08.02.2017
Pièrre-BERNARD Lafont
Champa (1)

 


Thay lời tựa


Phó Giáo sư, Tiến sỹ Po Dharma. EFEO-Viện Viễn Đông Pháp


Gs. Ts. Pièrre-Bernard Lafont sinh ngày 17 tháng 2


năm 1926 tại Syrie (Trung Đông). Tốt nghiệp tiến sĩ luật


học tại đại học Sorbonne và xuất thân từ Viện Chính Trị


Học Paris, ông được bổ nhiệm vào Viện Viễn Đông Pháp


với chức vụ thành viên khoa học chuyên về nền văn minh


Đông Dương; từng có mặt nhiều năm tại Việt Nam kể


từ 1953 để nghiên cứu về dân tộc Tây Nguyên và mối liên


hệ với người Chăm sinh sống ở vùng duyên hải của vương


quốc Champa.


Gs. Ts. P-B. Lafont cũng là người đã từng giữ chức


giảng viên của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, quen biết rất


nhiều học giả Việt Nam, trong đó có Gs. Nghiêm Thẩm,


Gs. Nguyễn Thế Anh, Gs. Phạm Cao Dương, v.v. Bên


cạnh đó, ông ta không ngừng góp phần với Linh Mục G.


Moussay để thành lập Trung Tâm Văn Hóa Chăm tại Phan


Rang vào năm 1969. Ông ta cũng rất thân cận với thiếu


Vuơng quốc Champa tướng Les Kosem, gốc người Chăm Campuchia nắm vai


trò chủ động trong tổ chức Fulro, tức là phong trào đấu


tranh nhằm phục hưng lại qui chế của dân tộc bản địa tại


miền trung Việt Nam vào những năm 1964-1975. Từ mối


liên hệ này, ông ta đứng ra đỡ đầu cho một số thành viên


Fulro sang Pháp du học. Sự hiện diện của tôi tại đại học


Sorbonne vào năm 1972 cũng nằm trong dự án này. Kể từ


đó, ông ta là giáo sư hướng dẫn tôi cho đến ngày tốt


nghiệp tiến sĩ vào năm 1986 và cũng là bậc thầy đã truyền


lại cho tôi một kho tàng kinh nghiệm, từ cách sống làm


công dân trong một quốc gia tân tiến và dân chủ, phương


pháp lý luận và nhận định vấn đề trong ngành nghiên cứu


khoa học cho đến khái niệm về vai trò của một người trí


thức xuất thân từ vương quốc Champa đã bị xóa bỏ trên


bản đồ. Đó là những công lao vô giá mà tôi không thể


quên trong quãng đời của mình.


Nói đến lịch sử và nền văn minh Đông Dương thì


người ta phải nhắc đến Gs. Ts. P-B. Lafont, một học giả có


tầm hiểu biết sâu rộng và có ảnh hưởng lớn trong giới


khoa học Pháp. Sau ngày nhậm chức giáo sư tại đại học


Sorbonne vào năm 1966, ông ta thành lập Trung Tâm Lịch


Sử và Nền Văn Minh Bán Đảo Đông Dương vào năm


1968 và tăng cường mối liên hệ với Viện Viễn Đông Pháp


để hình thành một Chương Trình Champa Học vào năm


1980 đặt dưới quyền điều hành của tôi. Kể từ đó, ông ta


trở thành cố vấn khoa học của tổ chức này, tập trung rất


nhiều chuyên gia nhằm khôi phục lại công trình nghiên


cứu Champa đã bị bỏ quên kể từ năm 1945 vì tình hình


chiến tranh không cho phép.


Năm 1988, qua lời đề nghị của Gs. Ts. P-B. Lafont,


Viện Viễn Đông Pháp đã dời trụ sở Chương Trình Champa


Học sang Kuala Lumpur và giao trách nhiệm cho tôi điều


hành cơ quan này mà mục tiêu nhằm mở rộng thêm chủ


đề nghiên cứu về mối liên hệ giữa vương quốc Champa và


thế giới Mã Lai. Sau 30 năm hoạt động, Chương Trình


Champa Học đã xuất bản tại Paris và Kuala Lumpur 20


công trình nghiên cứu về Champa hầu góp phần làm sáng


tỏ lại di sản lịch sử và nền văn minh của vương quốc này:


- Po Dharma, Phụ lục thư tịch văn bản Chăm cổ lưu


trữ trong thư viện Pháp, Paris, 1981


- Nhiều tác giả, Thư tịch tư liệu hoàng gia


Panduranga viết bằng tiếng Hán, Paris, 1984


- Po Dharma, Panduranga-Champa: Mối liên hệ với


Việt Nam, 1802-1835 (Tập I và II), Paris, 1987


- Nhiều tác giả, Kỷ yếu hội thảo Champa tổ chức tại


đại học Copenhague, Paris, 1988


- P-B. Lafont, Po Dharma, Thư tịch Champa và


Chăm, Paris, 1989


- Nhiều tác giả, Thế giới Đông Dương và thế giới


Mã Lai, Kuala Lumpur, 1990


- Nhiều tác giả, Vương quốc Champa và thế giới Mã


Lai, Paris, 1991


- Alaudin Majid, Po Dharma (chủ biên), Chế độ


mẫu hệ Champa và Mã Lai, Kuala Lumpur, 1994


- P-B. Lafont, Ismail Hussein, Po Dharma (chủ


biên), Thế giới Mã Lai và thế giới Đông Dương, Kuala


Lumpur, 1995


- Po Dharma, G. Moussay, Abd. Karim, Sử Thi Inra


Patra, Kuala Lumpur, 1997


- Po Dharma, G. Moussay, Abd. Karim, Sử Thi


Dewa Mano, Kuala Lumpur, 1998


- Adi Taha, Po Dharma (chủ biên), Đồng phục


Champa, dân tộc Đa Đảo tại Việt Nam, Kuala Lumpur,


1998


- Po Dharma, Bốn từ vựng cổ Mã Lai-Chăm biên


soạn tại vương quốc Champa, Paris 1999, dịch sang tiếng


Mã và xuất bản vào năm 2000


- Po Dharma, G. Moussay, Abd. Karim, Nai Mai


Meng Makah hay là Công chúa đến từ Kelantan, Kuala


Lumpur, 2000


- Po Dharma, Abd. Karim, Nicolas Weber, Majid


Yunos, Tái bản văn học Chăm : Chuyện cổ tích, truyền


thuyết, sử thi và tác phẩm viết bằng thơ, Kuala Lumpur


2003


- Po Dharma, Mak Phoeun (chủ biên), Bán đảo


Đông Dương và thế giới Mã Lai : mối liên hệ văn hóa và


lịch sử, Kuala Lumpur, 2003


- Po Dharma, Từ mặt trận giải phóng Thượng đến


phong trào Fulro : Cuộc đấu tranh của dân tộc thiểu số ở


miền nam Đông Dương (1955-1975), Paris 2005


- G. Moussay, Ngữ Pháp Chăm, Paris, 2006


- Po Dharma, Nicolas Weber, Abdullah Zakaria Bin


Ghazali, Sử thi Um Marup, Kuala Lumpur, 2007


- Po Dharma (chủ biên), Kỷ yếu hội thảo : Ngôn


ngữ và chữ viết Chăm, Kuala Lumpur, 2007


*


Champa là vương quốc có nền văn minh cao độ


nằm ở miền trung Việt Nam, đã từng đóng một vai trò chủ


yếu trong tiến trình hình thành các quốc gia tại khu vực


Đông Nam Á. Tiếc rằng độc giả hôm nay vẫn chưa tiếp


thu một tác phẩm nào đáng được mang tên Lịch Sử


Champa trong nghĩa rộng của nó.


G. Maspero là sử gia đầu tiên đã xuất bản vào năm


1928 một công trình mang tên Vương Quốc Champa trong


đó tác giả chỉ bàn đến lịch sử của Champa cho đến ngày


thất thủ của thành Đồ Bàn vào năm 1471. G. Coedes là


học giả tiếp theo cũng quan tâm đến nền văn minh cổ đại


Champa, nhưng ông ta chỉ trình bày lịch sử của vương quốc


Champa nằm trong lịch trình hình thành các quốc gia Ấn


Hóa tại khu vực Đông Nam Á, xuất bản vào năm 1964. Po


Dharma là nhà nghiên cứu thứ ba đã ấn hành vào năm


1987 tác phẩm Panduranga-Champa : Mối liên hệ với Việt


Nam, trong đó tác giả chỉ đặt trọng tâm đến mối quan hệ


của Champa đối với cuộc Nam Tiến của nhà Nguyễn kéo


dài từ thế kỷ thứ XV cho đến khi vương quốc này bị xóa


bỏ trên bản đồ vào năm 1832.


