


sắc dân có tiếng nói môn-khmer kể lại, một số người


Mleccha được xếp vào thể loại nhóm qui hàng, trong lúc


đó một số còn lại không mang một qui chế rõ ràng. Trên


thực tế người ta không biết gì thêm về dân tộc Tây


Nguyên ngoại trừ di tích tôn giáo như tháp Yang Praong


xây dựng tại tỉnh Dak Lak (Ban Mê Thuột) vào giữa thế


kỷ thứ XII. Sự hiện diện của đền tháp này đã xác nhận sự


hòa nhập của một số lượng quan trọng người Randaiy


(Rhadé) vào đời sống của Champa kéo theo sự hòa nhập


của một số sắc dân khác ở miền núi và càng nói lên rõ nét


hơn về vai trò của họ trong cuộc chiến bên cạnh vua chúa


Champa nhằm chống lại quân Mông Cổ vào thế kỷ thứ


XIII.


Sau giai đoạn suy tàn của Champa Ấn Hóa, tức là


vào giữa thế kỷ XV cho đến đầu thế kỷ XIX, tài liệu lịch


sử nói về Champa trở nên chính xác hơn. Những văn bản


này cho biết từ nhiều thế kỷ qua và có lẽ trước thế kỷ thứ


XVI nữa, dân tộc Chăm ở miền trung Việt Nam theo chế


độ mẫu hệ, một qui chế pháp lý trong đó người đàn bà


nắm toàn quyền trong mọi sinh hoạt và phân chia tài sản


của gia đình. Cho đến biến cố chính trị vào năm 1975, dân


tộc Chăm vẫn tiếp tục duy trì chế độ mẫu hệ và mẫu cư,


tức là qui luật buộc người con trai phải ra khỏi vòng phát


triển kinh tế của gia đình mà họ đã xuất thân để về sống


chung với người vợ của mình (P-B. Lafont, “Contribution à


l’étude des structures socials des chàm du Viet nam”,


trong BEFEO LII-1, 1964, trg. 157-171). Đối với người


Chăm định cư tại Campuchia, việc theo đạo Islam của họ


đã làm biến đổi đi mọi cơ cấu tổ chức xã hội Chăm truyền


thống, bắt buộc họ phải từ bỏ chế độ mẫu hệ để thay vào


đó hệ thống tổ chức xã hội theo chế độ phụ hệ, tức là qui


chế dành cho người đàn ông có nhiều ưu quyền hơn phù


hợp với các giáo điều của kinh Koran.


Ai cũng biết, sự suy tàn của Champa Ấn Hóa đã


làm sụp đổ đi chế độ giai cấp trong vương quốc này. Kể từ


đó, tiểu vương quốc Panduranga ở miền nam chỉ còn duy


trì hai tầng lớp xã hội mà thôi. Tầng lớp thứ nhất mang


trên là “thar patao bamao mâh”, tức giai cấp quí tộc, bao


gồm các bậc vua chúa, các thành viên trong gia đình


hoàng gia và những người thân thuộc của vua chúa cũng


như các giới quan chức cao cấp trong triều đình. Tầng lớp


còn lại gọi là “bal li-ua hua hawei” tức là người thường


dân chia làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm những


người đàn ông và phụ nữ có qui chế của công dân bình


thường (homme libre), như người nông dân, người làm


công (kể cả người làm công bị bốc lột và cưỡng ép), người


buôn bán và người sống về nghề biển. Nhóm thứ hai là


những người công dân mất quyền tự do (non-libre), tức là


người tự tình nguyện hay bị bó buộc để làm công cho


người khác hầu trả món nợ của mình. Nhóm thứ ba là


halun, tức là nhóm người làm tôi tớ mà ông chủ có thể bán


nhượng cho người khác nếu cần, nhưng họ có quyền hủy


bỏ qui chế halun này để trở thành công dân bình thường


nếu họ có phương tiện để trả món nợ của mình (Inventaire


des archives du Panduranga du Fonds de la Société


Asiatique de Paris, Pièces en caractères chinois, Paris,


Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule


Indochinoise, 1984, trg. 34, 48). Giai cấp xã hội quí tộc và


thường dân này do gia đình mẫu hệ truyền lại và không


ngừng đóng một vai trò quan trọng trong cấu trúc xã hội


của người Chăm hôm nay, nhất là Chăm Jat hay Chăm


Ahiér (ảnh huởng Bà La Môn giáo). Theo thông lệ, người


Chăm thường dành ưu đãi cho những hôn nhân giữa người


cùng chung một giai cấp và rất hạn chế cho sự kết hôn


giữa các cô gái thuộc giai cấp thường dân và các chàng


trai thuộc giai cấp quí tộc, bởi vì dòng máu của mẹ mới là


yếu tố để quyết định nguồn gốc dòng tộc của mình trong


chế độ mẫu hệ.


Sau thế kỷ thứ XV, nhiều công trình nghiên cứu


cho thấy rằng xã hội của dân tộc Tây Nguyên chia thành


bộ lạc có các tên gọi riêng, nhưng không có mối liên đới


với nhau về dòng tộc gia đình (F. M. Lebar, G. C. Hickey,


J. K. Musgrave, Ethnic Groups of Mainland Southeast Asia,


New haven, HRAF Press, 1964, trg. 135-158, 249-255).


Cho đến thế kỷ thứ XXI, các công trình này cũng nêu ra


kết quả rằng sự hình thành của các bộ lạc chỉ là kết quả


của các cuộc kếp nạp những làng mạc chấp nhận liên


minh với nhau hay các làng mạc bị thua trận. Chính vì thế,


một số thành viên trong một bộ lạc không hề quen biết


nhau và cũng không mang một ý thức hệ đoàn kết với


nhau rõ ràng. Hơn nữa các mối tương quan giữa các làng


mạc thường dựa vào mối liên hệ của các cuộc hôn nhân


qua lại thường xảy ra trong một một khu vực rất là eo hẹp.


Từ thế kỷ thứ XVI, xã hội của dân tộc Tây Nguyên chia


thành 2 thể chế rõ ràng. Các sắc dân Jarai, Êđê, Churu,


Raglai, Hroi thuộc gia đình ngôn ngữ đa đảo


(austronesien) thì theo chế độ mẫu hệ. Nhóm người còn


lại (austroasiatique) theo chế độ phụ hệ. Bên cạnh đó, một


vài gia đình của dân tộc Tây Nguyên thường liên kết với


nhau qua các cuộc hôn nhân giữa hai thị tộc (clan) khác


nhau. Trong trường hợp này, mỗi thành viên theo chế độ


mẫu hệ thì mang tên thị tộc phụ mẫu của mình và những ai


theo chế độ phụ hệ thì do phái nam truyền lại. Thị tộc


(clan) tức là tập thể có cùng chung một tổ tông, ngăn cấm


những thành viên trong thị tộc này kết hôn với nhau.


Những cặp vợ chồng được phép lấy nhau tức là những


người phát xuất từ hai thị tộc khác nhau. Vào giữa các thế


kỷ XVII và XIX, dân tộc Tây Nguyên, đặc biệt là những


người sử dụng ngôn ngữ thuộc gia đình đa đảo


(austronesien) và theo chế độ mẫu hệ, thường có các mối


quan hệ rất chặt chẽ với người Chăm và hòa nhập với họ.


Các văn bản viết bằng Chăm ngữ cho biết một trong số


phu nhân của vua Po Romé (1627-1651) là người gốc Êđê


(CM 41-4; CAM micro- film 1-3) và sau khi vương quốc


Champa-Panduranga (Trấn Thuận Thành) bị xóa bỏ trên


bản đồ vào năm 1832, lãnh tụ của phong trào kháng chiến


chống triều đình Huế vào năm 1834-1835 đã chọn một


người gốc Raglai có vợ là công chúa gốc dân tộc Chăm,


lên làm vua Champa để phục hưng lại nền độc lập của


vương quốc này (CM 24-5; CM 32-6; Đại Nam Thực Lục


Chính Biên XVI, Bản dịch quốc ngữ, Hanoi, 1962, trg.


