Champa đối đầu với Đại Việt
Cũng vì không còn bia ký bàn về Champa kể từ cuối thế kỷ XIII, người ta không nắm vững cho lắm những chi tiết liên quan đến vương triều của người con trai lên ngôi thay thế vua Jaya Simhavarman III. Người ta cũng không biết danh xưng vương hiệu của các vị vua kế tiếp hay những yếu tố nhằm chứng minh rằng họ có được tấn phong lên làm thủ lãnh Champa hay không. Do đó, người ta buộc phải gọi các vị vua nối ngôi thay thế Jaya Simhavarman III hay những vị vua kế tiếp khác bằng những tên gọi như Chế, Chi, v.v. mà các biên niên sử Việt Nam đặt ra mà thôi.
Việc dâng hiến hai Châu Ô và Lý cho Đại Việt đã
đưa đẩy dân cư Champa sống trên lãnh thổ bị chiếm đóng
vào những cuộc vùng dậy một cách liên tục. Thêm vào đó,
triều đình Champa cũng không quên khuyến khích thêm
những phong trào bài trừ Đại Việt. Chính đó là nguyên
nhân buộc vua Trần Anh Tông phải đứng ra điều hành một
cuộc chinh phạt Champa vào năm 1312, bắt được thủ lãnh
của vương quốc này làm tù binh để đưa về Thăng Long,
nơi mà ông vua này từ trần vào năm 1313.
Sau cuộc chinh phạt vào năm 1312, Trần Anh Tông
đề cử người em của vua Champa mà biên niên sử Đại Việt
gọi là Chế Năng lên ngôi cai trị vương quốc này như là
một vị vua chư hầu của Đại Việt. Điều này đã chứng minh
rằng Champa đã trở thành một vương quốc đặt dưới quyền
đô hộ của Đại Việt thời đó. Lợi dụng ngày đăng quang của
vua Trần Minh Tông vào năm 1314, Chế Năng toan tính
thâu hồi lại những đất đai đã mất cũng như xây dựng lại
chủ quyền của một quốc gia Champa độc lập, nhưng
không thành. Chính vì thế, ông ta phải chạy sang vương
quốc Java tị nạn vào năm 1318.
Lợi dụng tình hình bất ổn ở Champa, Đại Việt gia
tăng chính sách nhúng tay vào nội bộ của nước láng giềng
bằng cách đề nghị một vị tướng lãnh của Champa lên nắm
chính quyền như một phó vương mà biên niên sử Đại Việt
gọi là Chế A Nan. Nối gót các cuộc đấu tranh của các vị
vua tiền bối, Chế A Nan cũng tìm cách giải phóng
Champa ra khỏi ách đô hộ của Đại Việt. Để thực hiện
chính sách này, ông ta phải trông cậy vào sự yểm trợ của
triều đình Mông Cổ kể từ năm 1322. Kết quả là Chế A
Nan đã đánh bại quân Đại Việt tấn công Champa vào năm
1326. Cuộc chiến thắng này đã giúp Champa xây dựng lại
chủ quyền quốc gia độc lập của mình và chấm dứt mọi
chính sách lệ thuộc của Champa vào nước láng giềng. Kể
từ đó Champa không còn gởi những lễ vật và các phái
đoàn ngoại giao sang Đại Việt nữa.
Triều đại kế thừa vua Chế A Nan đánh dấu một
thời kỳ rất là yên bình. Trước hết, vua Champa thường cử
các phái đoàn ngoại giao sang Trung Hoa cho đến năm
1331 và có dịp tiếp đón cuộc thăm viếng của Franciscan
Odoric de Pardenone, một nhà tu sĩ Âu Châu đã để lại cho
hậu thế một cuốn hồi ký trong đó ông ta cho rằng Champa
là một xứ sở có vẻ đẹp hồn nhiên. Nhưng đây không phải
là điềm báo hiệu nhằm cho rằng vương quốc Champa đang
bước vào một trang sử yên bình và thịnh vượng. Vì từ một
thế kỷ qua, Champa không ngừng trải qua bao sự khủng
hoảng trầm trọng về các giá trị tinh thần mà vương quốc
này thường dựa vào đó để làm nền tảng của xã hội mình.
Chính đó là yếu tố đã đưa đẩy Champa vào con đường suy
yếu một các nghiêm trọng. Các nghi lễ Ấn Giáo biểu
tượng cho uy quyền thiêng liêng của vương triều đã bắt
đầu suy thoái. Các cuộc tranh giành quyền lực giữa các
hoàng tử trong cung đình cũng như sự nối tiếp triền miên
của những cuộc nội chiến giữa miền bắc và miền nam đã
xé nát vương quốc này một cách liên tục. Chính đó cũng là
yếu tố giúp người ta ta hiểu rằng vào giữa thế kỷ XIV,
Champa đang bước vào thời kỳ bất ổn trầm trọng.
Một khi Chế A Nan băng hà vào năm 1342, cuộc
tranh chấp quyền hành giữa các thành viên trong gia đình
hoàng gia bắt đầu bùng nổ. Người con rể của vua Chế A
Nan tên là Trà Hòa lại đứng ra tiếm ngôi của Chế Mổ, tức
là con trai của Chế A Nan. Chính vì thế, Chế Mổ phải tìm
cách loại trừ kẻ cướp ngôi, nhưng đã thất bại để rồi phải
chạy sang Đại Việt tị nạn và xin cầu cứu. Vua Trần Dụ
Tông của Đại Việt sẵn sàng giúp đỡ Chế Mổ với điều kiện
là Champa phải chấp nhận tái lập qui chế triều cống.
Năm 1353 một đoàn quân Đại Việt tháp tùng Chế Mổ tiến
đến Champa, nhưng chưa kịp tấn công Vijaya thì phải
quay ngược trở về cùng với Chế Mổ và không bao lâu
hoàng tử này từ trần trên lãnh thổ của nước láng giềng.
Lúc đó Trà Hòa là vị vua Champa đang trị vì, tưởng rằng
có thể thu hồi lại hai Châu Ô và Lý bằng bạo lực, nhưng
ông ta phải chuốc bao thất bại. Kể từ đó người ta không
biết thế nào là tiềm năng và thế lực quân đội của Champa
nữa cho đến khi ông ta băng hà, dường như vào năm 1360.