Bên lề của ba tác phẩm khoa học này, lịch sử


Champa cũng là chủ đề không ngừng xuất hiện trên làn


sóng sách báo và mạng web viết bằng tiếng Việt mà nội


dung chỉ là một thể loại văn chương dành cho quần chúng


đại trà hay biểu tượng cho quan điểm của một số học giả


tìm cách xây dựng lịch sử Champa theo lăng kính cá nhân


của mình.


Để trả lời cho những khuyết điểm đó, Chương


Trình Champa Học đề nghị phải xây dựng lại lịch sử


Champa một cách tổng thể, khoa học và khách quan, chia


làm hai thời kỳ rõ rệt. Lịch sử Champa thời cận đại do tôi


đảm trách qua chủ đề Từ mặt giải phóng Thượng đến


phong trào Fulro : Cuộc đấu tranh của dân tộc thiểu số ở


miền nam Đông Dương (1955-1975), xuất bản tại Paris vào


năm 2005. Lịch sử Champa thời cổ đại là tổng thể của


những biến cố đã xảy ra từ ngày Champa lập quốc vào thế


kỷ thứ II cho đến năm 1832. Đây là một công trình khoa


học vô cùng khó khăn đòi hỏi một kho tàng hiểu biết sâu


rộng về vương quốc này. Theo quan điểm của Chương


Trình Champa Học, Gs. Ts. Lafont, một học giả chuyên về


lịch sử và nền văn minh Đông Dương tại đại học Sorbonne


(Paris) là người duy nhất trong giới khoa học Pháp mới có


thể thực hiện dự án này. Chính đó là nguyên nhân giải


thích cho sự ra đời của tác phẩm Vương Quốc Champa: Địa


Dư, Dân Cư và Lịch Sử.


Sau 15 năm đầu tư vào dự án, Gs. Ts. P-B. Lafont


rất quyết tâm, mặc dù đã gặp phải bao khó khăn về sức


khỏe vào thời điểm của tuổi quá cao, hoàn tất cho bằng


được tác phẩm này vào năm 2007, trước khi ông ta từ trần


vào năm 2008, thọ 82 tuổi. Đây là món quà quí giá mà Gs.


Ts. P-B. Lafont đã để lại cho hậu thế hôm nay.


Vương Quốc Champa : Địa Dư, Dân Cư và Lịch Sử


do Gs. Ts. P-B. Lafont thực hiện là tác phẩm lịch sử


Champa đầu tiên mang tính cách tổng thể, kéo dài từ ngày


lập quốc vào thế kỷ thứ II cho đến khi vương quốc


Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832. Đây là công


trình mang tính cách Lược Sử Champa thì đúng hơn, vì


mục tiêu của tác phẩm nhằm phục vụ cho quần chúng phổ


thông, tập trung từ giới sinh viên, các nhà nghiên cứu


không chuyên về Champa học, các giới thương gia và


ngoại giao đoàn có mối liên hệ với Việt Nam cho đến độc


giả thông thường muốn tìm hiểu về vương quốc Champa.


Chính ví thế, nội dung và cách cấu trúc dàn bài của tác


phẩm này rất ngắn gọn và sáng sủa nhằm giúp độc giả


tiếp thu nhanh chóng hơn những yếu tố cơ bản nằm trong


tiến trình hình thành lịch sử và nền văn minh của vương


quốc này.


Trong tác phẩm này, Gs. Ts. P-B. Lafont tự đặt


mình vào vị trí của một sử gia để xây dựng lại lịch sử


Champa một cách khoa học và khách quan, bao gồm nhiều


chủ đề liên quan đến tiến trình hình thành lịch sử của


vương quốc Champa, từ yếu tố địa dư, nguồn gốc dân cư,


di sản văn hóa, phong cách nghệ thuật, đời sống tâm linh,


hệ thống tổ chức xã hội và gia đình cho đến thể chế chính


trị của Champa. Gs. Ts. P-B. Lafont cũng không bỏ qua hệ


thống phân kỳ lịch sử của vương quốc này, phân tích lại


một cách khách quan mối liên hệ chính trị và quân sự giữa


Champa và quốc gia láng giềng ở phía bắc trong suốt


chiều dài của cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt, mà mục


tiêu chỉ nhằm đưa lịch sử của vương quốc này trở về đúng


với vị trí của nó. Kể từ đó, tác phẩm mang tựa đề Vương


Quốc Champa : Địa Dư, Dân Cư và Lịch Sử do Gs. Ts. P-B.


Lafont thực hiện đã trở thành một di sản văn hóa Champa


vô cùng quí giá và cũng là kim chỉ nam dành cho những ai


muốn tìm hiểu đến lịch sử và nền văn minh của vương


quốc này.


Vương quốc Champa: Địa Dư, Dân Cư và Lịch Sử là


tác phẩm viết bằng tiếng Pháp mang tựa đề Le Champa:


Géographie - Population - Histoire do nhà xuất bản Les


Indes Savantes ấn hành vào năm 2007 tại Paris. Tác phẩm


này được chuyển ngữ sang tiếng Việt bởi ông Hassan


Poklaun, một nhà trí thức Chăm tốt nghiệp từ trường trung


học Pháp (Lycée Yersin, Đà Lạt), xuất thân từ Viện Quốc


Gia Hành Chánh và cũng là người đã từng dịch sang tiếng


Việt nhiều tác phẩm chuyên về Islam, nhất là Kinh Thánh


Hồi Giáo.


Bản chuyển ngữ sang tiếng Việt do ông Hassan


Poklaun thực hiện là một công trình vô cùng khó khăn, vì


phong văn tiếng Pháp có cách cấu trúc riêng biệt. Chính vì


thế, công tác phiên dịch tác phẩm này không thể dựa vào


phương pháp “từ đối từ”, mà là trình bày lại một cách


trung thực và chính xác ý tưởng nằm trong câu văn của tác


giả nhằm giúp độc giả tiếp thu nhanh chóng nội dung của


tác phẩm. Đây là một công trình nghiên cứu mang tính


cách khoa học, nên bản chuyển ngữ sang tiếng Việt cũng


thông qua hội đồng có trách nhiệm đọc lại bản thảo, trong


đó có Abd. Karim (Đại Học Putra, Mã Lai), Châu Văn Thủ


(Tổng Thư Ký của Council for the Social-Cultural


Development of Champa) và tôi, nhằm nâng cao thêm giá


trị và độ chính xác của tác phẩm này.


Lời mở đầu


Champa là một vương quốc xuất hiện tại miền


trung Việt Nam từ thế kỷ thứ II cho đến đầu thế kỷ thứ


XIX. Vào những thời kỳ vàng son nhất, lãnh thổ Champa


bao gồm vùng đồng bằng duyên hải và cả khu vực cao


nguyên của miền trung Việt Nam hiện nay, nằm giữa hai


bán vĩ tuyến 18 và 11.


Thế kỷ thứ X là thời kỳ đánh dấu cho trang sử huy


hoàng nhất của Champa, nhưng cũng là giai đoạn mà


vương quốc này bắt đầu đối phó với Đại Việt vừa mới


thoát ra khỏi nền đô hộ của Trung Hoa để tạo cho mình


một quốc gia có chủ quyền. Kể từ đó, vương quốc Đại


Việt khởi đầu tạo áp lực đối với Champa ngày càng lớn


mạnh, gây ra sự xụp đổ thủ đô Vijaya (Đồ Bàn) vào năm


1471, kéo theo cuộc Nam Tiến nhằm xâm chiếm lãnh thổ


phía bắc của Champa đồng thời phá tan cả truyền thống


Ấn Giáo, vốn là yếu tố cơ bản trong tiến trình phát triển


nền văn minh của vương quốc này. Mặc dầu lãnh thổ


Champa bị thu hẹp vào khu vực ở phía nam kể từ thế kỷ


thứ XV nhưng vương quốc Champa vẫn còn tồn tại với


danh nghĩa là một quốc gia độc lập có chủ quyền, tiếp tục


biểu dương sức năng động để củng cố lại hệ thống tổ chức


xã hội và dung nạp thêm các giá trị tinh thần mới để xây


dựng cho mình một nền văn minh có đặc thù riêng.