197). Các tài liệu viết bằng Chăm ngữ vào thế kỷ XVII và


XVIII còn cho thấy có nhiều người miền núi đã từng giữ


nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình Champa. Điều


này đã chứng minh rằng vào thời kỳ đó có một sự liên kết


chặt chẽ giữa người Chăm và người miền núi và hai tập


thể chủng tộc này đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau


trong vương quốc Champa. Mối quan hệ hài hòa này vẫn


tiếp tục cho đến năm 1835, khi vua Minh Mệnh ra lệnh


ngăn cấm mọi tiếp xúc giữa người người Chăm sống ở


đồng bằng với dân tộc sống ở miền cao. Kể từ đó mới có


sự chia cách rõ rệt giữa các sắc dân trong một vương quốc


Champa đã suy tàn.


Tín ngưỡng


Từ lúc hình thành quốc gia cho đến ngày sụp đổ


thủ đô Vijaya vào năm 1471, vương quốc Champa không


ngừng vây mượn những yếu tố tín ngưỡng của Ấn Độ để


xây dựng hệ thống tôn giáo của mình. Hoàn toàn trái


ngược lại với những gì mà một số nhà nghiên cứu đã hiểu


lầm, các nghi thức Ấn Giáo này chỉ dành riêng cho các


thành phần quí tộc và giai cấp thượng lưu Champa mà


thôi. Vì rằng các tầng lớp thần dân thông thường vẫn tiếp


tục duy trì tín ngưỡng địa phương của họ đã có sẵn trước


thời kỳ Ấn Hóa. Mặc dù chấp nhận một số ảnh hưởng của


Ấn Giáo, nhưng tầng lớp nhân dân thông thường này


không ngừng cải biến một số yếu tố của Ấn Giáo trở thành


hệ thống tín ngưỡng bản địa của mình.


Trong suốt mười hai thế kỷ, các giai cấp quí tộc và


thượng lưu Champa thường thực hiện hai nghi lễ Ấn Giáo


rất là rõ rệt: Nghi thức tín ngưỡng hoàng gia và tục tôn thờ


cá nhân. Nghi thức tín ngưỡng hoàng gia là nghi lễ mang


tính cách quốc gia thường diễn ra trong thánh địa của Mĩ


Sơn, vốn là trung tâm tôn giáo của vương quốc này. Trong


suốt thời kỳ Ấn Hóa, tục thờ đấng Shiva được xem như vị


thần quan trọng nhất, cấu thành một hệ thống tín ngưỡng


của Champa thời đó. Việc tôn thờ thần Shiva thường gắn


liền với sự thờ cúng phu nhân (Sakti) của ngài, tức là vị nữ


thần được tôn vinh thành thánh mẫu của vương quốc


Champa. Tôn thờ đấng Shiva đã trở thành một nghi lễ


quan trọng nhất trong vương quốc Champa so với việc thờ


cúng những vị thần khác như Brahma và Vishnu của Ấn


Giáo được tổ chức tại quốc gia này (L. Finot, “Inscription


de My-sơn”, trong BEFEO II, 1902, trg. 190). Các bia ký


cũng như các hình tượng thần linh còn lưu lại đã xác nhận


điều đó. Trong suốt thời kỳ Champa Ấn Hóa, thần Shiva


thường biểu tượng qua một bức tượng có thân thể như con


người với con mắt thứ ba nằm ngay trên trán, có hai hay


nhiều cánh tay cầm các lễ vật, thông thường là có sợi dây


buộc của Brahman (cordon brahmanique). Thần Shiva còn


biểu tượng qua hình dạng của Linga, tức là một bức tượng


hình trụ có mũ chỏm hình bán cầu giống như tượng dương


vật, có phần chạm trổ giản dị hay cầu kỳ. Tượng Linga đôi


lúc đứng riêng rẻ một mình nhưng hầu hết thường kết liền


trên một cái chậu dùng tẩy thể (cuve! ! ablution). Mỗi


Linga thường mang một tên gọi riêng. Một số tượng Linga


nằm trong thánh địa Mĩ Sơn thường biểu tượng cho một


triều đại, hoặc nói theo ngôn từ hiện đại hơn, tượng trưng


cho một “quốc gia”, như tượng Linga mang tên


Bhadresvara, tức là biểu tượng của nhà vua Bhadravarman


I và vương quốc Champa.


Phu nhân (Sakti) của Shiva cũng đóng một vai trò


quan trọng trong tín ngưỡng của Champa. Vị nữ thần này


thường được trình bày dưới hình thể con người hoặc đơn


độc hoặc ngồi trên lưng của Nandin, tức là con bò dùng


làm phương tiện di chuyển của Shiva. Phu nhân của thần


Siva thường được tôn thờ qua nhiều tên gọi khác nhau, đặc


biệt nhất là nữ thần mang tên Bhagavati ở miền nam của


Champa. Cho đến thế kỷ thứ X, tên nữ thần này thường


dính liền với việc thờ cúng Po Nagar ở Nha Trang, tức là


“Bà Chúa Nữ Thần” (Maitre de la Déesse), sau này trở


thành vị nữ thần được tôn vinh nhất ở miền nam Champa


dưới danh nghĩa là Yang Po Nagara (Thánh mẫu của


vương quốc). Sau thế kỷ thứ X, nữ thần Yang Po Nagara


thường sát nhập vào việc thờ cúng vị nam thần


Bhadresvara của đền Mĩ Sơn mà mục đích là dựa vào sự


hòa đồng của tín ngưỡng để tăng cường việc thống nhất


hai miền bắc nam của Champa.


Riêng về tục thờ cá nhân, các nghi lễ này thường


được tổ chức bởi các vua chúa, các vị hoàng tử và các giới


chức cao cấp trong triều đình. Những nghi lễ này chỉ mang


một tầm quan trọng tương đối mà thôi, mặc dù các bia ký


không ngừng nhắc đến. Một số nghi lễ tôn thờ cá nhân


thường dành riêng cho nam thần Vishnu, nhất là vào các


thế kỷ VII-VIII (E. Huber, “ Études Indochinoises. IX


Trois nouvelles inscriptions du roi Prakacadharma du


Campa : L’inscription de Đương Mong” trong BEFEO


1911, trg. 262). Và nghi lễ này cũng thường áp dụng cho


nữ thần Laksmi, tức là phu nhân của Vishnu mà các tài


liệu thường nhắc đến vào thế kỷ VIII và XIV. Người ta


cũng không quên tôn thờ nam thần Brahma, mặc dù không


thường xuyên cho lắm và một số vị thần linh khác mà bia


ký thường nêu ra. Nhưng nội dung của các lễ nghi này


thường mang tính cách văn chương tín ngưỡng hơn là nghi


lễ tôn giáo. Trong số các tục thờ cá nhân này, nghi lễ dành


cho môn phái Phật Giáo cũng chiếm một vị trí rất là quan


trọng vào một số thời kỳ, đặc biệt nhất là vào cuối thế kỷ


thứ IX dưới triều đại của Indravarman II, tức là vị vua


Champa đã dành một ưu đãi đặc biệt cho Phật Giáo đại


thừa (mahayana) và rất tôn sùng Avalokitesvara, một vị


Bồ Tát rất được tôn kính tại vương quốc này. Indravarman


II là người đã xây dựng tại Đồng Dương, phía nam Trà


Kiệu, một thánh địa Phật Giáo lớn nhất để thờ phượng đức


Laksmindra-Lokesvara mà H. Parmentier đã viết một số


bài nghiên cứu, thiết kế họa đồ về thánh địa này cũng như


kiểm kê lại những di tích và tượng Phật đã tìm thấy trong


quần thể hình chữ nhật tại Đồng Dương, để đăng tải trong


tác phẩm L’Inventaire archeologique de l’Indochine. II


Monuments cam de l’Annam (Paris, Leroux, 1909-1918).


Phật Giáo đại thừa (mahayana) là hệ thống tín ngưỡng đã


từng giữ một vai trò ưu thế tại Champa cho đến năm 914,


tức là năm đánh dấu cho sự biến mất bia ký Phật Giáo tại


vương quốc này. Điều này không có nghĩa là tín ngưỡng


Phật Giáo bị suy sụp hẳn, vì các tượng bằng đồng và một


số bảo vật Phật Giáo vẫn tiếp tục xuất hiện vào thế kỷ X


và XI. Chính đó là dữ kiện đã chứng minh rằng Phật Giáo


vẫn còn hiện hữu tại Champa cho đến thế kỷ thứ XI.