Sau năm 1360, lịch sử Champa đang trải qua một
khoảng trống về niên đại, vì các tư liệu Trung Hoa chỉ nói
đến hoàng đế đầu tiên của nhà Minh đã tấn phong cho
một vị vua Champa vào năm 1369 mà biên niên sử Việt
Nam gọi là Chế Bồng Nga kể từ năm 1376, nhưng không
bao giờ đề cập đến nguồn gốc dòng tộc cũng như ngày
tháng lên ngôi của ông ta. Chế Bồng Nga là một chiến
lược gia quân sự đã gây bao kinh hoàng cho Đại Việt trong
suốt 30 năm liền. Vị vua này đã chiến thắng trong những
trận chiến chống quân Đại Việt vào các năm 1361, 1362,
1365, 1368, 1377, 1378, 1383, 1386 và đã ba lần đốt phá
thủ đô Thăng Long vào năm 1371, 1377, 1378. Chế Bồng
Nga là vị vua đã thành công thu hồi lại các phần đất đai đã
lọt vào tay của Đại Việt vào năm 1069 và 1306, sau đó
đưa biên giới phía bắc của Champa trở lại Cửa An Nam
(Hoành Sơn), tức là vị trí nguyên thủy của vương quốc này
vào giữa thề kỷ thứ IV. Trong lúc Đại Việt đang ở trong
tình trạng hoàn toàn rối loạn, thì nhà chiến lược quân sự
Chế Bồng Nga bị phản bội bởi một số nguời nằm trong
vương triều Champa và bị giết chết trên chiến thuyền của
ông ta vào năm 1390 (G. Maspéro, Le royaume de
Champa, Leide, E. J. Brill, 1914, trg. 275-298).
Chế Bồng Nga là vị vua đã đưa vương quốc
Champa lên đỉnh cao của thời kỳ huy hoàng và sáng chói
nhất. Nhưng giai đoạn huy hoàng này chỉ dựa vào nhân
cách, nghị lực và tài năng quân sự của Chế Bồng Nga, một
nhân vật đã biết khai thác sự suy tàn của nhà Trần để phát
triển sức mạnh và tiềm năng Champa của mình. Chính vì
thế, cái chết của Chế Bồng Nga trên bãi chiến trường đã
đưa đẩy Champa vào khúc quanh của bao sự nguy cơ khác
mà người ta thường quên lãng đi, đó là thực trạng của một
vương quốc và một nền văn minh đang ở trong thời kỳ hấp
hối và suy sụp.
La Khải là vị vua kế thừa của Chế Bồng Nga. Mỗi
lần xua quân nhằm quấy nhiễu Đại Việt, La Khải buộc
phải đánh tháo lui để chạy về Champa. Ông ta cũng là vị
vua lên nắm chính quyền qua vũ lực bằng cách loại trừ các
đứa con trai của Chế Bồng Nga ra khỏi vương quyền và bỏ
rơi cho Đại Việt các phần đất nằm về phía bắc của núi
Bạch Mã (Huế) mà Chế Bồng Nga đã dày công thu hồi.
Một bia ký tìm thấy trước cửa của thành lũy ở Bình Định
cho biết La Khải lên ngôi lấy vuơng hiệu là Jaya
Simhavarman, trị vì 12 năm. Đó là những gì mà người ta
biết về ông ta.
Sự cáo chung của Champa Ấn Hóa
Jaya Simhavarman (La Khải) mất vào năm 1401.
Người con trai của ông ta tên là Virabhadravarman (hay
Ba Đích Lại gọi theo biên niên sử Việt Nam) lên ngôi kế
vị. Lợi dụng ngày băng hà của vua La Khải, Hồ Quí Ly, vị
vua đầu tiên của nhà Hồ thay thế nhà Trần vào năm 1394,
xua quân tấn công Champa, nhưng thất bại. Vua Hồ lại mở
trận tấn công thứ hai vào năm 1402. Đứng trước lực lượng
quân sự quá hùng mạnh của đối phương, vua
Virabhadravarman (Ba Đích Lại) phải trả lại cho Hồ Quí
Ly tiểu vuơng quốc Amaravati bị mất vào năm 1306 để
đổi lấy việc rút quân Đại Việt ra khỏi Champa. Vì tưởng
rằng có thể chiếm thêm đất đai Champa một cách dễ
dàng, vua Đại Việt mở trận tấn công Vijaya lần thứ ba vào
năm 1403-1404. Nhưng sự can thiệp của nhà Minh (Trung
Hoa) buộc quân đội viễn chinh của Đại Việt phải quay
đầu trở về. Rồi lấy cớ việc nhà Hồ tiếm ngôi nhà Trần,
hoàng đế nhà Minh xua quân tấn công Đại Việt vào năm
1407. Chiến tranh giữa Trung Hoa và Đại Việt đã giúp
Champa thoát ra khỏi sự đe dọa của lân bang miền bắc và
thu hồi lại tiểu vương quốc Amaravati. Lợi dụng tình hình
bất ổn ở Đại Việt, vua Virabhadravarman (Ba Đích Lại)
xua quân tấn công Campuchia, một quốc gia rất suy yếu vì
phải đối phó với chiến tranh liên miên chống lại vương
quốc Ayudhya (Thái Lan) kể từ giữa thế kỷ XIV. Mặc dù
Trung Hoa đã hai lần khiển trách vào năm 1408 và 1414,
vua Virabhadravarman (Ba Đích Lại) vẫn tiếp tục tấn
công Campuchia để chiếm vùng Biên Hòa (A. Cabaton,
“L'inscription de Biên-hòa”, trong BEFEO IV, 1904, trg
687 và tiếp theo). Cũng nhờ trận chiến này, Champa dời
biên giới phía nam của mình đến núi But, ngọn núi mà nhà
thương thuyền Bồ Đào Nha cho biết nó là biên giới phía
đông chia cách Champa và vương quốc Campuchia kể từ
đầu thế kỷ XVII. Năm 1427, Virabhadravarman (Ba Đích
Lại) cử một phái đoàn sang Thăng Long để tiếp kiến với
vua Lê Lợi, nhân vật đã giải phóng Đại Việt ra khỏi sự đô
hộ của Trung Hoa vào năm 1428 để thiết lập triều đại nhà
Lê. Sau 32 năm phục vụ cho vương quốc,
Virabhadravarman (Ba Đích Lại) được nhận tấn phong vào
năm 1432 với tên vương hiệu là Vrasu Indravarman.