Trên bình diện bang giao quốc tế, Champa cũng


không ngừng gia tăng các mối quan hệ với các nước lân


bang. Trước sức ép không ngừng của Đại Việt, một quốc


gia láng giềng ở phía bắc với dân số phát triển ngày càng


đông đúc, do đó vương quốc Champa phải đương đầu với


bao biến cố để bảo vệ biên giới của mình càng ngày càng


bị thu hẹp. Một khi không đủ sức ngăn chặn cuộc Nam


Tiến của dân tộc Việt, Champa chỉ còn cách làm trì hoãn


bước tiến của họ về phía nam của bán đảo Đông Dương


trong suốt ba thế kỷ rưỡi, vì cho đến năm 1832 nhà


Nguyễn mới xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ của quốc gia


này.


Sau khi bị xóa tên trên bản đồ thế giới, vương quốc


Champa chỉ để lại cho thế hệ hôm nay một chuỗi di tích


lịch sử cổ xưa, một số văn bản ghi khắc trên bia đá hay


trên đền tháp, một số tư liệu viết trên các lá buông cũng


như trên giấy và một cộng đồng chủng tộc rất tự hào là


những người thừa kế một nền văn minh đã từng đánh dấu


những nét vàng son trên trang sử của bán đảo Đông


Dương.


Cho đến đầu thế kỷ XXI, những thành tựu nghiên


cứu về Champa chỉ phát triển trong một tầm mức rất giới


hạn. Chính vì thế, các công trình nhằm xây dựng lại một


cách khái quát về quá trình của Champa, về dân cư của


vương quốc này kể cả dân cư còn sống sót hôm nay cũng


như các phương án nhằm phân tích lại một cách khách


quan hơn những yếu tố lịch sử của nó, đã trở thành một


chủ đề cần thiết và hữu ích nằm trong tác phẩm này.


Mãi đến cuối thế kỷ thứ XX, các nhà nghiên cứu


thường cho rằng lãnh thổ Champa trong những thời vàng


son nhất vào thế kỷ thứ IX chỉ nằm trên dải đất của miền


duyên hải chạy dài từ mũi Hoành Sơn ở phía bắc cho đến


sông Đinh (Bà Rịa-Vũng Tàu) ở phía nam và bề rộng của


vương quốc này rất eo hẹp bị giới hạn từ bờ biển Nam Hải


cho đến chân núi của dãy Trường Sơn mà thôi. Hay nói


một cách khác, lãnh thổ của Champa chỉ bao gồm các


vùng đồng bằng duyên hải của miền trung Việt Nam hiện


nay. Đây chỉ là một giả thuyết không thuyết phục cho lắm,


vì gần 20 năm qua, các tư liệu lịch sử, di sản khảo cổ và


các văn bản còn lưu lại đã chứng minh rằng lãnh thổ


Champa chẳng những nằm trên miền duyên hải ở phía


đông mà còn bao gồm, tùy theo giai đoạn của lịch sử, cả


khu vực Tây Nguyên của dãy Trường Sơn nằm ở phía tây,


có độ dốc chạy thoai thoải cho đến sông Cửu Long


(Mékong).


Vào năm 914, các bia ký thuộc giáo phái Phật Giáo


đại thừa tìm thấy ở khu vực Kon Klor (Kontum) cho biết


lãnh thổ Champa bao gồm cả vùng cao nguyên Kontum.


Một bia ký khác viết vào thế kỷ XII nằm trong khu vực


của Mĩ Sơn cũng nhắc đến cộng đồng Vrlas và Randaiy,


tức là một tập thể tộc người Tây Nguyên có địa bàn dân cư


nằm trên khu vực Lâm Đồng, Gia Lai (Pleiku) và Dak Lak


đã từng phục tùng vua chúa Champa. Điều này đã ám chỉ


rằng Tây Nguyên là khu vực nằm trên lãnh thổ phía tây


của vương quốc Champa trước kia.


Bước sang thế kỷ thứ XIII, một số chú thích trong


tác phẩm Yuan-che (CCX 55a) của Trung Hoa và nhật ký


của Marco Polo liên quan đến cuộc tiến quân của Mông


Cổ nhằm chinh phạt Champa vào năm 1283-1285 cũng


công nhận rằng lãnh thổ Champa vào thời kỳ đó bao gồm


cả khu vực cao nguyên Kontum và Pleiku. Thêm vào đó,


sự hiện diện của các đền tháp Champa vào thế kỷ thứ XIV


và XV tại thôn Phú Thọ gần Pleiku, một số đền tháp khác


nằm trong tỉnh Phú Bổn (Cheo Reo), thung lũng Ia Ayun


và Sông Ba và xa hơn nữa, tại khu vực Yang Prong thuộc


về phía nam của Dak Lak (Ban Mê Thuột) cấu thành một


yếu tố vững chắc nhằm xác nhận rằng Tây Nguyên là khu


vực nằm trong biên giới chính trị của vương quốc Champa


thời trước. Cuối cùng, các tư liệu viết bằng chữ Hán, chữ


Chăm, các hồi ký của những thương thuyền Âu Châu vào


thế kỷ thứ XVII-XIX cũng như các truyền thuyết dân gian


của các tộc người bản địa tại miền trung Việt Nam và Lào


quốc cũng thường đưa ra những yếu tố nhằm minh định


rằng kể từ thế kỷ thứ XVI cho đến ngày diệt vong của


Champa vào năm 1832, lãnh thổ của vương quốc này bao


gồm một phần đất đai của dãy Trường Sơn và khu vực


đồng bằng nằm về phía tây.


Địa dư


Tóm lại, về mặt địa dư, đất nước Champa là một


vương quốc nằm ở miền trung Việt Nam bao gồm miền


duyên hải, khu vực Tây Nguyên kể cả các dãy núi của


Trường Sơn.


Vùng duyên hải của Champa


Từ bắc xuống nam, miền duyên hải Champa trải


dài khoảng 800 cây số và không quá 50 cây số chiều


ngang, bao gồm các vùng đồng bằng và châu thổ (delta)


nhỏ hẹp, thường tách rời với nhau bởi các mũi đá nhô nối


liền từ chân núi Trường Sơn cho đến bờ biển Nam Hải (Vũ


Tự Lập, Việtnam. Données geographiques, Hanoi, 1977).


Các mũi đá nhô này thường chia cắt miền đồng bằng


thành nhiều vùng eo hẹp rất khó băng qua. Địa thế địa dư


thiên nhiên này đã biến Champa thành nhiều khu vực tự


trị có bản sắc và đặc thù riêng mà các bia ký và văn bản


thường nhắc đến.


Từ ngày thành lập, Champa là một quốc gia có đất


đai rộng lớn. Vào năm 1069 và 1306, vương quốc này đã


nhường lại cho Đại Việt hai khu vực nằm trên lãnh thổ của


tỉnh Bình-Trị-Thiên có ranh giới phía bắc là mũi Hoành


Sơn và ranh giới phía nam là đèo Hải Vân (núi Bạch Mã),


vốn là một bức màng ngăn chận khí hậu một cách tự


nhiên. Về phía đông của Bình-Trị-Thiên là khu vực eo


Vương quốc Champa


biển không cao cho lắm, thường là nạn nhân của các luồng


gió, dòng nước, hồ nước mặn và nhất là nạn nhân của các


sóng biển và trận bão nhiệt đới thường xảy ra hàng năm


vào tháng 9 và tháng 10. Phía tây của khu vực này là các


ngọn núi với các đỉnh cao vượt từ 1200 đến 1500 thước.


Buồng ngăn này bao gồm nhiều vùng đồng bằng (Ròn,


Đồng Hới, Lệ Thủy, Thừa Thiên, v.v..) mà bề ngang


không bao giờ vượt quá 20 cây số mà phần đất phì nhiêu


để canh tác thường bị thu hẹp lại và được tưới bởi nhiều


dòng nước.


Về phía nam của đèo Hải Vân là khu vực Đà Nẵng


(Tourane) có biên giới phía nam là núi Chùa, biên giới


phía tây là đỉnh núi với bề cao hơn 1000 thước. Bên cạnh


chân núi có nhiều gò cao lớn và nhỏ. Về phía đông là các


hồ nước mặn với các cồn cát của bờ biển. Ở trung tâm là


đồng bằng của tỉnh Quảng Nam gồm các thung lũng rộng


lớn chạy dọc theo các bờ sông của nó. Đất đai phì nhiêu


của đồng bằng thường sản xuất nhiều vụ mùa lúa quan


trọng. Giữa các thế kỷ VII và XIII, vùng này là trung tâm


văn hóa và chính trị của vương quốc Champa. Các di tích


lịch sử nằm ngổn ngang trên khu vực Trà kiệu, quần thể


Mĩ Sơn và Đồng Dương v.v. cấu thành những yếu tố cụ thể


để chứng minh cho lý thuyết của chúng tôi.