Bên cạnh những nghi lễ mà chúng tôi vừa đề cập


đến, các vua chúa Champa cũng xây dựng nhiều điện thờ


tôn giáo quan trọng trong suốt thời kỳ Ấn Hóa, đặc biệt tại


thánh địa Mĩ Sơn và Po Nagar ở Nha trang, nhằm tôn vinh


các vị thần linh và dâng lời kính cẩn đến bậc tiền nhân


hiển thánh với niềm hy vọng là các vị vô hình này sẽ đem


lại sự an bình cho vương quốc và triều đại của họ. Nối gót


những công trình xây dựng do vua chúa Champa đã thực


hiện, các hoàng tử và quan chức cao cấp trong triều đình


cũng từng góp phần vào chương trình thiết kế các điện thờ


hoặc dâng tặng cho các đền tháp những tượng Linga mà


một số có vàng bao bọc bên ngoài để thờ cúng đấng


Shiva. Đối với các vị hoàng tử, cử chỉ dâng tặng Linga cho


đền tháp thường nhắm vào mục tiêu nhằm tôn vinh dòng


tộc quí phái của họ. Đối với quan chức cao cấp trong triều


đình, đây là hành động nhằm biểu dương vị trí và quyền


lực của họ trong xã hội. Ngoài ra, các bia ký thường ghi


rằng vua chúa và dòng quí tộc Champa cũng thường trợ


cấp cho các đền tháp nhiều đất đai canh tác, gia súc, người


phục dịch, gạo thóc, vàng bạc, v.v. Số lượng hiện vật này


thường vượt quá mức đã làm hao mòn đi một phần tài


nguyên của quốc gia Champa thời đó (E. Huber, BEFEO


XI,1911, trg. 19-20).


Ấn Giáo thể hiện qua các nghi lễ hoàng gia


Champa chỉ là tín ngưỡng dành riêng cho tầng lớp quí tộc.


Một khi các giai cấp quí tộc nắm giữ quyền hành bị tiêu


diệt trong cuộc viễn chinh của Đại Việt vào thế kỷ thứ


XV, người ta nhận thấy rằng truyền thống Ấn Giáo mà


triều đình Champa thường dựa vào đó từ ngày lập quốc để


làm nền móng cho tổ chức quốc gia của mình cũng biến


mất. Cùng trong thời điểm đó, khu vực miền nam của


Champa (tức là Panduranga và Kauthara) chưa bị rơi vào


nền đô hộ của Đại Việt, tìm cách xây dựng cho mình một


quốc gia hoàn toàn mới mẻ và một hệ thống tín ngưỡng


mang nhiều yếu tố tiến hóa hầu giúp nhân dân Champa


không phân biệt giai cấp đều có quyền gia nhập và tham


gia.


Mô hình tôn giáo vừa mới ra đời sau năm 1471


thường thể hiện qua đức tin vào các đấng vô hình gọi là


yang. Theo triết lý của tín ngưỡng này, thần linh là tập thể


siêu hình lúc nào cũng “hiện diện bên cạnh vạn vật và


nhân loại” bất cứ nơi nào trên lãnh thổ của Kauthara và


Panduranga (CM 35 -14). Chính vì thế, tục thờ thần linh


thường nhắm vào mục tiêu nhằm nâng cao sự che chở của


thần linh hay lánh xa những sự trừng phạt của các vị vô


hình này. Đây chỉ là tín ngưỡng của “những người dân bản


địa Đông dương” đã có sẵn trước ngày du nhập của Ấn


Giáo và tiếp tục tồn tại như những lễ nghi dân gian trong


suốt thời kỳ Ấn Hóa, mặc dù triều đình Champa không


công nhận nó như tín ngưỡng chính thức của quốc gia này


(P. Mus, “L’Inde vue de l’Est. Cultes indiens et indigenes


au Champa”, trong BEFEO XXXIII, 1933, trg. 367, 374).


Sau ngày hợp thức hóa tục thờ thần linh bởi các giới lãnh


đạo tôn giáo và chính trị ở miền nam Champa (CAM 104 :


4-5), tục thờ thần linh này dường như phát triển dần dần


thành một hệ thống tín ngưỡng trong đó các nhân vật vô


hình quan trọng nhất trở thành các đấng thần linh có đủ


quyền lực nhằm can thiệp một cách trực tiếp vào đời sống


của con người. Điều này đã giải thích rằng tại sao người ta


phải quan tâm rất nhiều đến các thần linh bảo vệ các


mương đập và những nghi lễ dành cho các vị thần này.


Miền nam Champa là khu vực có khí hậu rất khô


cằn. Chỉ có các bậc thần linh mới có đủ quyền lực trên hệ


thống dẫn thủy nhập điền và mang lại mùa màng trù phú


hầu nuôi sống người dân. Chính vì thế, các bậc vô hình có


trách nhiệm bảo tồn mương đập thường giữ một vị trí hàng


đầu trong danh sách phong thần của vương quốc này. Đó


cũng là nguyên nhân để giải thích rằng bên cạnh các lễ tế


gia súc (dê và gà) thường diễn ra vào tháng giêng và


tháng bảy của lịch Chăm, người ta còn làm lễ tế một con


trâu hằng năm dành cho thần linh bảo vệ mương đập nằm


trong khu vực Phan Rang (CAM 22-4). Và cứ bảy năm một


lần, người ta còn tiến hành một đại lễ long trọng hơn gọi


là lễ tế con trâu bạch tạng (CAM 30-13).


Bên cạnh tục thờ các vị thần linh mang tính cách


địa phương cấu thành một hệ thống tín ngưỡng rất là phổ


biến trong quần chúng dân gian của miền nam Champa,


người ta còn thấy xuất hiện một thể loại tín ngưỡng mới


nữa, đó là tục thờ cúng các tượng thần linh Ấn Giáo không


bị tàn phá trước cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt. Trước


thế kỷ thứ XV, mỗi bức tượng đều mang tên của vị nam


thần hay nữ thần mà nó biểu tượng. Nhưng sau thế kỷ thứ


XV, qui chế tín ngưỡng này không còn tồn tại nữa. Hầu


hết quần chúng dân gian ở miền nam Champa không quen


thuộc cho lắm với các lễ nghi hoàng gia do giai cấp quí tộc


Champa thường tổ chức nhằm vinh danh tam thần


(Brahma, Vishnu và Siva) hay tôn thờ một số thần linh


khác nằm trong hệ thống Ấn Giáo. Và dân chúng miền


nam Champa cũng không biết tên tuổi, chân dung và


nguồn gốc lai lịch của các vị thần Ấn Giáo cấu thành biểu


tượng của bức tượng này. Mặc dù vẫn biết những bức


tượng đó thường tượng trưng cho các đấng siêu hình và


thiêng liêng dưới thời Ấn Hóa, nhưng dân tộc Chăm ở


miền nam Champa vẫn tìm cách nhân cách hóa những


hiện vật này thành những vị thần linh hoàn toàn mang


phong cách địa phương của họ. Chính vì thế, họ thường


gán cho bức tượng Ấn Giáo một tên gọi của các vị thần


linh địa phương Panduranga-Kauthara hay tên gọi của


những nhân vật mang tính cách huyền thoại hay những


nhân vật có thật trong lịch sử mang nhiều đức tính xuất


chúng và đã từng đóng góp công lao nhằm bảo vệ cho


nhân dân miền nam của vương quốc này. Vào thế kỷ XIX


và XX, một số nhà nghiên cứu cho rằng việc thờ cúng các


tượng thần này chỉ là sự tiếp nối của các tập tục tín


ngưỡng Champa dưới thời ký Ấn Hóa. Kể từ đó, họ thường


gọi những người Chăm thực hiện việc thờ cúng các tượng


thần Ấn Giáo là “Chăm Bà La Môn”. Đây là giả thuyết


hoàn toàn sai lầm. Vì rằng dân tộc Champa ở miền nam


không tôn thờ đấng Siva hay những vị thần linh Ấn Giáo


trong nghĩa rộng của nó, mà ngược lại họ chỉ tôn thờ các


bậc thần linh địa phương của họ qua các tượng vật mang


phong cách thần linh Ấn Giáo mà thôi. Đây là 2 thí dụ


điển hình nhất:


 Bức tượng của Po Inâ Nagar (Bà Chúa Xứ) tại đền


Nha Trang là vị nữ thần Ấn Giáo mang tên là Bhagavati


(phu nhân của đấng Shiva) xây dựng vào thế kỷ X và thứ


XI. Tuy nhiên, người Chăm hôm nay chỉ xem như một vị


nữ thần sinh ra từ bọt nước biển và các từng mây, có chức


năng tạo ra vũ trụ và được tôn vinh như một vị thần quan


trọng nhất tại miền nam Champa (CAM 57-3). Mặc dù


người Chăm hằng năm thường đến dâng hiến các lễ vật


cho Po Inâ Nagar, nhưng họ cũng không biết thế nào là lai


lịch và tên tuổi thật sự của vị nữ thần Ấn Giáo này. Bức


tượng của Po Klaung Garai (CAM microfilm 15-5) là thí


dụ điển hình thứ hai. Theo tài liệu viết bằng tiếng Chăm,


Po Klaung Garai là vị vua huyền thoại đã dạy cho dân tộc


này phương cách xây dựng đập nước, dẫn thủy nhập điền,


được xếp vào nhân vật hàng đầu trong danh sách thần linh


của miền nam Champa. Nhưng trên thực tế, Po Klaung


Garai chỉ một Mukhalinga (tượng có khuôn mặt con người)


của đấng Shiva nằm trong hệ thống Ấn Giáo mà người


Chăm không cần biết đến. Những thí dụ khác có nguồn


gốc tương tự như bức tượng Shiva trong đền Po Rome


(1625-1651) mà người Chăm cho đó là tượng của vua Po


Rome (CAM 152-7) tức là vị lãnh tụ thật sự của vương


quốc Champa miền nam đã có công thống nhất lại ý thức


hệ đoàn kết giữa hai cộng đồng Chăm Ahier (tạm gọi là


Bà La Môn) và Chăm Awal (Hồi Giáo không chính


thống). Người ta cũng không quên nhắc đến một thí dụ


khác nữa đó là tượng thần Shiva liên kết với chậu tẩy thể


được thờ phượng trong một cái đền tại Phan Rí mà dân tộc


Chăm cho đó là bức tượng của vua Po Nraup (1652-1653).


Thêm vào đó, quần chúng Chăm thường cho rằng tất cả


những tượng thần Nandin (bò thần), Ganesa (thần có đầu


voi), Makara (thần biển) hay một số tượng mang phong


cách Ấn Giáo được tìm thấy từ lòng đất ở miền nam


Champa đều là tượng thần địa phương của dân tộc này, bởi


vì người Chăm tin rằng những bảo vật này mọc từ dưới đất


lên.


Dưới thời Ấn Hóa, mọi nghi lễ trong triều đình


Champa thường đòi hỏi có sự hiện diện của những vị tu sĩ


Brahman. Chính vì thế, những đại lễ tại miền nam


Champa nhằm vinh danh các thần linh địa phương thường


đặt dưới quyền chủ trì của các chức sắc tôn giáo Chăm


Ahier, như Po Adhia và Ong Basaih có sự hiện diện của


Ong Camnei (phụ trách bảo tồn lễ vật), Ong Kadhar (phụ


trách về âm nhạc và bài xướng ca) và một số chức sắc phụ


thuộc khác trợ giúp. Trong các nghi lễ này, tất cả chức sắc


Chăm Ahier đều mặc những loại lễ phục rất là đặc biệt


mà người ta có thể tìm thấy trong tác phẩm Busana Campa


= Các trang phục Champa xuất bản tại Kuala Lumpur


(Muzium dan Antikuiti & EFEO, 1998).


Vào khoảng cuối thế kỷ XVI, một số tín đồ Chăm


Ahier bắt đầu tiếp thu ảnh hưởng văn hóa Hồi Giáo qua


trung gian của các nhà thương thuyền Mã Lai và Ả Rập


thường ghé qua các bờ biển Champa, kéo theo sự ra đời


của một cộng đồng Chăm Awal còn gọi là Chăm Bani (tức


là Chăm theo Hồi Giáo không chính thống) tại Panduranga


và có thể cả khu vực Kauthara xưa kia (P-Y. Manguin,


“L’introduction de l’islam au Campa” trong BEFEO


LXVI,1979, trg. 255-287). Nhưng người ta vẫn còn đưa ra


bao nghi vấn có chăng vương quốc Champa thời đó đã


theo Hồi Giáo thật sự? Câu trả lời chắc chắn là không. Vì


rằng người Chăm vào thời kỳ đó chỉ tiếp nhận vào tín


ngưỡng bản địa của mình một số chương mục của kinh


thánh Koran mà đa số các bản văn đều viết bằng ngôn


ngữ Chăm pha lẫn với ngôn ngữ Ả Rập đầy lỗi chính tả.


Ngoài ra, người ta còn thấy Đấng Allah xuất hiện trong


văn chương Chăm không mang một ý nghĩa như là Thượng


Đế duy nhất theo nghĩa rộng trong giáo lý của Hồi Giáo


mà chỉ là một Đấng siêu hình đứng hàng đầu trong danh


sách thần linh quan trọng của người Chăm ở Panduranga


mà thôi. Thêm vào đó người Chăm Bani này chỉ thực hiện


một số giáo điều cơ bản của Hồi Giáo mà thôi, chẳng hạn


như việc bố thí (zakat) mà ý nghĩa của nó không còn


nguyên thủy nữa. Họ không thi hành lễ nguyện 5 lần trong


một ngày. Lễ nhịn chay vào tháng Ramadan chỉ dành cho


các vị Imam và các tăng lữ. Lễ cắt bì (circoncision) cho


phái nam của họ chỉ là một nghi thức tượng trưng. Họ cũng


không thi hành việc hành hương tại Makkah ở vùng Trung


Đông, vì sự hiện diện của họ sẽ làm mất đi bản tính thiêng


liêng của thánh địa này. Mặc dù tự nhận mình là Chăm


Bani (Bani là tiếng Ả Rập, có nghĩa các đứa con) theo Hồi


Giáo, nhưng họ vẫn tiếp tục duy trì chế độ mẫu hệ và mẫu


cư, một qui chế tổ chức gia đình và xã hội hoàn toàn đi


ngược lại với phong tục của Hồi Giáo. Thêm vào đó,


không ai có thể nhập đạo Hồi Giáo của người Chăm Bani,


nếu thân mẫu của họ không phải là Chăm Bani (CAM


microfilm 6-2). Cuối cùng, người Chăm Awal là một cộng


đồng có một tín ngưỡng riêng nhưng lúc nào cũng sống


liên kết chặt chẽ với người Chăm Ahier, tức là Chăm Ba


La Môn chấp nhận Po Auluah (Allah) như đấng tạo hóa


địa phương của họ. Người Chăm Awal cũng thường tham


gia trong các nghi lễ riêng của Chăm Ahier, mặc dù nghi


lễ này không liên hệ gì với giáo lý của Islam. Vào dịp lễ


múa rija (CAM 27-30) hoặc các lễ tế thần nông, các vị


chức sắc Chăm Bani như Po Gru, Imam và Katib đều có


mặt trong các lễ tục này bên cạnh các chức sắc Chăm


Ahier.


Hoàn toàn khác biệt với cộng đồng Chăm Bani ở


miền trung Việt Nam, hầu hết người Chăm sinh sống tại


Campuchia đều theo Hồi Giáo chính thống, ngoại trừ một


vài thôn xóm lẻ loi còn theo phong tục tập quán Chăm


Bani. Họ tôn trọng đúng mức thực hiện 5 lễ nguyện trong


một ngày như giáo điều của Islam, tuân lệnh gắt gao


những điều cấm kỵ trong tín ngưỡng này và các nghĩa vụ


khác của giáo phái Hồi Giáo Sunni. Sự gia nhập Islam của


người Chăm tại Campuchia phát xuất từ mối quan hệ chặt


chẽ với người Mã Lai sinh sống tại vương quốc này, vốn là


cộng đồng đã đóng góp tích cực vào việc truyền bá tín


ngưỡng Hồi Giáo vào vương quốc Champa kể từ thế kỷ


thứ XVI. Thêm vào đó, người Mã Lai cũng không ngừng


khuyến khích cộng đồng Chăm Campuchia nên học hỏi


giáo lý với các Ulama (chuyên gia về luật Hồi Giáo) tại


Kelantan và Terengganu (hai tiểu bang của Mã Lai) để


gia tăng đức tin của họ. Điều này cấu thành yếu tố để giải


thích rằng tại sao người Chăm Campuchia đã từng trải qua


từ mấy chục năm qua, dưới bao áp lực của một số phong


trào cải cách Islam có địa bàn hoạt động trong khu vực


Đông Nam Á.