Năm 1441, Vrasu Indravarman băng hà và được
thay thế bởi một vị vua mà biên niên sử Việt Nam gọi là
Maha Bí Cai. Kể từ năm 1444, Maha Bí Cai gia tăng các
cuộc chiến đánh phá láng giềng miền bắc. Sau khi đã
chinh phục được thái độ trung lập của nhà Minh, vua Đại
Việt xua quân chinh phạt Champa vào năm 1446, chiếm
Vijaya và bắt được Maha Bí Cai làm tù binh đưa về Thăng
Long, sau đó đưa người cháu của ông ta tên là Maha Quí
Lai lên nắm chính quyền. Vừa mới lên ngôi, Maha Quí Lai
tức thời dâng lễ vật lên vua Lê Nhân Tông vào năm 1447.
Hai năm sau tức là năm 1449, Maha Quí Lai đã bị người
em tên Maha Quí Đô truất phế. Sau ngày lật đổ chính
quyền, Maha Quí Đô xin Trung Hoa tấn phong vào năm
1457. Lên ngôi chưa đầy một năm, Maha Quí Đô bị ám sát
vào năm 1458. Người kế ngôi của ông ta mà biên niên sử
Đại Việt gọi là Trà Duyệt chỉ trị vì môt thời gian rất ngắn
ngủi, vì năm 1460, ông vua này buộc phải thoái vị nhưng
không cho biết lý do, để nhường ngôi lại cho người em là
Trà Toàn tức là vị vua cuối cùng của Champa đóng đô ở
Vijaya.
Mặc dù vua Lê Thánh Tông đã mấy lần yêu cầu Champa phải dâng thêm cống vật, nhưng Trà Toàn từ chối tuân lệnh và còn xua quân tấn công vào Đại Việt vào năm 1468 và năm 1469. Để trả lời cho thái độ của Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông xua quân phản công, đánh chiếm Champa năm kế tiếp. Năm 1471, Vijaya bị thất thủ và bị san bằng. Khoảng 20 000 người dân của Vijaya bị bắt làm tù binh và di đày sang nơi khác và một phần còn lại có số lượng vào khoảng 40 000 cho đến 60 000 người bị tàn sát.
Trà Toàn bị bắt và từ trần trên đường về Thăng Long (Bùi Quang Tung, Le Đại Việt et ses voisins, Paris, L'Harmattan, 1990, trg. 73-86).
Sự thất thủ Vijaya vào năm 1471 đánh dấu cho sự
cáo chung của một nền văn minh và một vương quốc
Champa trên bước đường suy tàn. Nhưng đây cũng là thời
điểm suy đồi của một nền văn minh Ấn Giáo trước đà tiến
quân của Hồi Giáo để xâm chiếm Ấn Độ kể từ cuối thế kỷ
XII, để rồi Champa không còn nhận thêm ảnh hưởng văn
hóa Ấn Giáo nữa. Sự sụp đổ của nền văn minh Ấn Giáo
tại Champa đã gây ra sự tan vỡ của các cơ cấu tổ chức xã
hội và tín ngưỡng mà vuơng quốc này đã cố gắng gầy
dựng gần 15 thế kỷ. Và nó phát sinh từ sự thất bại quân sự
dồn dập kể từ thế kỷ XI đã làm mất đi những niềm tin vào
Ấn Giáo mà Champa thường dựa vào đó để làm nền tảng
di sản tinh thần của mình, một di sản thiêng liêng do các vị
thần linh sáng tạo, nhưng chính con người đã đứng ra phá
hỏng nó. Kể từ đó, dân chúng Champa không còn đặt
niềm tin vào Ấn Giáo nữa. Sự thất thủ của Vijaya vào năm
1471 là kết quả của một cuộc đấu tranh dai dẳng giữa nền
văn minh Ấn Giáo của Champa chống lại nền văn minh
Trung Hoa của dân tộc Việt. Một khi Đại Việt không đủ
sức để tiến quân sang phía bắc vì bị Trung Hoa ngăn chận
lại, thì họ phải tìm cách áp dụng chính sách Nam Tiến.
Đây là cuộc chiến giữa hai đối tượng thù địch Champa và
Đại Việt nhằm bảo vệ sự sinh tồn của mình. Tiếc rằng ván
bài đã diễn ra kể từ cuối thế kỷ thứ X đã đánh dấu bằng
những cuộc thoái lui liên tục của Champa. Chính vì thế,
năm 1471 đã trở thành biểu tượng cho cuộc chiến thắng vẻ
vang của nền văn minh Hoa-Việt chống lại di sản Ấn Giáo
tại Champa đã từng thống trị khu vực miền đông của bán
đảo Đông Dương kể từ thế kỷ thứ IV. Cũng nhằm biểu
dương cho cuộc chiến thắng này mà Đại Việt đã tàn phá
thành Vijaya (Đồ Bàn) và chiếm đọat đất đai của Champa
bất cứ lúc nào mà quốc gia này cảm thấy có thể thực hiện
được để áp đặt nền văn hóa Hoa-Việt lên dân tộc Champa
thua trận. Lãnh thổ đã lọt vào tay Đại Việt là các tiểu
vương quốc nằm ở phía bắc của Champa, vốn là trung tâm
quyền lực của nền văn minh Ấn Giáo, nơi tồn tại toàn
bộ di sản tinh thần của nó. Nếu Mĩ Sơn là biểu tượng cho
công trình kiến trúc và nghệ thuật Ấn Giáo, Đồng Dương
biểu tượng cho trung tâm Phật Giáo đại thừa thì Trà Kiệu
cũng là trung tâm truyền bá và phát triển triết lý Ấn Giáo
qua các thời đại.