Về phía nam của núi Chùa là đồng bằng Quảng


Ngãi. Vùng này được tưới nước bởi những dòng sông nhỏ,


thường bị ngăn cách với nhau bởi các dãy núi đá cứng.


Địa dư


Các con sông này vào mùa mưa thường hay lũ lụt và vào


mùa khô thì khô ráo. Các dấu tích còn hiện hữu nằm trong


tiểu vương quốc Amaravati, tức là khu vực Quảng NamQuảng


Ngãi, đã giải thích thế nào là công trình dẫn thủy


nhập điền vô cùng đồ sộ mà vua chúa Champa đã thực


hiện trong quá khứ.


Ở phía nam Quảng Ngãi là đồng bằng bị ngăn lại ở


phía tây bởi các ngọn núi Bình Định có chiều cao từ 1000


đến 1500 thước. Nằm ngay bên chân núi là cánh đồng


ruộng lúa bậc thang chồng lên nhau từng lớp được xem


như là một kỹ thuật dẫn thủy nhập điền của tiểu vương


quốc Vijaya tồn tại cho đến năm 1471. Phía nam của cánh


đồng này là đèo Cù Mông. Phía đông của nó là bờ biển


san hô và một số mỏm đá lởm chởm. Từ bắc xuống nam


của khu vực này có nhiều cánh đồng, như cánh đồng Bồng


Sơn, Phú Mỹ và Qui Nhơn, thường bị tách rời với nhau bởi


các mũi núi nhô. Được tưới nước bởi nhiều con sông, các


cánh đồng này cấu thành một khu vực có đất đai rất là


màu mỡ.


Đi xuống về phía nam của tiểu vương quốc Vijaya


(Bình Định) là lãnh thổ của tỉnh Phú Khánh hiện nay thuộc


tiểu vương quốc Kauthara. Khu vực thứ nhất của nó nằm


giữa đèo Cù mông và mũi Varella, nối dài đến hòn Vọng


Phu bao gồm nhiều cánh đồng nhỏ hẹp nằm ép với chân


núi với chiều cao khoảng 1000 thước có vị trí rất gần với


bờ biển ghồ ghề. Một khu vực ngoại lệ là đồng bằng Tuy


Hòa nằm trên châu thổ và trên thung lũng có độ cao trung


bình của sông Đà Rằng. Qua khỏi mũi Varella xuống về


phía nam là những ngọn núi nhỏ biệt lập và những vịnh


nước biển đôi khi rất sâu thường bị khép lại bởi những bán


đảo như vịnh Cam Ranh hay bởi những hòn đảo như vịnh


Nha Trang. Vị trí địa dư này thường làm eo hẹp lại diện


tích của các cánh đồng thiên nhiên, như cánh đồng Ninh


Hòa, Nha Trang hay Ba Ngòi. Vì đất xấu và khô ráo hàng


năm, đồng bằng này không mang lại nguồn sản xuất nông


nghiệp đáng kể. Khu vực thứ hai nằm trong tiểu vương


quốc Kauthara là cồn cát trải dài từ chân núi đến bờ biển.


Qua khỏi khu vực Kauthara (Nha Trang) là đồng


bằng của tiểu vương quốc Panduranga nằm trong hai tỉnh


Ninh Thuận và Bình Thuận hiện nay. Đây là vùng địa dư


có rất nhiều cồn cát, chia thành ba miền riêng biệt. Về


hướng bắc là cánh đồng Phan Rang trải dài đến tận mũi


Dinh còn gọi là Cap Pandaran và bị chặn lại phía tây bởi


các núi đá dốc. Cánh đồng này có những ngọn núi rải rác


và biệt lập, ăn nước sông Kinh Dinh và các phụ lưu của


nó, nhưng chịu sức nóng do ánh sáng mặt trời gay gắt và ít


mưa. Lượng nước trung bình ít hơn 700 mm, vì dãy trường


sơn và hướng biển đã ngăn nó khỏi các cơn mưa mùa


đông. Đồng bằng Phan Rang là khu vực thường bị áp đảo


bởi các luồng gió khô ráo, thường trở thành một vùng địa


dư có khí hậu rất là khô hạn, đòi hỏi việc cung cấp nước


để trồng trọt. Chính vì thế, công việc dẫn thủy nhập điền


đã trở thành một ngành kỹ nghệ nông nghiệp hàng đầu


của người dân Panduranga xưa kia. Phía đông của cánh


đồng này là cồn cát chạy dài đến tận Mũi Dinh tiếp nối


với ruộng muối Cà Ná đã được khai thác từ nhiều thế kỷ


qua. Và cuối cùng là tiểu cánh đồng Tuy Phong. Về phía


nam của Tuy Phong là cánh đồng Phan Rí có hiện tượng


khí hậu rất gần gũi với khu vực ở Phan Rang. Cánh đồng


này bị giới hạn về phía đông bởi các bờ biển đất cát và


phía tây bởi núi đồi. Lượng nước mưa của nó gia tăng từ từ


khi đi vào miền nam, nhưng không kém hơn đồng bằng


Phan Rang. Hết khu cồn cát là cánh đồng Phan Thiết rộng


hơn bốn lần so với cánh đồng Phan Rí. Mặc dù với lượng


nước mưa trung bình 1200 mm hằng năm và được tưới bởi


nhiều dòng sông ngắn, cánh đồng này cũng cần hệ thống


dẫn thủy nhập điền để phát triển nông nghiệp, bởi vì đất


đai canh tác của nó là đất cát nằm chồng lên lớp đất biển.


Sau cánh đồng Phan Thiết là cồn cát nằm phủ lên


các bờ biển và các bãi cát nối tiếp với các vùng đầm lầy.


Khu vực hoang vu này là biên giới tự nhiên giữa Trung


Việt và Nam Việt và cũng là biên giới phía nam của


Champa trước đây.


Nhìn qua bản đồ địa hình của Trung Việt xưa kia,


người ta có thể đưa ra kết luận rằng diện tích đồng bằng


đất thấp của Champa rất thu hẹp, vì dãy Trường Sơn chạy


dài từ mũi Hoành Sơn nằm quá kề cận với vùng biển đã


làm rút ngắn lại chiều dài của các con sông. Ngoài ra, các


độ dốc từ vùng núi thường bị các dòng nước thượng lưu


khoét mòn, mang theo đá sỏi và cát bồi xuống vùng đất


thấp. Những vật liệu này, nhất là ở miền trung, đã tô bồi


các vịnh nước, các hồ nước mặn và cuối cùng cấu thành


các đồng bằng hiện tại. Ngược với dòng nước thượng lưu,


các dòng hạ lưu của các con sông này có một độ dốc rất là


yếu kém cho nên đôi khi khó kiếm một lối thoát ra biển


và thường băng qua các khoảng cách rất dài chạy song


song với biển trước khi thoát vào đại dương.


Ai cũng biết rằng khí hậu hải phận của Champa rất


nóng nực và ẩm thấp. Nhiệt độ trung bình thay đổi giữa 30


độ C vào tháng bảy Tây Lịch và 20 độ C vào tháng giêng


Tây Lịch, nhưng nhiệt độ tối đa nằm giữa 40 độ C và 15


độ C ở Huế. Khí hậu này chịu ảnh hưởng của gió mùa.


Vào mùa đông, các luồng gió thổi từ đông-bắc sang tâynam


và vào mùa hạ, từ tây-nam sang đông-bắc. Các luồng


gió này có tác dụng đến sự sinh hoạt của nghề hàng hải


cho đến sự ra đời của ghe thuyền chạy bằng hơi nước. Về


lượng nước mưa, nó thay đổi tùy theo vĩ tuyến cũng như


hướng biển và hướng núi. Các cơn mưa diễn ra tối đa từ


tháng chín đến tháng giêng Tây Lịch ở ven biển miền


trung và từ tháng mười đến tháng mười hai Tây Lịch ở


miền nam. Lịch trình của các mùa mưa này phát xuất từ hệ


thống gió mùa diễn ra vào mùa đông, từ áp lực không khí


rất là đặc biệt và nhất là từ các trận bão nhiệt đới - trung


bình chín trận hằng năm - thường hay càn quét bờ biển


vào tháng mười và mười một. Ngược lại, vào mùa hạ là


mùa khô kéo dài một thời gian khá lâu, bồi thêm bởi các


ngọn gió nóng cháy da từ hướng tây thổi xuống theo các


khe núi của dãy Trường Sơn. Tình trạng mùa khô càng


ngày càng gia tăng bởi sự bốc hơi quá cao.