Khu vực Tây Nguyên ở miền trung Việt Nam là nơi


mà người ta tìm thấy một số hiện vật và đền tháp Champa.


Điều này đã chứng minh rằng tại vùng cao của Champa


thời đó cũng có những tập tục tín ngưỡng Ấn Giáo, rất gần


gũi với văn hóa ở vùng đồng bằng ven biển của vương


quốc này. Tấm bia viết bằng Phạn Ngữ ở Klon Klor gần


Kontum đã xác nhận sự hiện diện của Ấn Giáo trên khu


vực Tây Nguyên, mặc dù bia kí này chỉ nhắc đến một


nhân vật mang tên là Mahindravarman và cũng không cho


biết ai là người sáng tác các bia ký Phạn ngữ nằm trong


lòng chảo của sông Ba, thuộc tỉnh Gia Lai. Chính vì thế


người ta thường nêu ra bao câu hỏi có chăng tác giả của


bia ký này là người Tây Nguyên mang ảnh hưởng văn hóa


Chăm hay họ là người Chăm từ vùng đồng bằng sang định


cư trên miền cao của Champa vào những thời kỳ đó.


Ai cũng biết, vào các thế kỷ XVIII, XIX và XX,


Tây Nguyên vẫn là khu vực có một nguồn gốc tín ngưỡng


bản địa riêng biệt. Đối với dân tộc này, vũ trụ là một


không gian hoàn toàn nằm trong tay của đấng vô hình, của


các bậc thần linh và vong linh mà dân tộc bản địa Tây


Nguyên phải tôn vinh và qui phục hay tìm cách lánh xa


những sự hung ác của nó (J. Boulbet, Pays des Maa,


Domaine des genies, Nggar Maa, Nggar Yang, Paris,


Publications de EFEO, vol. LXII, 1967). Họ tin rằng


phương cách hữu hiệu nhất để đạt được lòng tin của thế


giới vô hình là tổ chức những nghi lễ tế vật nhằm tôn vinh


các bậc thần linh kèm theo lời khấn nguyện của một trong


các người tham dự. Điều này đã giải thích nguyên nhân sự


ra đời của nhiều lễ tế trên khu vực Tây Nguyên cho đến


khi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đưa ra chiến


dịch chống phá mê tín dị đoan bằng cách ngăn cấm các


tập tục này vào cuối thế kỷ XX.


Văn hóa


Các bia ký viết bằng Phạn ngữ hay Chăm ngữ cổ là


nguồn tư liệu duy nhất cung cấp những tin tức về Champa


vào thời kỳ Ấn Hóa. Tiếc rằng những nguồn tư liệu này


chỉ ghi lại những gì đã xảy ra trong triều đình và giai cấp


lãnh đạo, không bao giờ đề cập đến thực trạng văn hóa và


xã hội của đại đa số quần chúng sống ven biển hay trên


cao nguyên.


Giống như tất cả các xã hội khác dưới thời Ấn Hóa,


tín ngưỡng trở thành một chủ đề luôn luôn ngự trị trong


cuộc sống của giai cấp lãnh đạo Champa cho đến thế kỷ


XV. Một phần do sự tác động của Ấn Giáo trong mọi sinh


hoạt của xã hội và phần khác do các giai cấp quí tộc


Champa không ngừng vay mượn từ quan niệm về vũ trụ


của Ấn Giáo cho đến nội dung văn chương Phạn ngữ để


làm yếu tố cho nền văn minh của mình.


Bia ký là văn bản chính thức biểu tượng cho bức


tranh văn hóa của tầng lớp quí phái Champa mà nội dung


chỉ nhằm tôn vinh những ai có sự hiểu biết sâu đậm về


văn chương Phạn ngữ, thấu triệt văn phạm của Panini (nhà


ngữ pháp Ấn Độ) và am tường về tác phẩm Mahabhasya


(bình luận ngữ pháp), cấu thành chủ đề rất được yêu


chuộng trong các giới ưu tú Champa cho đến thế kỷ XII,


tức thời kỳ đánh dấu cho sự ra đời của một số bài thơ Phạn


ngữ do vua Jaya Harivarman I sáng tạo và sự xuất hiện


của một biên niên sử viết bằng Phạn ngữ theo thể văn vần


(sloka) mang tựa đề Arthapuranasastra (L. Finot, “ Les


inscriptions de Mĩ-sơn” trong BEFEO IV, 1904 trg. 963-


964). Bức tranh văn hóa này còn nhắm vào mục tiêu nhằm


phát triển sự hiểu biết về thơ văn cổ điển của Ấn Giáo,


nhất là sử thi (épopée) mang tên Mahabharata và


Ramayana rất được phổ biến trong triều đình Champa thời


đó. Bằng chứng cụ thể đó là nhiều tác giả của bia ký


Champa thường lập đi lập lại một số đoạn văn trích từ tác


phẩm của hai sử thi này. Một số bia ký khác vào thế kỷ


thứ VII còn tôn vinh một số tác giả Champa đã có công


sáng tác sử thi dựa vào nội dung của tác phẩm Ramayana


(P. Mus, L’inscription à Valmiki de Prakacadharma (Trà


kiệu)” trong BEFEO XXVIII, 1928, trg.147-152). Tất cả


những sự ngưỡng mộ này thường mang yếu tố phổ biến


văn chương Ấn Giáo hơn là truyền bá giáo lý của Ấn


Giáo.


Đối với giai cấp lãnh đạo Champa thời đó, nền văn


học uyên bác đòi hỏi ưu tiên việc thấu triệt nội dung của


Dharmasastra (tác phẩm luật học) mà vương quốc Champa


thường dựa vào đó để xây dựng hệ thống pháp lý của


mình, chưa nói đến sự hiểu biết về văn chương kỹ thuật


(nghi thức của các lễ tục) và khoa học siêu hình (science


magique) của Ấn Giáo (E. Huber, “L’épigraphie de la


dynastie de Đồng-dương”, trong BEFEO XI, 1911, trg.


291, 296 và 303-309). Một yếu tố quan trọng khác của nền


văn học uyên bác này đó là thiên văn học cấu thành một


chủ đề dành cho các nhà chuyên môn, nhất là tu sĩ


Brahman. Thiên văn học là một khoa học rất cần thiết cho


việc tính toán thời gian và thiết kế niên lịch Champa, tức


là lịch âm-dương hỗn hợp (année luni-solaire) pha lẫn với


lịch Saka của Ấn Giáo, bắt đầu sau lịch Công Nguyên vào


năm thứ 78. Lịch Champa thường mang tính chất vừa tín


ngưỡng vừa siêu hình, mà người ta dựa vào đó để qui định


các ngày tháng của các lễ nghi và nhất là thiết lập danh


sách các ngày kỵ trong một năm, như ngày may mắn, ngày


rủi ro, ngày vô can, v.v., cấu thành yếu tố chi phối trực


tiếp vào nhịp sống và cung cách sử lý hằng ngày của dân


tộc Champa thời đó (L. Finot. “Inscriptions du Quảngnam”,


trong BEFEO IV, 1904, trg.107, 109).