Champa bản địa
Sau ngày chiếm đóng Vijaya (Đồ Bàn), Lê Thánh
Tông xua quân xuống miền nam Champa đến ngọn đồi đối
diện với mũi Varella và dựng một cột mốc trên núi Đá Bia
(cũng gọi là Thạch Bi) để đánh dấu biên giới của Đại Việt
mà Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại. Biến cố này đã
gây bao sự hiểu lầm, vì đa số các nhà nghiên cứu cho rằng
kể từ năm 1471, Thạch Bi nằm trong khu vực tỉnh Phú
Yên là ranh giới phía nam của Đại Việt. Cũng theo Đại
Nam Nhất Thống Chí, phần nói về dư địa chí của tỉnh Bình
Định lại cho rằng dưới thời Lê Thánh Tông, biên giới phía
nam của Đại Việt nằm ở đèo Cù mông tức là hơn một
trăm cây số về phía bắc của tỉnh Phú Yên. Các biên niên
sử khác cũng xác nhận điều này bởi vì tỉnh Phú Yên dưới
thời Lê Thánh Tông bao gồm các vùng đất trải dài giữa
đèo Cù Mông và núi Đá Bia chỉ lọt vào tay nhà Nguyễn
vào năm 1611.
Vấn đề về biên giới phía nam của Đại Việt vào
cuối thế kỷ XV đã trở thành một chủ đề tranh luận lâu dài.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (tập III, bản dịch bằng
quốc ngữ, Hanoi, 1972), sau khi thành Đồ Bàn bị thất thủ,
vua Lê Thánh Tông chia lãnh thổ nằm về phía nam của
thủ đô này thành ba vương quốc chư hầu: vương quốc
Chiêm Thành, tức là phần phía nam của Champa, vương
quốc Hoa Anh và vương quốc Nam Bàn. Tiếc rằng văn
bản này chỉ nhắc đến vương quốc Hoa Anh một lần duy
nhất và chỉ nói đến vương quốc Nam Bàn gần 3 thế kỷ sau
và cũng không cho biết tên tuổi của các vị vua của Hoa
Anh và Nam Bàn. Chính vì thế người ta có quyền nêu ra
bao câu hỏi: sự hiện diện của hai vương quốc Hoa Anh và
Nam Bàn có thật sự hay không? Ngoài ra biên niên sử
Việt Nam cũng không xác nhận vị trí của Hoa Anh và
Nam Bàn ở đâu. Điều này đã đưa một số tác giả đề ra lý
thuyết cho rằng vương quốc Hoa Anh nằm giữa đèo Cù
Mông và núi Đá Bia; vương quốc Nam Bàn nằm ở trên
vùng cao nguyên Công Tum-Gia Lai. Trong khi đó, các tác
giả khác nghĩ rằng hai vương quốc này đều nằm ở phía tây
của dãy Trường Sơn, nhưng họ không đưa ra những yếu tố
thuyết phục nào nhằm chứng minh cho giả thuyết.
Giai đoạn chuyển tiếp
Nếu biên giới phía nam của Đại Việt vào cuối thế
kỷ thứ XV vẫn còn là đề tài tranh luận thì người ta biết
chắc chắn rằng sự sụp đổ của vương triều Champa Ấn
Giáo ở miền bắc sau ngày thất thủ Vijaya vào năm 1471
không có nghĩa là sự sụp đổ toàn diện của vương quốc
Champa như một số nhà nghiên cứu thường nêu ra. Một
khi miền bắc bị rơi vào tay của Đại Việt, vương quốc
Champa vẫn còn tiếp tục hiện hữu nhưng bị thu hẹp lại ở
miền nam nằm trên lãnh thổ của tiểu vương quốc
Kauthara và Panduranga, nơi mà người dân có bản chất rất
là hiếu động, luôn luôn đòi tự trị và đôi lúc còn tìm cách
tách rời ra khỏi liên bang Champa để tạo cho mình một
quốc gia độc lập.
Sau ngày thất thủ thành Đồ Bàn vào năm 1471,
một tướng lãnh quân sự Champa mà biên niên Việt Nam
gọi là Bố Trì Trì đã chạy thoát về Panduranga, tự xưng là
vua Champa và được Trung Hoa và Đại Việt phong chức.
Vương quốc của Bố Trì Trì mà các tư liệu lịch sử thường
nhắc đến mang tên là Chiêm Thành mới. Người ta không
biết nhiều về Bố Trì Trì. Tài liệu Mingshi (CCCXXV-15a)
chỉ ghi rằng sự từ trần của Bố Trì Trì vào năm 1478 có thể
do một trong số các người em của ông ta tên là Gulai gây ra.
Gulai lên nối ngôi vua cũng vào năm 1478 và tự
hướng dẫn một phái đoàn sang Trung Hoa để xin tấn
phong. Theo biên niên sử Việt Nam, Gulai trị vì đến 1505
sau đó nhường ngôi lại cho con trai tên là Trà Toại. Vị vua
mới này cũng gởi người con trai của ông ta tên là Trà Phúc
sang Trung Hoa để xin hoàng đế nhà Minh tấn phong vào
năm 1509 và một phái đoàn ngọai giao khác sang Trung
Hoa vào năm 1543. Đây là phái bộ ngọai giao cuối cùng
mà vương quốc Champa gởi sang Trung Hoa, vì các tư liệu
bằng tiếng Hán không còn nói đến quốc gia này nữa. Kể
từ đó, Champa trở thành một vương quốc bị cô lập, không
còn ai che chở để đương đầu với cuộc Nam Tiến của nhà
Nguyễn. Mặc dù tình hình quân sự càng ngày càng lâm
vào con đường suy yếu, nhưng vương quốc Champa vẫn
còn hiện hữu như một quốc gia có chủ quyền trải qua một
thời gian an bình cho đến giữa thế kỷ XVII.