Các lớp đất của vùng đồng bằng thường là đất phù


sa. Số còn lại thường chứa một loại đất đá cứng và một số


khác rất hiếm chứa loại đất đá bazan của núi lửa. Loại đất


thứ nhất thường rút nước rất nhanh, bởi vì nguyên liệu


gồm có đất cát. Càng xuống về phía nam thì nguyên liệu


đất cát càng tăng thêm. Cộng với các yếu tố sinh thái địa


phương, loại đất này chỉ nuôi dưỡng cho một loại cây cối


thường có gai. Bởi vì thế, nếu muốn biến khu vực này


thành đất đai để trồng trọt thì người ta phải phát triển


mạnh việc dẫn thủy nhập điền. Đây là công trình mà


người dân Champa sống ven biển trước kia đã từng thực


hiện. Các di tích còn lưu lại tại miền trung Việt Nam cho


đến hôm nay đã chứng minh cho các nổ lực về kỹ thuật


dẫn thủy nhập điền mà vương quốc Champa đã từng phát


triển nhằm khai thác các khu vực quá khô ráo (Nguyen


Thieu Lau, “Les étangs desséchés de la réion de MườngMán”,


trong Institut Indochinois pour l'Etude de l'Homme


V-1, 1942, trg. 131-134 + 5 planches). Tuy nhiên ngành kỹ


nghệ này vẫn không bao giờ cho phép phát triển nhanh


chóng việc sản xuất nông nghiệp để làm gia tăng dân số


của vương quốc Champa.


Vùng cao nguyên của Champa


Miền tây của đồng bằng duyên hải Trung Việt có


một hình thái thiên nhiên rất khác biệt giữa phía bắc và


phía nam của núi Bạch Mã (Thừa Thiên và Đà Nẵng). Về


phía bắc của núi này, các đồi đá cứng xuất hiện giống các


mắc xích theo hướng tây-bắc / đông-nam (núi Voi Mẹp,


núi Đông Ngai). Về phía nam là khu vực có các đồi núi


(núi Chùa ở Quảng Ngãi, núi Kontum, núi Ba ở Bình


Định), kết hợp thành một dãy rất cao và có độ dốc đứng


thẳng theo chiều bắc nam xuống các vùng đất thấp. Về


phía tây của độ dốc này là dãy cao nguyên trùng điệp. Bắt


đầu từ núi Vọng Phu đến mũi Varella là khu vực địa dư có


hình thái xếp ngang xuất phát từ những ngọn núi Châk


Yang, núi Bi Dup (Khánh Hòa), núi Langbian (Lâm


Đồng), núi Brah Yang, núi Yung (Bình Thuận) chạy dài


liên tục, hết núi này sang núi kia, đi xuống về phía bờ biển


tạo thành các vùng đồng bằng nhỏ hẹp như đã đề cập ở


phần trên.


Mặc dù không hoàn toàn là một dãy Trường Sơn


(cordillère) mà ngược lại là mép rìa (rebord) của cao


nguyên hướng về phía nước Lào có độ cao không quá


2610 mét, các dãy đỉnh cao này chạy dài từ ngọn núi


Ataouat (2500 mét) nằm trên bắc vĩ tuyến 16 cho đến núi


Vọng Phu (Nha Trang) kết thành một bức màng ngăn chận


khí hậu giữa miền duyên hải của miền trung Việt Nam


chịu ảnh hưởng của gió mùa cũng như các trận bão nhiệt


đới và nước Lào có thời tiết mùa đông hoàn toàn khác


hẳn.


Tựa lưng vào tuyến cao điểm ngự trị cả đồng bằng


duyên hải bắt đầu từ núi Bạch Mã là khu vực bao gồm


những vùng cao nguyên đi xuống thoai thoải từng chồng,


chạy về mạn sông Cửu Long (Mékong).


Cao nguyên đầu tiên của Tây Nguyên là cao


nguyên Kontum mà phần phía nam trải dài ra khỏi biên


giới Pleiku đã nhận một lượng nước mưa trung bình 2500


mm giữa năm 1950 và năm 1960. Cao nguyên này có


chiều cao không quá 800 mét là khu vực có núi lửa hoạt


động xưa kia đã lưu lại các di tích của chóp núi lửa như núi


Hodrung, các hồ nước trên miệng núi lửa như hồ Tonueng


và các đất đai thích hợp cho việc trồng trọt. Các vùng đất


này xưa kia là rừng rậm mà một phần bị con người tàn


phá. Vào năm 1950, người ta thấy khu vực này có nhiều


chỗ bị tàn phá để biến thành rừng cây tre, như cao nguyên


Pleiku (vùng Gia Lai). Về phía đông cao nguyên này là


bậc thềm đi xuống đồng bằng duyên hải như vùng An Khê


với độ cao khoảng 400 mét ăn nước tưới dồi dào và có một


ngọn đèo mang tên đèo An Khê tiếp giáp bờ biển, với độ


cao ngang với Qui Nhơn. Về phía nam của cao nguyên An


Khê là thung lũng Cheo Reo (Phú Bổn) trải dài theo các


con sông Ya Ayun và sông Ba, tức là nơi cao điểm của


sông Đà Rằng chảy xuống biển gần Tuy Hòa.


Tiếp theo cao nguyên Kontum chạy xuôi về phía


nam là cao nguyên Dak Lak đã tiếp thu vào các năm


1950-1960 một lượng nước trung bình 1500 mm. Với độ


cao từ 600 đến 700 mét, cao nguyên này hiện ra giữa


Cheo Reo và Ban Mê Thuột như một tấm thảm đá bazan


hơi gợn sóng. Đất trồng của nó rất màu mỡ ăn nước sông


Srê Pốc (Srépok) thượng, một phụ lưu của sông Mé Kong,


bị cắt đoạn bởi nhiều thác nước như thác Dray Hlinh. Càng


đi sâu về phía nam, người ta thấy những thung lũng rộng


lớn lẫn lộn với những khu vực có mô hình không rõ rệt


thường hiện ra các hồ nước, như hồ Lak, các ao nước và


các đầm lầy. Về phía đông của cao nguyên này là khu vực


bậc thềm kết hợp với các vùng đất thấp, vùng đất sụp của


Khánh Dương (M'Drak) cấu thành một đồng bằng khoáng


chất với đá bazan mà đèo Yok Kao (Phượng Hoàng) mở


cửa xuống vùng Ninh Hòa. Gần một thế kỷ qua, ngoài các


khu vực đã được sử dụng để trồng trọt, đất đai chung của


vùng này, nhất là khu vực phía bắc, vẫn còn là quang cảnh


của những khu rừng thưa, những bãi trống, những đồng cỏ


và về phía nam là những khu rừng rậm rất tươi tốt.


Về phía nam của cao nguyên Dak Lak là một loạt


các đỉnh núi lửa mà một số có độ cao đến 2400 mét, như


ngọn Chưk Yang, ngự trị trên một cao nguyên gọi là cao


nguyên Langbian với độ cao trung bình là 1500 mét. Cao


nguyên này với độ cao rất gồng gềnh, gồm các loại đá núi


lửa mà một số tác giả còn gọi cao nguyên Đà Lạt, có


nhiều thung lũng và hồ nước như hồ Mê Linh và thác nước


như thác Cam Ly. Cao nguyên này là khu vực trù phú phát


xuất từ các rừng thông, các bãi cỏ, các hoa mầu. Về phía


đông nam, cao nguyên này chạy dài về phía biển theo một


loạt khu đất bậc thang (terrasse), chẳng hạn khu đất bậc


thang Dran (Đồn Dương) rất là nổi tiếng. Nếu cao nguyên


này đi về các hướng khác, thì nó thường chấm dứt bằng


các sườn núi hơi dốc đứng.


Về phía tây của cao nguyên Langbian là cao


nguyên ba biên giới Đak Nông, còn được gọi là cao


nguyên Chhlong thượng. Thực ra nó chỉ nối dài cao


nguyên Dak Lak về cạnh nam-tây-nam và có quang cảnh


của các ngọn đồi phủ lấp bởi đá sạn. Với độ cao trung bình


1000 mét, cao nguyên này bị chia cắt thành những thung


lũng sâu với các bờ sườn có độ dốc đứng. Phủ lớp bởi đá


cát, đá xít (diệp thạch) và đôi lúc bởi đá bazan, đất đai của


ba biên giới Đak Nông không phì nhiêu cho lắm. Thêm


vào đó, nhiều sườn núi dốc đứng của nó đã tạo ra những


con lạch vào mùa mưa và tình trạng thiếu nước vào mùa


hạn.