Bên cạnh di sản văn hóa Phạn ngữ của tầng lớp quí


phái tồn tại cho đến thế kỷ XV, vương quốc Champa còn


có một nền văn hóa dân gian phát triển rất mạnh trong


mọi tầng lớp của quần chúng. Nền văn hóa dân gian này


có nguồn gốc phát xuất từ nền văn minh của vương quốc


Lin Yi kể từ thế kỷ III-IV, bằng cách tiếp nhận một số yếu


tố kỹ thuật mới nhập cư từ Trung Hoa pha lẫn với một lớp


nước sơn của văn hóa Ấn Giáo. Văn hóa dân gian này


càng phát triển nhanh chóng vào những thế kỷ tiếp theo,


nhờ sự đóng góp của các đoàn thủy thủ nuớc ngoài thường


ghé vào hải cảng của Champa để tiếp tế lương thực và


nước uống trước khi tiếp tục vận hành thương thuyền của


mình trên biển Nam Hải nối liền vùng Trung Đông và Ấn


Độ với lục địa Trung Hoa. Nền văn hóa dân gian này


không ngừng thăng tiến song song với nền văn hóa Phạn


ngữ càng ngày càng tích cực hơn, đã làm lu mờ dần dần đi


những yếu tố mang tính chất Ấn Giáo. Đó cũng là nguyên


nhân giải thích cho suy tàn của nền văm minh Phạn ngữ


trên lãnh thổ Champa. Năm 1253 đánh dấu cho bản bia ký


cuối cùng viết bằng Phạn ngữ tại vương quốc này. Sau đó


người ta chỉ còn tìm thấy các bia ký viết bằng cổ ngữ


Chăm mà thôi. Nhưng trên thực tế sự suy tàn của Phạn


ngữ đã phai mầu từ lâu, bởi vì Champa bắt đầu giảm dần


đi việc sử dụng bia ký viết bằng Phạn ngữ kể từ thế kỷ thứ


IX và không còn quan tâm cho lắm đến nguyên tắc văn


phạm của ngôn ngữ Ấn Giáo này. Kể từ đó, văn chương cổ


điển Ấn Giáo cũng rơi vào vòng quên lãng, để rồi các


tầng lớp giai cấp quí tộc Champa không còn nhớ đến


Mahabharata, một tác phẩm thiên anh hùng ca (épopée)


nổi tiếng của Ấn Độ mà vương quốc Champa không còn


nhắc đến câu thơ của nó nữa kể từ đầu thế kỷ thứ XIII,


ngoại trừ tác phẩm thiên anh hùng ca Ramayana mà nội


dung của nó chỉ còn tồn tại dưới hình dạng của một câu


chuyện ngắn gọn viết bằng bằng văn xuôi lưu truyền đến


hôm nay với nhan đề Pram Dit Pram Lak. Sau thế kỷ thứ


XV, nền văn minh của Champa Ấn Hóa càng ngày càng


tàn lụi đi để nhường bước cho sự ra đời của một nền văn


minh mới mà người ta gọi là nền văn hóa bản địa Champa.


Khi lãnh thổ Champa bị thu hẹp vào hai tiểu vương


quốc Kauthara và Panduranga kể từ thế kỷ thứ XVI, toàn


bộ di sản tín ngưỡng của Ấn Giáo bị sụp đổ để rồi không


còn ai tôn thờ nữa, ngoại trừ một nghi lễ duy nhất đó là


Sati, tức là lễ tục dành cho hoàng hậu Champa tự thiêu


trên dàn hỏa để cùng chết chung với người chồng của


mình. Lễ tục Sati tại vương quốc Champa đã xảy ra lần


đầu tiên vào lúc đám tang của Harivarman IV vào năm


1081. Nhân dịp này, 14 nữ hoàng Champa quyết định tự


thiêu trên dàn hỏa của chồng để bày tỏ lòng trung thành


đối với nhà vua (L. Finot, “ Les inscriptions de Mĩ-sơn XII


C” trong BEFEO IV, 1904, trg. 936, 939). Lễ Sati cũng


diễn ra trước mắt của Linh Mục Odoric de Pordenone


nhân dịp ông ta viếng thăm Champa vào đầu thế kỷ thứ


XIV và còn áp dụng cho đến thế kỷ thứ XVII vào lúc lễ


hỏa táng của vua Po Rome (1627-1651). Cũng vì nữ hoàng


Champa không chấp nhận lên dàn hỏa của quốc vương Po


Rome, người ta phải khắc trên bức tượng của vị nữ hoàng


này để đánh dấu sự tự chối của bà chống lại nghi lễ Sati


của hoàng gia Champa thời đó. Điều này đã chứng minh


rằng lễ tục Sati chỉ biến mất sau thế kỷ thứ XVII để thay


thế vào đó bằng một hình thức khác, đó là lễ dâng hiến


các di sản vật chất thuộc về người quá cố trên dàn hỏa mà


phu nhân của họ thường thực hiện để chúng đi theo người


chồng vào cõi khác. Nghi lễ này đã làm biến mất nhiều


kho tàng văn học cổ điển Chăm để rồi hôm nay người ta


chỉ còn nhớ đến tên của tác phẩm mà thôi (Po Dharma,


Nicolas Weber, Abdullah Zakaria Bin Ghazali, Akayet Um


Marup, KKKW &EFEO, 2006, trg. 9). Chính vì thế, dân


tộc Chăm hôm nay chỉ còn lưu lại một vài tác phẩm mang


nội dung pháp lý phong tục mà dân tộc này thường dựa


vào đó để làm khuôn mẫu cho hệ thống tổ chức xã hội


hôm nay. Kể từ đó, mọi yếu tố văn hóa cổ điển của


Champa tự biến mất để thay thế vào đó một hệ thống văn


hóa mới mang tính cách dân gian hơn, tức là sự kết hợp


giữa văn hóa bản địa của miền nam Champa và văn hóa


của dân tộc Đa Đảo (Nam Dương và Mã Lai), tức là một


tập thể tộc người có mối quan hệ thường trực từ lâu với


dân tộc Chăm sống ven biển và rất gần gũi với nhau về


mặt nhân chủng, ngôn ngữ và văn hóa.


Như vừa nhắc qua ở phần trên, nền văn minh của


miền nam Champa chỉ là một di sản văn hóa có sự tiến


hóa về mặt tín ngưỡng và lễ nghi trong đó có hàng trăm


nhân vật siêu hình (yang) địa phương trở thành các bậc


thần linh của vương quốc mà tất cả các tầng lớp xã hội


Chăm đều tôn thờ qua các nghi lễ cúng tế gia súc, chưa


nói đến các đại lễ như Katé, Ca-mbur (CAM 125) hoặc lễ


cúng đầu mùa cày cấy mà mục đích chỉ nhằm tẩy uế ma tà


ra khỏi đám ruộng bỏ hoang vào mùa khô cạn trước khi


bắt đầu việc trồng trọt trở lại.


Vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các


thương thuyền Hồi Giáo Mã Lai đã mang lại cho người


Chăm sống ven biển một số yếu tố văn hóa Đa Đảo của


họ. Đáng lý ra họ đã biến người Chăm thời đó thành một


cộng đồng theo đạo Hồi thật sự, nhưng sự việc xảy ra


không phải là như thế. Vì rằng, dân tộc Chăm, mặc dù đã


chấp nhận một số tín điều của kinh thánh Koran, không


bao giờ từ bỏ yếu tố tín ngưỡng dân gian của họ. Chính vì


thế, tín ngưỡng của nhóm người Chăm Awal chỉ là một sự


pha trộn giữa yếu tố vay mượn từ Hồi Giáo và tập tục địa


phương. Cũng vì dân tộc Chăm của miền nam Champa,


nhất là Chăm Ahier, thường hay cải biến một số thiên sứ


của Hồi Giáo thành nhóm thần linh địa phương của họ,


thành ra người ta rất khó mà phân biệt đâu là biên giới của


sự trà trộn này. Chính vì thế mọi nhận xét về nguồn gốc


tín ngưỡng của dân tộc Chăm không bao giờ phù hợp với


nhau. Một thí dụ điển hình, đó là Đấng Allah viết thành Po


Uvalvah (CM 27-27) được xem như một vị vua huyền sử


đầu tiên ghi trong biên niên sử của tiểu vương quốc


Panduranga- Champa. Thiên sứ Muhammad mà người


Chăm gọi là Po Rasulak (CM 39-1) được xếp vào danh


sách bên cạnh các thiên sứ Hồi Giáo khác trong bảng


phong thần của dân tộc này.