Bố Trì Trì, Gulai và Trà Toại là ba vị vua Champa
chịu ảnh hưởng của hai thế giới rõ rệt. Thế giới thứ nhất tự
cho mình kể từ thế kỷ thứ XIV là thế giới Ấn Giáo, mặc
dù hệ thống tín ngưỡng này không còn tồn tại nữa. Thế
giới thứ hai là thế giới của nền văn minh bản địa xuất phát
từ truyền thống của miền nam Champa pha trộn với sắc
thái của người dân bản xứ ở Panduranga và Kauthara, cấu
thành một yếu tố văn hóa rất sống động và lưu truyền
trong mọi tầng lớp dân gian cho đến hôm nay. Từ cuối thế
kỷ XV cho đến thế kỷ XVI, các giá trị tinh thần và hệ
thống tổ chức xã hội ở miền nam bắt đầu phát triển khá
nhanh mà tân Champa dựa vào đó để xây dựng cho mình
một nền văn minh riêng biệt. Kể từ đó, văn hóa Champa
Ấn Giáo đã đi vào con đường phôi thai cùng một lúc với
sự biến mất của giai cấp quí tộc Bà La Môn để nhường
chỗ cho các nghi lễ bản địa thường gắn liền với yếu tố đất
đai và khu vực địa dư. Chính đó là hệ thống tín ngưỡng có
một đặc trưng riêng biệt mà quần chúng miền nam
Champa xem như là di sản tinh thần của họ. Mọi lý thuyết
về sự sinh tồn của vũ trụ Ấn Giáo không còn thích hợp nữa
để thay thế vào đó bởi một hệ thống triết lý mang tính
chất bản địa của miền nam Champa pha lẫn với yếu tố văn
hóa Hồi Giáo kể từ thế kỷ XVII càng làm phong phú thêm
cho nền văn minh mới của vương quốc này. Các giai cấp
thượng lưu không còn quan tâm đến Ấn Giáo nữa, tức là
hệ thống tín ngưỡng quá chú trọng đến các nghi lễ hoàng
gia và hình thức tôn thờ cá nhân của giai cấp lãnh đạo,
nhưng lại tin vào tục thờ hình tượng thường hay lẫn lộn với
các hình thái của tín ngưỡng dân gian địa phương. Các vua
chúa Champa thời đó không còn tự phong cho mình là
nhân vật xuất thân từ thế giới siêu hình để điều hành một
vương quốc như thời Ấn Giáo, mà là một nhà một nhà lãnh
đạo thông thường có chức năng quản lý quốc gia. Họ
không còn sử dụng tên và họ của vua chúa viết theo Phạn
ngữ nữa và không còn ra lệnh khắc tượng của họ với bao
phong cách trang điểm mang yếu tố Ấn Giáo nữa. Hay nói
một cách khác, vua chúa Champa sau thế kỷ thứ XVII chỉ
là một người phàm tục như những người công dân khác.
Nhưng điều đó không ngăn cản họ tiếp thu những di sản
tinh thần từ xưa mà các vua chúa Champa miền nam đã để
lại cho họ.
Tình hình vào cuối thế kỷ XVI và XVII
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII, các tin tức
mà biên niên sử Việt Nam cung cấp về vương quốc
để thay thế vào đó bởi một hệ thống triết lý mang tính
chất bản địa của miền nam Champa pha lẫn với yếu tố văn
hóa Hồi Giáo kể từ thế kỷ XVII càng làm phong phú thêm
cho nền văn minh mới của vương quốc này. Các giai cấp
thượng lưu không còn quan tâm đến Ấn Giáo nữa, tức là
hệ thống tín ngưỡng quá chú trọng đến các nghi lễ hoàng
gia và hình thức tôn thờ cá nhân của giai cấp lãnh đạo,
nhưng lại tin vào tục thờ hình tượng thường hay lẫn lộn với
các hình thái của tín ngưỡng dân gian địa phương. Các vua
chúa Champa thời đó không còn tự phong cho mình là
nhân vật xuất thân từ thế giới siêu hình để điều hành một
vương quốc như thời Ấn Giáo, mà là một nhà một nhà lãnh
đạo thông thường có chức năng quản lý quốc gia. Họ
không còn sử dụng tên và họ của vua chúa viết theo Phạn
ngữ nữa và không còn ra lệnh khắc tượng của họ với bao
phong cách trang điểm mang yếu tố Ấn Giáo nữa. Hay nói
một cách khác, vua chúa Champa sau thế kỷ thứ XVII chỉ
là một người phàm tục như những người công dân khác.
Nhưng điều đó không ngăn cản họ tiếp thu những di sản
tinh thần từ xưa mà các vua chúa Champa miền nam đã để
lại cho họ.
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII, các tin tức
mà biên niên sử Việt Nam cung cấp về vương quốc
Champa, tức là Chiêm Thành, rất hiếm hoi, vì các tư liệu
này chỉ chú tâm đến cuộc nội chiến của Đại Việt, hết nhà
hậu Lê chống nhà Mạc đến cuộc gây chiến của chúa Trịnh
ở miền bắc chống lại chúa Nguyễn ở miền nam. Các thông
tin do các nhà thương thuyền Tây Phương cung cấp về
Champa cũng không đáng kể. Thêm vào đó, các biên niên
sử viết bằng chữ Chăm nói đến Champa cho đến cuối thế
kỷ XVII không còn chứa đựng những dữ kiện chính xác
cho lắm, nhất là vị trí địa dư và niên đại của biến cố. Mãi
cho đến sau thế kỷ thứ XVII, những tài liệu viết bằng
tiếng Chăm trở thành môt kho tàng sử liệu quí giá và đáng
tin cậy hơn (P-B. Lafont, “Pour une rehabilitation des
chroniques rédigées en cam moderne”, trong BEFEO
LXVIII, 1980, trg. 105-111).
Các nguồn tư liệu vừa nêu ra, mặc dù không phong
phú cho lắm, nhưng đã giúp cho nguời ta biết rằng vào
năm 1578, lợi dụng tình trạng nội chiến của nước láng
giềng ở miền bắc, Champa xua quân chiếm lại thành cũ
nằm trong vùng Tuy Hòa (Phú Yên). Theo ký sự của người
Hòa Lan kể lại, một vị vua Champa mà họ không nêu ra
danh tánh, đã gởi một đội binh đến giúp vua của tiểu
vương quốc Johor (Mã Lai) vào năm 1594 để chống lại
người Bồ Đào Nha. Ngoài ra, những thương thuyền Tây
Ban Nha đến Nam Vang vào năm 1596 cũng nhắc đến
những người Chăm phục vụ trong triều đình của vua
Campuchia và còn cho biết vào năm 1602 vua Champa,
dường như là Po Klaong Halau, đã gởi một phái bộ sang
triều đình của nhà Nguyễn. Cũng theo tài liệu này, vào
năm 1603, người con trai của Po Klaong Halau tên là Po
Nit đã đặt thủ đô Champa tại vùng Phan Rang mà các
nguồn tư liệu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã từng
xác nhận. Cuối cùng, các biên niên sử hoàng gia
Campuchia cũng không quên ghi rằng dưới thời vua
Paramaraja VII tức là giữa năm 1602 và 1619, hoàng tử
Jayajettha đã thu hồi lại các tỉnh Baria và Daung Nay, tức
là vùng Biên Hòa hiện tại, mà Champa đã chiếm đóng
vào đầu thế kỷ XV.