Về phía nam cao nguyên Langbian là cao nguyên


Di Linh hiện ra như là bực thang thấp của Langbian. Với


độ cao từng bậc giữa 800 mét và 1000 mét, cao nguyên


này là một đồng bằng lõm gồm có đá cát và đá bazan, bị


chia cắt thành nhiều khu vực bởi con sông Đồng Nai


Thượng và các phụ lưu của nó tạo ra. Cao nguyên Di Linh


thường có những thung lũng với đất đai trồng trọt rất là


màu mỡ. Ăn nước mưa dồi dào với lượng nước mưa trung


bình hằng năm là 2115 mm, cao nguyên này là khu vực


rừng rậm lúc ban đầu tại các vùng cao, nhưng thường


nhường chỗ cho các khu rừng xuống cấp do con người gây


ra.


Khí hậu miền cao nguyên ở miền trung Việt Nam


thay đổi theo từng vùng. Nhưng đại thể, người ta ghi nhận


rằng từ tháng năm đến tháng chín Tây Lịch là mùa ẩm


thấp với mây mưa và sương mù. Vào tháng mười cho đến


tháng tư thì là mùa khô, tức là thời kỳ tươi mát nhất tùy


theo độ cao. Cao nguyên Langbian, nhiệt độ thường xuống


đến 10 độ C vào tháng hai. Nhiệt độ trung bình hằng năm


thay đổi tùy theo kinh tuyến và vĩ tuyến (+20 độ C / -2 độ


C ở phía bắc cao nguyên Kontum và 24,6 độ C trung bình


để rồi xuống cho đến 8 độ C tại trung tâm của cao nguyên


Đắk Lắk).


Cho đến thế kỷ XX, các vùng cao nguyên này vẫn


là khu rừng rậm với nhiều hương thơm khác biệt gồm các


loại cây hương trầm như loại cây aloès, cây bàng, cây


santal cấu thành một thị trường dành cho nguời Ả Rập và


người Nhật. Cao nguyên này cũng có nhiều loại thú rừng


như con voi tại cao nguyên Dak Lak, vùng ba biên giới và


Di Linh mà các chiếc ngà đã được xuất khẩu đi khắp Á


Châu; bò rừng và trâu rừng trên các cao nguyên Kontum,


An Khê và Langbian; con họ hươu (cervidé) trên khắp cao


nguyên và bình nguyên; cọp rừng mà da của nó thường ghi


lại trong danh dách hàng hóa của thương thuyền di chuyển


từ Đà Nẵng đến Malithit (Phan Thiết) trong vương quốc


Champa thời đó; con tê giác mà sừng và xương cốt của nó


cấu thành các món hàng thương mại rất quí giá.


Đến giữa thế kỷ XX, dân cư trên các vùng cao


nguyên Kontum, Pleiku, Dak Lak, Dinh Linh và vùng Ba


Biên Giới chỉ gồm những người dân bản địa Đông Dương.


Họ chuyên sống về nông nghiệp phá rừng làm rẫy du canh


theo mùa, di chuyển từ vùng này sang vùng khác sau khi


đất đai đã hết màu mỡ. Tỉ lệ dân số trong vùng này rất


thấp và nơi cư trú rất là thưa thớt (J. Boulbet, “Le Miir,


culture itinérante sur brulis avec jachère forestière en pays


Maa”, đăng trong tạp chí Bulletin de l'École Francaise


d'Extrême Orient LIII-1, 1966, trg 77-98).


*


Như chúng ta vừa nhìn qua, đồng bằng nằm dọc


theo bờ biển của Champa có ít đất trồng trọt và vì thế chỉ


có thể cung cấp một sản lượng nông nghiệp rất là hạn chế


và cố định. Sản lượng nông nghiệp là yếu tố góp phần vào


việc gia tăng dân số rất nhanh chóng, với điều kiện là


vương quốc Champa phải gia tăng diện tích trồng trọt.


Nhưng vì lý do tôn giáo, Champa không thể mở rộng đất


đai của mình ra khỏi biên giới được qui định bởi thần linh


của vương quốc này. Chính đó là nguyên nhân giải thích


tại sao các cuộc chiến do Champa khởi xướng không phải


là cuộc chiến xâm chiếm đất đai. Và sau những cuộc chiến


thắng quân sự, vương quốc này cũng không bao giờ sáp


nhập đất đai của nước láng giềng thua trận vào lãnh thổ


của quốc gia mình (“La notion de frontière dans la partie


orientale de la peninsule indochinoise” trong tác phẩm Les


frontières du Vietnam, Paris, L'Harmattan, 1989, trg. 18-


19). Điều này cũng giải thích thêm tại sao dân số tại các


vùng đồng bằng Champa đã không thay đổi trong suốt


chiều dài của lịch sử.


Cao nguyên của Champa bao gồm nhiều khu vực


rộng lớn chứa nhiều rừng rậm, nhưng dân cư của vương


quốc này không biết cách khai thác, chỉ bám vào hệ thống


nông nghiệp cổ truyền bằng cách đốt rừng khai hoang để


chuẩn bị đất trồng. Phương pháp này không cho phép phát


triển ngành trồng trọt một cách liên tục trên một khu đất vì


chu kỳ màu mỡ của lớp đất chỉ có giới hạn. Chính đó là


nguyên nhân làm suy giảm năng suất thu hoạch. Đây cũng


là yếu tố đã làm cho dân số đọng lại nếu không canh tân


hệ thống sản xuất như chính sách nông nghiệp đã từng


phát triển vào giữa thế kỷ XX.


Điểm cuối cùng mà người ta không thể bỏ qua


được đó là sự chia cắt đất đai vùng ven biển bởi trạng thái


thiên nhiên của địa dư và hệ thống sản xuất đốt rừng khai


hoang trên các vùng cao nguyên đã ngăn trở việc liên đới


chặt chẽ giữa các dân cư Champa. Tại miền duyên hải,


dân cư sinh sống ít khi liên hệ với nhau vì các chướng ngại


núi non mặc dù có thể vượt qua dễ dàng. Trên cao


nguyên, các dân cư cũng bị cô lập từng khu vực bởi các


vùng đất bỏ hoang chờ cho đất mầu tái sinh.


Hằng bao thế kỷ qua, yếu tố địa dư đã làm trì hoãn


đi đà phát triển dân số và hệ thống tổ chức của xã hội


Champa. Trong khi đó, bên kia phía bắc ranh giới của


Champa, dân tộc Việt làm chủ một địa bàn canh tác vô


cùng rộng lớn bao gồm châu thổ của sông Hồng Hà cũng


như các đồng bằng miền bắc như vùng Thanh Hóa chẳng


hạn, và không ngừng sản xuất vụ mùa hằng năm. Đó cũng


là yếu tố đã làm gia tăng dân số dân tộc Việt một cách


nhanh chóng và phát triển hệ thống liên đới của họ một


cách chặt chẽ hơn. Một khi cuộc chiến bùng nỗ giữa hai


quốc gia lân bang, vấn đề địa dư đã trở thành một yếu tố


thuận lợi cho phía Đại Việt và bất lợi cho vương quốc


Champa.


Hoàn toàn trái ngược với các lý thuyết đã đưa ra


gần một thế kỷ qua, vương quốc Champa không những bao


gồm các phần đất nằm ở ven biển của miền trung Việt


Nam hiện nay mà kể cả dẫy Trường Sơn (Codillère


Annamitique) và vùng cao nguyên tiếp nối với nó. Dựa


vào yếu tố địa dư này, người ta đưa ra kết luận rằng dân cư


Champa kết hợp không những người dân sinh sống ở vùng


đồng bằng mà còn bao gồm cả dân cư của vùng cao


nguyên, thường gọi là người Thượng (Montagnards) hay là


người bản xứ Đông Dương (Proto-Indochinois). Chính vì


thế, vương quốc Champa không phải một là đất nước riêng


của người Chăm mà là một quốc gia đa chủng gồm cả dân


tộc Tây Nguyên, trong đó mỗi sắc dân thường đóng một


vai trò riêng biệt trong tiến trình lịch sử của vương quốc


này mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới đây.


Nguồn gốc


Vào đầu kỷ nguyên của Tây Lịch, người ta không


biết nhiều về nguồn gốc dân cư sinh sống trong lãnh thổ


xưa kia của Champa. Các bản văn Trung Hoa được xem


như là nguồn sử liệu duy nhất nhưng cũng chỉ nói một cách


sơ lược liên quan đến dân tộc sinh sống trong khu vực nằm


giữa Hoành Sơn (Porte d’Annam) và đèo Hải Vân. Theo


tài liệu này, đây là khu vực nằm về phía nam của biên giới


Trung Hoa mà dân cư bao gồm một số người Trung Hoa


nhập cư và đa số còn lại chiếm phần quan trọng là dân


bản địa ở vùng ven biển và trên cao nguyên có cuộc sống


rất gần gũi với nhau. Theo tác phẩm Jinshu (trang 57, 4b.