Việc cộng sinh giữa hai tín ngưỡng này đã tạo ra


những ảnh hưởng trực tiếp đến một số quan niệm văn hóa


của người Chăm tại miền trung Việt Nam. Chính vì thế, kể


từ thế kỷ XVII, người Chăm Bani (Hồi Giáo không chính


thống) có một khái niệm về vũ trụ hoàn toàn khác hẳn với


người Chăm Ahier và không nhìn hệ thống tạo hóa thế


gian như trước thời nhập đạo Hồi Giáo nữa (CAM 97-2 và


CAM 143-2). Mặc dù công việc tính toán thời gian hoàn


toàn dựa vào một phương pháp chung, như việc ghi chép


ngày tháng trong niên lịch dựa vào tên của 12 con giáp,


người Chăm Ahier và Bani hiện nay vẫn dùng hai niên


lịch khác nhau và ngày tháng không trùng hợp với nhau


(CAM 138-4). Chính vì thế, các chức sắc tôn giáo nắm


quyền thường tự quyết định thay đổi ngày lễ thường niên


mang tính cố định được thực hiện bởi hai cộng đồng Chăm


Ahier và Bani, thí dụ như lễ rija nagar, một khi lễ tục này


rơi nhằm vào ngày đại lễ của người Chăm Bani nhất là


trùng vào tháng ăn chay (Ramadan) của họ.


Một số yếu tố văn hóa khác cũng bắt đầu hình


thành tại miền nam Champa, đặc biệt nhất là sự ra đời của


một hệ thống ngôn ngữ chữ viết mới. Kể từ đầu thế kỷ


XVI, chữ viết Chăm thời cổ đại bắt đầu nhường bước cho


chữ viết Chăm thời trung đại và một số loại chữ viết khác,


cấu thành một phương tiện dùng để diễn đạt tư tưởng. Kể


từ đó, các tác phẩm văn chương của miền nam Champa chỉ


viết bằng tiếng Chăm mà thôi, dù đó là tác phẩm văn học


có chung một nguồn gốc của các quốc gia Ấn Giáo tại khu


vực Đông Nam Á mà nội dung lúc nào cũng nhằm tôn


vinh một nhân vật chính yếu trên sân khấu của kịch


trường, thường đóng vai hoàng tử, lúc nào cũng từng trãi


qua các cuộc sống phiêu lưu dị thường để rồi cuối cùng,


ông ta trở về quê hương sau ngày chiến thắng vẽ vang


chống lại đối tượng của mình và lên ngai vàng để nối ngôi


của vua cha. Tác phẩm Inra Sri Bikan là một kiểu mẫu


điển hình nằm trong thể loại văn chương này (CAM


microfilm 11-2). Kể cả tác phẩm vay mượn từ thế giới Mã


Lai, mặc dù người Chăm bản địa vẫn xem đó như là một


kho tàng văn học có giá trị chung, nhưng họ phải chỉnh lý


lại nội dung cho phù hợp với hệ thống cấu trúc tâm linh và


yếu tố văn hóa Chăm trước khi du nhập tác phẩm này vào


vương quốc Champa. Chính vì thế, đa số người Chăm chưa


quen thuộc với văn học nước ngoài, không bao giờ nghĩ


rằng các thiên anh hùng ca (akayet) của họ, đặc biệt nhất


là Akayet Inra Patra và Akayet Deva Mano chỉ là tác phẩm


có nguồn gốc xuất phát từ kho tàng văn học của Mã Lai


(Po Dharma, G. Moussay, Abdul Karim, Akayet Dowa


Mano, Kuala Lumpur, PNM và EFEO, 1998).


Đà tiến hóa này cũng phát triển không ngừng trong


nền nghệ thuật Champa thời đó. Về mặt âm nhạc mà một


số nhạc cụ thường được dùng vào thời kỳ Champa Ấn


Giáo như đàn vina (đờn tranh Ấn Độ), đàn thụ cầm (harpe)


hay trống vỗ, thường xuất hiện trên các phù điêu của đền


Mĩ Sơn và Phong Lệ đã biến mất, để nhường chỗ lại cho


các nhạc cụ khác, ngoại trừ gông chiêng cổ điển là còn tồn


tại cho đến ngày nay. Nhưng hầu hết các nhạc cụ mà


người Chăm đang sử dụng hôm nay chỉ là những vật thể


vay mượn từ thế giới Mã Lai. Về mặt điệu múa cũng thế.


Kể từ thế kỷ thứ XV về sau, các điệu vũ không còn là


nghệ thuật độc quyền của thần thánh nữa. Các tượng Siva


nhảy múa của đền Phong Lệ hay Khương Mỹ và các tượng


vũ nữ (apsara) của đền Chánh Lộ hay Trà Kiệu mà các


nhà điêu khắc thường trang điểm cho những chiếc bệ của


tượng Linga, không còn xuất hiện nữa. Các tượng vũ công


mà người ta thường dâng hiến cho các đền tháp trong việc


thờ cúng cũng biến mất luôn theo thời gian (BEFEO IV,


1904, trg. 942, 943). Kể từ đó, điệu múa chỉ là một chuỗi


nhịp điệu của các bước chân và động tác của vũ nữ uốn éo


nhịp nhàng theo điệu nhạc, chẳng hạn như điệu múa gọi là


patra. Còn về điệu múa mang tách cách tập thể của đoàn


vũ nữ và vũ công mà người ta trình diễn ngày nay trên các


đền tháp chỉ là phong cách nghệ thuật được chế tạo vào


cuối thế kỷ XX nhằm vào mục đích cho kinh tế du lịch mà


thôi.


Người ta hoàn toàn không biết gì về nền văn hóa


của người Tây Nguyên vào thời kỳ Ấn Giáo, bởi vì không


có một bia ký nào nói đến. Ngược lại, người ta biết rõ thế


nào là yếu tố văn hóa của dân tộc miền cao vào giữa thế


kỷ thứ XX, tức là trước ngày hiện diện của hàng vạn người


Việt di cư từ miền Bắc vào miền trung và miền nam đến


định cư trên Tây Nguyên kể từ năm 1955, tạo thành một


cộng đồng người Kinh đa số lấn áp vào địa bàn dân cư của


dân tộc bản địa thiểu số và tàn phá đi nền văn minh của


họ.


Đối với dân tộc bản địa Tây Nguyên (ProtoIndochinois),


sự chuyển vận của vũ trụ hoàn toàn nằm


trong tay của vô số đấng vô hình cấu thành một tập thể


thần linh có quyền lực để làm sinh động bầu trời, trái đất,


thiên nhiên ngay cả vạn vật và tiếp tục ngự trị trên trái đất


mà họ đã tạo ra. Điều này đã giải thích rằng tín ngưỡng


của dân tộc Tây Nguyên lúc nào cũng liên kết chặt chẽ


vào đời sống và các sinh hoạt hàng ngày của họ. Do đó


dân tộc Tây Nguyên thường xuyên phải nghĩ đến việc


cúng quẩy thần linh vì họ tin rằng những lời cầu nguyện


trong lễ tục này có thể tạo ra một ảnh hưởng trên quyền


lực của đấng vô hình này bằng cách vô hiệu hóa những


thần linh hung dữ hoặc tôn vinh những thần linh có đức độ


từ bi (xem P-B. Lafont, Prières Jarai, Paris, EFEO Textes


et Documents sur l’Indo-chine VIII, 1963). Nền văn hóa


tôn giáo này còn phát triển trong các luật tục còn gọi là


châm ngôn pháp lý (coutumier) của từng sắc dân. Ngoài


việc điều hòa các qui ước sinh hoạt trong xã hội, luật tục


còn có mục tiêu giáo huấn con người về cung cách cư xử


đối với chính bản thân của mình và đối với các đấng vô


hình đang chủ trì vận mệnh của vũ trụ. Luật tục thường đòi


hỏi mỗi dân tộc Tây Nguyên phải biết hoàn thiện, cấu


thành một qui ước đòi hỏi mỗi cá nhân phải tôn trọng sự


tương quan trong các cuộc sinh hoạt hàng ngày và bó buộc


họ phải phục tùng các vị thần linh từ tư tưởng cho đến


hành động. Luật tục và luân lý cấu thành một chủ đề


chung và thường chồng chất lên nhau. Theo dân tộc bản


địa Tây Nguyên, luật tục và luân lý đạo đức đều phát xuất


từ một nguồn gốc chung, vì cả hai yếu tố đó hoàn toàn do


đấng thần linh cai quản vũ trụ ban cho họ mà thôi.


Dân tộc Tây Nguyên là cộng đồng tộc người không


có chữ viết. Chính vì thế, mọi kiến thức của họ đều phát


sinh từ văn hóa truyền khẩu, dù đó là lời cầu nguyện, luật


tục hay các tác phẩm văn học. Nhằm giúp tập thể quần


chúng biết đến nội dung của văn bản này, văn chương dân


gian hay luật tục thường được trình bày theo thể thơ, để


mỗi khi được xướng lên thì âm tiết gieo vần có phần nhịp


nhàng cố tình làm nổi bật lên các điệu khúc của tác phẩm.