Cũng vào thời kỳ đó, chúa Nguyễn Hoàng viện cớ
Champa thường quấy phá biên giới bên kia sông Đà Rằng
(Phú Yên) để xua quân chiếm đất đai Champa nằm giữa
đèo Cù Mông và núi Đá Bia vào năm 1611 và mở rộng
biên giới miền nam của nhà Nguyễn đến đỉnh cao của
ngọn núi này. Kể từ đó, Nguyễn Hoàng và người kế vị là
Nguyễn Phúc Nguyên bắt đầu áp dụng chính sách di dân
vào lãnh thổ Champa bị chiếm đóng vào năm 1611. Họ là
nhóm quân điền (vừa làm lính phòng thủ lãnh thổ vừa làm
nghề nông), tập thể dân cư người Kinh bị lưu đầy, nhất là
những người phạm tội. Theo lời kể của linh mục A. de
Rhodes, người Chăm trong khu vực bị chiếm đóng không
bao giờ muốn phục tùng chính quyền mới của nhà
Nguyễn. Lợi dụng tình hình căng thẳng kể từ năm 1620
giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn kéo theo sự ly khai của
nhà Nguyễn để thành lập một vương quốc riêng, người
Chăm khởi sự những cuộc vùng dậy một cách thường trực
trong khu vực Phú Yên kể từ năm 1620 nhằm chống lại
triều đình nhà Nguyễn và dân cư người Kinh. Mặc dù
Nguyễn Phúc Nguyên đã biến khu vực Phú Yên của
Champa thành một đơn vị hành chánh của mình vào năm
1629, nhưng điều đó không ngăn chận được sự phản đối
của người Chăm, buộc nhà Nguyễn phải duy trì một cách
thường trực quân đội của họ tại biên giới miền nam trong
suốt 25 năm trường.
Kể từ thế kỷ XV, Champa vốn là quốc gia nằm
trên địa cầu kinh tế đặt dưới quyền kiểm soát của vương
quốc Malacca (Mã Lai). Kể từ đó, Champa không ngừng
hội nhập vào mạng lưới thương mại của Mã Lai nối liền
các quốc gia nằm trên bờ biển Nam Hải. Điều này đã giải
thích cho sự hiện diện của thương thuyền Champa tại tiểu
vương quốc Malacca mà biên niên sử Mã Lai (Sejarah
Melayu) đã từng nhắc đến vào thế kỷ XV và XVI; trên bờ
bể của lãnh thổ nhà Nguyễn vào các thời yên bình; tại tiểu
vương quốc Pattani (miền bắc Mã Lai); tại cửa Ménam
Chao Praya, tức là con sông lớn của Thái Lan mà người
Bồ Đào Nha đã ghi lại vào thế kỷ XVI; tại quần đảo Nam
Dương và tại tiểu vương quốc Johor (Mã Lai) mà người
Hòa Lan thường nói đến vào thế kỷ XVII. Điều đó cũng
giải thích cho sự hiện diện một cách thường trực của các
tàu bè Nam Dương và Mã Lai trong hải cảng Malithit
(Phan Thiết), Parik (Phan Rí), Panrang (Phan Rang) và
Kam-ran (Cam Ranh) của Panduranga, chưa nói đến các
tàu bè của Trung Hoa, Nhật Bản (cho đến thời kỳ bế môn
tỏa cảng vào năm 1636), của Ả Rập sang buôn bán với
Champa. Và kể từ thế kỷ XVI, người Âu Châu cũng thi
đua nhau vào thị trường Champa và biến cuộc cạnh tranh
thương mại trong khu vực này thành những cuộc tranh
chấp về quyền buôn bán với Champa, một quốc gia
chuyên sản xuất những món hàng gia vị và xa xỉ phẩm mà
thị trường Âu Châu đã đòi hỏi càng ngày càng nhiều.
Trong số các loại hàng này, Champa đã cung cấp hàng
lượng vàng mà Suma Oriental của T. Pires đã nói đến.
Một phần lớn của số lượng vàng này đã được xuất cảng
sang Malacca để rồi từ đó được chuyển đi nơi khác.
Champa cũng là vương quốc đứng hàng đầu trong ngành
cung cấp gỗ hương gọi là gỗ trầm (bois d'aloès) hay
Calambac để xuất cảng sang Ấn Độ, Ả Rập, Âu Châu và
Trung Hoa, chưa nói đến gỗ bạch đàn (bois de santal), ngà
voi, các loại da thú dữ và sừng tê giác. Cho đến giữa thế
kỷ XVII, nền thương mại này phát triển nhanh chóng đã
đem lại nguồn lợi nhuận quan trọng cho triều đình
Champa. Chính vì thế, vương quốc này đã biến ngành
nghề buôn bán bằng đường biển thành một công ty độc
quyền của vua chúa thời đó. Kể từ đó, chính quyền
Champa thường có chính sách bảo vệ các thương thuyền
nước ngoài có mối liên hệ trực tiếp với triều đình. Thí dụ
điển hình nhất đó là vua Champa, có thể là vua Po Ramé
(1627-1651), đã chấp thuận vào năm 1644 cho các thương
thuyền người Hòa Lan được phép buôn bán với Champa,
với điều kiện là không được tấn công các thương thuyền
người Bồ Đào Nha trong các hải cảng của quốc gia này.