Bản dịch của Paul Pelliot), “những người bản địa này cấu


thành từng nhóm biết hỗ trợ lẫn nhau”. Hơn nữa các tài


liệu trên gọi họ là dân tộc “man rợ” (barbare), vì rằng đối


với tác giả Trung Hoa thời đó, tất cả những ai không phải


là người Trung Hoa hay không mang sắc thái của nền văn


minh Trung Hoa đều bị gán cho cụm từ là “người man rợ”.


Tài liệu trên cũng qui luôn cả người Khu Liên (Qulian)


vào nhóm “man rợ” này, một thuật ngữ để ám chỉ cho tộc


người có nước da rám nắng.


Riêng về dân tộc sinh sống trên lãnh thổ nằm về


phía nam của núi Bạch Mã (Huế), một số tài liệu khảo cổ


đã nêu ra vài chi tiết khá rỏ ràng hơn. Theo tài liệu này,


các hài cốt dưới thời thượng cổ được tìm thấy trên Tây


Nguyên nằm về phía tây của dẫy Trường Sơn là những hài


cốt của người bản địa Mã Lai (Proto-Malais) có sọ đầu dài


(dolichocé phales) với thân hình vạm vỡ. Ngay từ thời kỳ


đá mới (néolithique), họ là dân bản địa Đông Dương


(Proto-Indochinois) duy nhất đã từng làm chủ khu vực Tây


Nguyên và tồn tại cho đến giữa thế kỷ XX. Bên cạnh đó,


người ta cũng tìm thấy các hài cốt ở vùng ven biển có


nguồn gốc nằm trong thành phần dân bản địa Mã Lai


(Proto-Malais) có đầu dài và di trú đến Champa đợt thứ


hai nhưng lại pha trộn với một số yếu tố của chủng tộc


Mông Cổ do các người nhập cư gốc Trung Hoa mang đến.


Vào thời kỳ đá mới (néolithique), sau khi tiếp thu nhiều


nguồn văn minh của thời tiền sử vào đầu kỷ nguyên Tây


Lịch, những người bản địa Mã Lai (Proto-Malais) này đã


trở thành một tập thể chủng tộc mà người Âu Châu thường


dùng thuật ngữ Việt Nam để gán cho họ là người Chăm,


trong khi đó cụm từ “Chăm” hoàn toàn bị lãng quên trong


ngôn ngữ của dân tộc Tây Nguyên và cũng không bao giờ


xuất hiện trong các bia ký hay trong các bản văn xưa viết


bằng tay tại vương quốc Champa. Cụm từ thường sử dụng


để ám chỉ cho thần dân của vương quốc Champa xưa kia là


Urang Champa (urang = người, cá nhân) chứ không phải


là Urang Cham tức là người Chăm như một số nhà khoa


học thường hiểu lầm. Hơn một thế kỷ qua, cũng vì việc sử


dụng từ “Chăm” là cách nuốt âm (apocope) của từ


“Champa” để ám chỉ một sắc dân cư ngụ từ xưa tại vùng


duyên hải Champa đã trở thành một thông lệ, thành ra


người ta tiếp tục dùng từ “Chăm” này với ý nghĩa mang


tính đặc trưng để ám chỉ chung những gì thuộc về Champa,


không nhất thiết thuộc về dân tộc Chăm hôm nay.


Ngôn ngữ


Các dữ kiện khảo cổ học cho rằng những dân cư


bản địa Mã Lai (Proto-Malais) có mặt trên lãnh thổ


Champa xưa kia đã sử dụng một hay nhiều ngôn ngữ thuộc


gia đình Mã Lai Đa Đảo (proto-malayo-polynesienne).


Qua các tiến trình phát triển, ngôn ngữ này đã biến thành


một gia đình ngôn ngữ mới trong đó có tiếng Chăm (được


sử dụng bởi người Chăm sinh sống tại các vùng đồng


bằng) và các thổ ngữ cùng chung một nguồn gốc với tiếng


Chăm, như tiếng Jarai, Êđê, Churu, Raglai, Hroi, được sử


dụng bởi các dân cư của vùng cao thuộc miền trung-bắc


của bán đảo Đông Dương.


Tiếng Chăm đã có mặt tại vương quốc Champa vào


thế kỷ thứ IV. Xưa kia, tiếng Chăm là ngôn ngữ được lưu


hành từ Hoành Sơn đến vùng Biên Hòa. Nhưng hôm nay,


ngôn ngữ Chăm chỉ còn lưu hành tại các thôn ấp người


Chăm trong hai tỉnh Ninh thuận và Bình Thuận cũng như


tại thung lũng Nam Vang và chung quanh tỉnh Kampot của


Kampuchea. Tiếng Chăm thuộc gia đình ngôn ngữ Mã Lai


Đa Đảo (autronésien), mặc dù chứa đựng một số yếu tố


thuộc gia đình Châu Á Ngữ (austoasiatique). Ngôn ngữ


Chăm đã phát triển theo đà tiến hóa rõ ràng, đặc biệt nhất


là sự xuất hiện các phụ âm phát từ trước cổ họng


(préglottalisé) và việc vay mượn nhiều từ của Phạn ngữ,


Việt ngữ và tiếng Khmer, để rồi hôm nay tiếng Chăm


không gần gũi với tiếng Mã Lai như xưa kia nữa.


Ngôn ngữ Chăm xuất hiện lần đầu tiên trên một


bia ký (thế kỷ thứ IV) viết bằng tiếng Chăm cổ đại (vieux


cham) được phát hiện gần Trà Kiệu trong tỉnh Quảng


Nam-Đà Nẵng hiện nay (G. Coedès, “ La plus ancienne


inscription en langue chame” trong New Indian Antiquary,


Extra Series I, 1939, trg. 46-49). Chữ viết của tấm


bia này phát sinh từ chữ viết Devanagari của Ấn Độ mà


vương quốc Champa thường dùng để khắc trên các bia đá


song song với tiếng Phạn cho đến thế kỷ thứ XV, tức là


niên đại đánh dấu cho sự biến mất hoàn toàn tiếng Chăm


cổ đại để thay thế vào đó chữ Chăm trung đại (Cham


moyen) và sau là chữ Chăm cận đại (Cham moderne) tập


trung bốn dạng khác nhau gọi là: akhar rik, akhar yok,


akhar tuel và akhar srah (tức chữ viết phổ thông). Chữ


Chăm cận đại thường được sử dụng trước tiên trên mặt lá


buông (olles) sau đó trên giấy (P.B. Lafont, Po Dharma và


Nara Vija, Catalogue des manuscrits cam des bibliothèques


francaises, Paris, Publications de l’Ecole Francaise


d’Extrême-Orient, vol CXIV, 1977, trg 2, 6-8 và sách cổ


Chăm mang ký hiệu CM 23-2). Tại Việt Nam hôm nay,


ngôn ngữ viết (langue écrite) và ngôn ngữ nói (langue


parlée) của người Chăm có nhiều sự khác biệt đáng kể.


Ngôn ngữ viết Chăm đã trải qua nhiều tiến trình phát triển


nhưng còn giữ nguyên những yếu tố cơ bản rất gần gũi với


hệ nguyên thủy của ngôn ngữ Mã Lai Đa Đảo trong khi đó


ngôn ngữ nói của dân tộc này thì bị đơn tiết hóa


(monosyllabisme) qua các cuộc tiếp xúc với tiếng Việt mà


người Chăm đã học trong các trường lớp và sử dụng nó


như tiếng phổ thông hằng ngày. Tại Campuchia, tiếng nói


và chữ viết mà người Chăm đang sử dụng đã chịu ảnh


hưởng sâu đậm tiếng Khmer.