Nhịp điệu và sự hòa hợp âm điệu cấu thành yếu tố nhằm


đóng góp vào việc tiếp thu nhanh vào trí nhớ. Cũng nhờ


đó mà một số tác phẩm văn chương như tục ngữ, cổ tích,


truyền thuyết, chuyện kể và thiên anh hùng ca của dân tộc


Tây Nguyên đã được lưu truyền cho đến hôm nay (D.


Antomarchi, “Le chant épique de Kdam Yi”, trong BEFEO


XLVII-2,1955, trg.590-615). Và nền văn học này còn có


mục tiêu nhằm phát triển sự hài hòa của xã hội, duy trì


những yếu tố kinh tế cổ truyền và nhất là nhằm xác nhận


quyền lực tối cao và tính xuất chúng của các đấng vô hình


đối với thế giới của các sinh vật.


Tổ chức chính trị


Cũng giống như các quốc gia nằm trong khu vực


vào thời kỳ Ấn Giáo và những giai đoạn tiếp theo,


Champa là một vương quốc dựa vào quân chủ chuyên chế


để làm mô hình tổ chức chính trị của mình. Nhưng Champa


không phải là một quốc gia trung ương tập quyền như một


số nhà khoa học thường hiểu lầm, mà là một quốc gia liên


bang tập trung nhiều tiểu vương quốc (principauté) gồm


có : Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và


Panduranga. Mỗi tiểu vương quốc được chia thành các đơn


vị hành chánh đặt dưới quyền quản lý chung của tiểu


vương.


Đứng đầu của liên bang Champa là vị thủ lãnh


đóng đô tại Vijaya từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV mang danh


hiệu là rajadiraja (vua của các vua), tức là nhân vật duy


nhất có quyền nhận lễ đăng quang (abhiseka) để lên ngôi


vua của liên bang mà bia ký thường ghi lại. Nghi lễ này


được tổ chức tại thủ phủ Vijaya, một địa điểm nằm lân cận


thành phố Qui Nhơn hiện nay. Đây là một qui chế chính trị


không phù hợp cho lắm với ước vọng của Panduranga, một


tiểu vương quốc ở miền nam lúc nào cũng tìm cách tách


rời ra khỏi liên bang Champa để tạo dựng cho mình một


quốc gia độc lập riêng.


Tất cả các vị vua Champa đều là những người xuất


thân từ giai cấp Ksatriya (giai cấp quí tộc, tướng lãnh quân


sự) hay là những Brahman-Ksatriya (tu sĩ-quí tộc). Khi đã


lên ngôi, họ thường đặt một tầm mức quan trọng vào việc


thần thánh hóa bản thân của mình. Mỗi vị thủ lãnh tự xưng


mình là vua của vương quốc Champa, nhưng đồng thời là


hiện thân của một vị thần, thông thường nhất là hiện thân


của đấng Siva. Chính vì thế, vua Champa thường ra lệnh


tạc tượng mang hình thể cá nhân của mình nhưng lại đeo


các đồ trang sức của vị thần linh. Mỗi vị vua thường đặt


cho mình một tên gọi mang tính cách tôn giáo bên cạnh


danh xưng chính thức của triều đại (L. Finot, “ Stèle de


Cambhuvarman à Mĩ-sơn”, trong BEFEO III, 1903, trg.


210-211). Vua chúa Champa là biểu tượng cho quyền lực


và vinh quang trong một quốc gia mà các bia ký thường


tôn vinh qua những lời tâng bốc đôi khi rất là quá đáng.


Nhưng mô hình chính trị này cũng không ngăn cấm được


vào thế kỷ XII và XIV một số hoàng tử thường đứng ra


chống lại uy quyền của nhà vua hoặc tìm cách lật đổ chính


quyền Champa, như trường hợp Indravarman V và Maha


Quí Đô đã từng nhúng tay vào cuộc đảo chánh nhằm


chiếm quyền ngôi vua tại vương quốc này. Các cuộc tranh


chấp quyền hành giữa các vị hoàng tử cộng thêm sự khủng


hoảng chính trị triền miên giữa miền bắc và miền nam


Champa cũng là nguyên nhân đã làm suy yếu đi ý thức hệ


đoàn kết của vương quốc này. Điều này đã giải thích rằng


quyền lực của vua chúa phải nằm trên pháp lý của một


quốc gia mà lịch sử của Champa thường chứng minh điều


đó. Vào những giai đoạn xáo trộn và giao thời, các nhà


vua thường chọn sức mạnh của quyền lực như là chính


sách ưu tiên để trấn áp đối phương và củng cố ngai vàng.


Họ chỉ bận tâm đến những biến cố chính trị mang tích cách


thời sự có thể làm lung lay oai quyền của triều đình hơn là


lo nghĩ đến vấn đề xây dựng một thể chế chính trị dựa vào


hiến pháp của một quốc gia. Vào những giai đoạn yên


bình, các vua chúa Champa thường lo đảm bảo trật tự và


an ninh trong nước hầu né tránh những việc tranh chấp


chống lại uy quyền của nhà vua.


Nhằm đảm bảo việc điều hành quốc gia và tăng


cường quyền lực của mình, các vị quốc vương Champa


thường thành lập một nội các chính phủ tập trung một số


quan thần cao cấp (hauts dignitaires) chứ không phải các


vị bộ trưởng trong nghĩa rộng của nó. Bên cạnh đó, vua


chúa Champa còn có một hệ thống khuê phòng gồm có


các bà hoàng hậu và nhiều cung phi mỹ nữ. Các quan lại


trong nội các thường là những nhân vật xuất thân từ giai


cấp thượng lưu có ảnh hưởng lớn trong quốc gia, với mục


đích nhằm biến họ thành một tập thể luôn luôn trung thành


với vua.


Cho đến hôm nay, người ta không biết thế nào là


danh xưng và quyền hạn của các vị quan lại cao cấp trong


nội các Champa. Ngược lại, nhiệm vụ chính yếu của họ là


quản trị ngành thu thuế, huấn luyện bộ binh và thủy binh


để chuẩn bị cho việc chinh chiến. Mối ưu tư lớn nhất của


mỗi vị quốc vương Champa là nguồn kinh phí quốc gia.


Chính vì thế thuế má là yếu tố cần thiết trong việc phát


triển ngân khố của hoàng gia hầu nâng cao cuộc sống của


các quan đại thần trong vương quốc, nuôi dưỡng quân đội,


xây dựng các công trình dẫn thủy nhập điền, thiết kế các


cung điện hoặc xây dựng các đền đài tôn giáo để làm nền


móng cho uy quyền của mình. Tiếc rằng, các nhu cầu chi


phí thường vượt quá khả năng cung ứng của quốc gia, bởi


do sự nghèo khó của dân chúng và sự miễn thuế dành cho


các trung tâm tôn giáo mà một số bia ký của Đồng Dương


thường nêu ra (L. Finot và E. Huber, BEFEO IV, 1904, trg.


89 và 95; BEFEO V, 1905, trg. 280, 281). Để phục hồi


ngân khố nhà nước, một số quốc vương Champa phải nghĩ


đến các chiến dịch đánh phá các nuớc láng giềng, nhất là


vương quốc Đại Việt, hoặc áp dụng vũ lực để đánh thuế


các tàu bè di chuyển trong hải phận của mình. Vì nhu cầu


cần thiết trong chính sách phòng thủ quốc gia, vua chúa


Champa thường đặt mọi trọng tâm vào vấn đề xây dựng


một đội ngũ lục quân và hải quân hùng mạnh mà hình ảnh


của các binh sĩ, các động vật tham chiến và các chiến cụ


vẫn còn lưu lại trên các bức phù điêu tại đền Angkor Vat,


Bayon (Angkor) và Banteay Chmar của vương quốc


Campuchia (M. Jacq- Hergoualc’h, L’armement et


l’organisation de l’armée khmère aux XII et XIII siècles,


Paris, PUF, 1979).


(còn tiếp)


Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont. Bản Việt ngữ trên champaka.info


trieuxuan.info