Phải công nhận rằng tình hình kinh tế của Champa
phát triển rất thuận lợi cho đến 1653, năm mà biên niên sử
Việt Nam cho rằng vua Champa tên là Bà Thấm, có thể là
Po Nraop trong các văn bản Chăm, đã xua quân tấn công
Phú Yên. Tiếc rằng không có tài liệu nào nói đến biến cố
này. Chính vì thế mà người ta có quyền đưa ra câu nghi
vấn về tính xác thực của nó. Ai cũng biết, chúa Nguyễn
Phước Tần có một đoàn quân hùng mạnh để đương đầu
với chúa Trịnh. Trong suốt thời gian hòa bình khá lâu từ
năm 1649 đến năm 1655, nếu nhà Nguyễn không muốn
nuôi dưỡng một đoàn quân chỉ biết ăn không ngồi rồi chờ
ngày sang miền bắc tấn công chúa Trịnh, thì nhà Nguyễn
chỉ còn cách là sử dụng đoàn quân này tràn xuống miền
nam để thống trị Champa. Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa,
Nguyễn Phước Tần không quên đeo đuổi chính sách đế
quốc do các bậc tiền nhân của Đại Việt đã khởi xướng,
bằng cách tấn công Kauthara vào năm 1653, bắt sống Bà
Thấm và xua quân đến tận sông Phan Rang mà ông ta tự
ấn định là biên giới miền nam của nhà Nguyễn. Cuộc
chiến này đã làm mất thêm phần đất đai của Champa ở
phía bắc mà triều đình Phú Xuân (Huế) đã tức khắc biến
thành hai đơn vị hành chánh của nhà Nguyễn gọi là Thái
Khang và Diên Khánh. Kể từ đó, lãnh thổ của Champa bị
thu hẹp lại vào tiểu vương quốc của Panduranga mà tư liệu
viết bằng tiếng Chăm gọi là Pangdarang. Thế là sau năm
1653, Champa đã mất đi phân nửa bờ biển của nó với các
hải cảng rất tốt có biển sâu cho tàu bè cập bến. Một khi
nhà Nguyễn đã nắm quyền kiểm soát tất cả mạng lưới tàu
bè đến Champa, các thương thuyền nước ngoài không còn
ghé bến Champa nữa, một quốc gia đã từng làm chủ các
hải cảng nằm trên bờ biển Nam Hải từ mấy thế kỷ qua.
Các thương thuyền này cũng chấm dứt luôn mối liên hệ
buôn bán với Champa, một ngành thương mại đã đem lại
phần lợi tức khá lớn cho vương quốc này.
Vì nhà Nguyễn không ngăn cấm công dân của họ
vượt biên giống như trong quá thời khứ, một số lượng
người Kinh rất là đông đảo mà phần đông là những người
không có đất đai, nghèo đói, du đãng, tội phạm, tìm cách
tràn xuống miền nam, kể từ cuối thế kỷ XVI cho đến thế
kỷ XVII, để định cư trong vương quốc Champa và nhất là
trong các khu vực thưa thớt dân cư của Campuchia như
Barea (Bà Rịa) và Daung Nay (Đồng Nai). Lợi dụng sự
hiện diện của dân cư Việt và với lý do là để bảo vệ cho
họ, triều đình Phú Xuân (Huế) bắt đầu can thiệp vào nội
bộ Campuchia một cách trắng trợn, tạo ra các cuộc nổi
dậy bài trừ người Kinh, đã làm lung lay tình hình chính trị
của vương quốc này. Sau khi làm chủ khu vực hải quan
Prei Nokor (Sài Gòn) của Campuchia vào năm 1623, nhà
Nguyễn xua quân chiếm Biên Hòa vào năm 1658. Sau
biến cố đã đưa đẩy Champa có biên giới chung với lãnh
thổ của nhà Nguyễn không những riêng ở phía bắc (tức là
Cam Ranh) mà còn ở phía nam nữa, tức là Biên Hòa. Kể
từ đó, Champa trở thành một quốc gia hoàn toàn cô lập,
không còn cửa biển để liên hệ với Campuchia qua Prei
Nokor và đất đai Champa hoàn toàn nằm trong gọng kìm
của nhà Nguyễn.
Nếu nhà Nguyễn không muốn xâm chiếm Champa
ngay từ lúc ban đầu, bởi vì triều đình Phú Xuân còn quá
bận rộn vào việc mở rộng ảnh hưởng của họ trên châu thổ
sông Mékong và áp đặt chủ quyền của mình trên vương
quốc Campuchia. Thêm vào đó, vương quốc Champa
không ngừng triều cống Phú Xuân hằng năm mà giáo sĩ
Choisy đã ghi lại trong nhật ký của mình vào năm 1686
(Journal du voyage de Siam fait en 1685 et 1686 par
Monsieur l'abbé de Choisy, Paris, Mabre-Cramoisy, 1687)
và vua chúa Champa đã chấp nhận làm quốc gia chư hầu
của nhà Nguyễn. Chính đó là nguyên nhân giải thích tại
sao nhà Nguyễn không muốn nuốt trọn vương quốc
Champa vào thời điểm đó.
Vào năm 1692, vua Champa là Po Saut mà các văn
bản Việt Nam gọi là Bà Tranh xua quân tấn công tỉnh
Diên Khánh (Kauthra). Biến cố này đã giúp cho Nguyễn
Phước Chu có lý do chính đáng để xóa bỏ Champa trên
bản đồ, vì chúa Nguyễn có đủ thế lực để làm điều đó và
nhất là từ khi xứ Việt đã bị phân chia thành hai miền nam
bắc, nhà Nguyễn có sẵn trong tay một đoàn quân đông đảo
và hùng mạnh trong khi đó Champa nằm trong vị trí địa dư
hoàn toàn bất lợi cho mình. Năm 1692, Nguyễn Phước Chu
tiến quân đánh chiếm Parik (Phan Rí), tức là thủ đô của
Champa kể từ năm 1653, bắt sống vua Po Saut. Sau ngày
thắng trận, nhà Nguyễn cải tên danh xưng vương quốc
Chiêm Thành (Champa) thành Trấn Thuận Thành, giao
cho ba vị tướng người Việt chỉ huy đội quân viễn chinh của
Phú Xuân nắm quyền cai trị của ba vùng, đó là vùng
Panrang đổi tên thành Phan Rang, Parik thành Phan Rí và
Pajai thành Phố Hài. Một năm sau, tức là năm 1693, nhà
Nguyễn sát nhập (phải viết là sáp nhập-TX) lãnh thổ Champa vào phủ Bình Thuận,
vừa mới thành lập trên lãnh thổ của vương quốc này.