Trên Tây Nguyên, trong thời kỳ này dân cư


Champa sử dụng hai ngôn ngữ rất khác biệt nhưng chưa có


chữ viết, đó là hệ ngữ thuộc nhóm Chamic (nhóm ngôn


ngữ của tiếng Chăm) thuộc gia đình ngôn ngữ Mã Lai Đa


Đảo (austronesien) như tiếng Jarai, Êđê, Churu, Raglai và


Hroi và một hệ ngữ khác, cũng khá quan trọng, của nhóm


Môn-Khmer thuộc gia đình ngôn ngữ Đông Nam Á-Châu


(austroasiatique). Ngôn ngữ Jarai, Êđê, Churu, Raglai và


Hroi thuộc nguồn gốc Mã Lai Đa Đảo nhưng rất gần gũi


với tiếng Chăm cổ đại hơn là tiếng Chăm cận đại. Ngôn


ngữ này là tiếng nói rất thịnh hành trên khu vực Tây


Nguyên so với ngôn ngữ thuộc gia đình Đông Nam Á-


Châu. Những bia ký viết bằng Phạn ngữ và Chăm ngữ cổ


đại cho rằng những người sinh sống trên Tây Nguyên là


dân tộc sử dụng ngôn ngữ Chamic, có sự liên hệ rất gần


gũi với ngưởi Chăm ở đồng bằng kể từ thế kỷ thứ XII,


trong khi đó văn chương truyền khẩu của dân tộc Tây


Nguyên dùng ngôn ngữ Đông Nam Á-Châu thường nói


đến các mối quan hệ gay gắt trong quá khứ giữa cộng


đồng này và sắc dân Chăm sinh sống ở đồng bằng.


Dân số


Như chúng ta đã thấy, miền duyên hải của Champa


là khu vực định cư của dân tộc Chăm, bao gồm có các


vùng đất rất hạn hẹp và không mấy thuận lợi cho việc


trồng trọt. Nó chỉ cung cấp một số lượng hoa mầu giới hạn,


không giúp cho việc gia tăng dân số một cách nhanh


chóng nếu dân tộc này không tìm cách khai khẩn các vùng


đất mới. Tiếc rằng người Chăm không bao giờ làm chuyện


đó, vì lý do tôn giáo mà chúng tôi đã nêu ra ở phần trên.


Theo truyền thống tín ngưỡng, người Chăm không có


quyền định cư bên ngoài biên giới thôn xóm của họ, tức là


địa bàn dân cư đã được qui định bởi các thần linh phù hộ


cho thôn xóm này. Chính vì thế, họ không dám nới rộng


đất đai ra khỏi biên giới truyền thống, vì sợ không còn


hưởng quyền bảo bộ của thần linh Champa nữa. Điều này


khiến cho biên giới của các làng xã và ngay cả biên giới


của quốc gia Champa trở thành biên giới cố định và vĩnh


viễn, không bao thay đổi. Chính đó cũng là nguyên nhân


đã giải thích tại sao dân số của Champa tại các vùng đồng


bằng không hề thay đổi trong quá trình lịch sử.


Trái ngược với vùng duyên hải, khu vực cao


nguyên Champa có diện tích rộng mênh mông, nhưng


người dân bản địa sống ở nơi đó chỉ biết khai khẩn đất đai


theo hình thức du canh đốt rừng làm rẫy, tức là công thức


canh tác hoa màu một cách liên tục trong một thời gian


vào khoảng 3 năm sau đó phải bỏ hoang từ 15 đến 20 năm


để cho đất đai này trở lại mầu mỡ (P-B. Lafont, “


L’agriculture sur brulis chez les proto-indochinois des


hauts plateaux du centre Vietnam”, đăng trong Les cahiers


d’Outre-Mer. Revue de Géographie, Tome XX, 1967, trg.


37-50). Chính vì thế, dân tộc bản địa sống ở miền cao của


Champa không thể gia tăng đất đai trồng trọt cũng như


dân số của họ một cách nhanh chóng.


Những yếu tố vừa nêu ra đã chứng minh rằng tỷ lệ


dân số Champa không thay đổi cho đến thời kỳ cáo chung


của nền văn minh Ấn Giáo vào thế kỷ thứ XV. Nếu người


ta không biết rõ dân số của thần dân Champa vào thế kỷ


XVI-XIX là bao nhiêu, thì người ta cũng không biết chỉ số


thật sự của dân tộc Champa là bao nhiêu trong suốt chiều


dài của lịch sử. Cũng vì quá chú tâm đến các sự kiện mang


nội dung Ấn Giáo, các bia ký Champa chỉ nhắc đến một


cách tình cờ vài biến cố liên quan đến dân cư trong vương


quốc này. Nếu tư liệu này có nêu ra một vài chỉ số dân cư


đi nữa, thì đây chỉ là tổng số quân địch thua trận trên bãi


chiến trường, với số lượng đôi lúc được phóng đại để


nhằm tâng bốc và tôn vinh các nhà lãnh đạo Champa


thắng trận thì đúng hơn (L. Finot, “Les inscriptions de Mĩ-


sơn XXI A & B” trong BEFEO IV, 1904, trg 965). Theo


biên niên sử Việt Nam, quân đội Champa trước thế kỷ thứ


XV có vào khoảng một trăm ngàn người, nhưng đây chỉ là


con số mang tính chất suy đoán không biểu tượng cho số


lượng quân lính thật sự của vương quốc Champa thời đó.


Riêng dân số của thủ đô Champa vào thế kỷ thứ XV, biên


niên sử Việt Nam nêu ra hai lần. Lần đầu, tài liệu này cho


rằng Thành Đồ Bàn (Vijaya) có vào khoảng 2500 gia đình


(tương đương khoảng mười ngàn người) và lần thứ hai, bảy


mươi ngàn người.


Vào cuối thế kỷ XX, người ta cũng không biết một


cách chính xác số lượng người Chăm và người Tây


Nguyên ở miền trung Việt Nam. Những con số do các nhà


nghiên cứu và các viện thống kê chính thức hay bán chính


thức đưa ra chỉ là con số phỏng chừng và đôi lúc thêm bớt


để xác minh cho lý thuyết của họ mà thôi. Thí dụ điển


hình là dân số người Chăm tại Việt Nam xuất hiện trong


các tài liệu thường thay đổi từ 76 000 người (Cao Xuân


Phổ, Hanoi, 1988) cho đến 95 000 người Chăm (Po


Dharma, Paris, 1997) trong lúc đó con số 60 000 người


dường như gần gũi với thực tế hơn. Về người Chăm tại


Campuchia, họ là tập thể đã bỏ rơi vùng đồng bằng duyên


hải Champa ra đi lánh nạn từ cuối thế kỷ XV để thoát khỏi


các thảm họa Nam Tiến của dân tộc Việt. Số lượng dân số


của họ cũng là một vấn đề chưa giải quyết thích đáng. Các


nhà nghiên cứu Âu Châu thường nhầm lẫn họ với các


người Mã Lai sinh sống tại Campuchia, tức là hai dân tộc


cùng chung một gia đình ngôn ngữ và tín ngưỡng Hồi Giáo


và thường liên hệ với nhau qua các cuộc hôn nhân hỗn


hợp. Thêm vào đó, các nhà nghiên cứu Âu Châu cũng


không bao giờ đưa ra một con số chính xác hay khoảng


chừng liên quan đến tổng số riêng của người Chăm hay


người Mã Lai tại vương quốc Campuchia, mà chỉ nêu ra


tổng số chung của cộng đồng Chăm-Mã Lai theo Hồi Giáo


mà thôi. Chính vì thế, số lượng dân tộc Chăm và Mã Lai


tại Campuchia vẫn là một lý thuyết mang tính cách trừu


tượng mà thôi. Con số đáng tin cậy nhất mà người ta


thường nghĩ đến là con số của viện điều tra dân số thực


hiện vào năm 1998 thống kê có 250 000 người Khmer


Islam tức là cả người Mã Lai và người Chăm theo đạo Hồi


Giáo cộng lại. Ngược lại với những gì mà người ta thường


đưa ra, chỉ số người Chăm ít hơn người Mã Lai. Kể từ đó,


người ta ước lượng dân số người Chăm tại Campuchia, tức


là tập thể tự cho mình gốc Chăm và nói tiếng nói Chăm,


có vào khoảng 100 000 người.


Từ khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai chấm dứt


vào năm 1975, có vào khoảng 20 000 người Chăm sang


định cư tại Mã Lai và một số lượng nhỏ hơn tại miền tây


của Hoa kỳ và Cộng Hòa Pháp. Hầu như toàn thể các


người tị nạn này là người Khmer Islam đã rời bỏ


Campuchia từ khi quân Khmer Đỏ nắm chính quyền vào


năm 1975. Đa số những người tị nạn này tự cho mình


gốc Mã Lai chứ không phải là Chăm. Một số còn lại,


thường tự giới thiệu mình là người Muslim thay vì người


Chăm Hồi Giáo. Còn những người Chăm ti nạn ở nuớc


ngoài xuất thân từ miền trung Việt Nam thì có số lượng


rất ít. Họ đã bỏ xứ ra đi vì sợ bị trả thù sau biến cố 1975.


(còn tiếp)


Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont. Bản Việt ngữ trên champaka.info


 

trieuxuan.info