Vì không chấp nhận chính sách xâm lược của nhà
Nguyễn và làm tôi tớ cho dân tộc Kinh thường hay khinh
miệt dân tộc bản địa, một số đông người Chăm phải chấp
rời bỏ quê hương ra đi giống như trường hợp của biến cố
đã xảy ra vào năm 1471. Nhưng lần này, họ chạy sang
Campuchia lánh nạn. Theo biên niên sử Campuchia, có
khoảng 5 000 gia đình người Chăm dưới sự hướng dẫn của
các quan chức cao cấp thuộc triều đình Champa đã vượt
dãy Trường Sơn đến Campuchia vào năm 1692-1693. Vua
Campuchia là Jayajetta III cũng là nạn nhân của chính
sách đế quốc xâm lược Việt Nam đã đón tiếp họ một cách
niềm nở và ban cấp cho họ đất đai xung quanh thủ đô hay
tại các tỉnh khác để họ sinh sống (Mak Phoeun, Histoire du
Cambodge de la fin du XVI siècle au début du XVIII siècle,
Paris, Presses de l'EFEO, Monographie 176, 1995, trg.
397-398).
Trong thời gian đó, Nguyễn Phước Chu đưa hoàng
tử Po Saktiraydapatih (Kế Bà Tử của tài liệu Việt Nam),
tức là người em trai của cố vương Po Saut lên nắm quyền
điều hành dân chúng Champa trong phủ Bình Thuận, với
niềm hy vọng rằng người dân hiếu động của Panduranga
chấp nhận qui chế mới của xứ sở họ. Theo biên niên sử
Việt Nam, chiến lược của Nguyễn Phước Chu chẳng đem
lại hiệu quả gì, vì dân tộc Champa thời đó không bao giờ
chấp nhận chính sách xâm lược của nhà Nguyễn. Cuộc
chống đối của nhân dân Champa kể từ năm 1693 đã nhanh
chóng trở thành một cuộc nổi dậy đấu tranh vũ trang
chống lại quân đội xâm lược của nhà Nguyễn và bài trừ
người Kinh định cư trên lãnh thổ Champa thường hay tiếp
tay cho nhà Nguyễn. Sức mạnh của sự vùng dậy này đã
làm cho triều đình Phú Xuân ngạc nhiên và buộc nhà
Nguyễn phải thoái lui một bước. Năm 1694, Phú Xuân
chấp thuận hủy bỏ chính sách xâm chiếm Champa và tái
lập nền độc lập của vương quốc này, nhưng vẫn duy trì
tên gọi Champa là Trấn Thuận Thành (tạm gọi là
Champa-Panduranga) mà Phú Xuân đã đặt cho nó lần đầu
tiên vào năm 1692 và thay tên danh xưng quốc vương
Champa thành Trấn Vương Thuận Thành.
Po Saktiraydapatih (Kế Bà Tử) là người đầu tiên
mà triều đình Huế đã phong cho chức vụ để cai trị vương
quốc Champa vào năm 1694. Ông là người duy nhất có
quyền thu thuế trên dân cư champa và tuyển chọn quan lại
để điều hành vương quốc dưới danh nghĩa là một quốc gia
chư hầu, phải triều cống nhà Nguyễn hằng năm (Đại Nam
Thực Lục Chính Biên I, Bản dịch quốc ngữ, Hanoi, 1962,
trg. 147-151). Ba năm sau, tức năm 1697, triều đình Phú
Xuân tìm cách gỡ gạc phần nào sự thất bại của mình để
rồi nuốt trọn vương quốc Champa. Để tiến đến mục tiêu,
Phú Xuân thành lập trên lãnh thổ Champa một Phủ Bình
Thuận có qui chế rất là đặc biệt. Qui chế của Phủ Bình
Thuận ra đời vào năm 1697 không liên hệ gì với qui chế
của Phủ Bình Thuận hình thành vào năm 1693 như một số
chuyên gia về Việt Nam thường hiểu lầm. Phủ Bình Thuận
này tập trung tất cả thôn xóm người Kinh nằm trong khu
vực Hàm Thuận nơi dùng làm trụ sở hành chánh của Phủ,
cũng như tất cả thôn xóm người Kinh thuộc khu vực Hòa
Đa (Phan Rí) và An Phước (Phan Rang), sau này trở thành
hai huyện Hòa Đa và An Phuớc. Sau đó, Nguyễn Phước
Chu cho sát nhập (sáp nhập) tất cả các làng ấp người Kinh cũng như
đất đai của họ vào đơn vị chính trị và hành chánh của phủ
Bình Thuận. Kể từ lúc đó, các dân cư nguời Kinh sinh
sống trên lãnh thổ Champa không còn là công dân ngoại
kiều đặt dưới quyền kiểm soát của Champa nữa mà là
thần dân của nhà Nguyễn. Trước biến cố này, vua Po
Saktiraydapatih (Kế Bà Tử) không dám phản đối và cũng
không nói được lời nào. Sự hiện diện của các thôn ấp và
đất đai của người Kinh nằm khắp nơi trên lãnh thổ
Champa thời đó đã biến vương quốc này trở thành một
quốc gia có biên giới hình trái độn, tập trung nhiều khu
vực có thôn xóm người Kinh đặt dưới quyền kiểm soát trực
tiếp của triều đình Phú Xuân. Hơn nữa, Nguyễn Phước
Chu đã quyết định rằng tất cả làng xã và đất đai thuộc về
người Kinh phải trực thuộc vào phủ Bình Thuận nhằm
giúp nhà Nguyễn nắm trọn trong tay một lực lượng địa
phương rất là hữu hiệu để nuốt trọn vương quốc Champa
lúc nào cũng được mà không cần can thiệp trực tiếp. Lực
lượng này chính là dân cư người Kinh sinh sống trên lãnh
thổ Champa thời đó. Nhà Nguyễn bắt đầu áp dụng chiến
lược này bằng cách khuyến khích dân cư người Kinh đến
Champa định cư càng nhiều càng tốt.
Tình hình vào thế kỷ XVIII
Trong suốt 60 năm đầu tiên của thế kỷ XVIII,
người ta không biết nhiều về tình hình chính trị đã xảy ra
trong vương quốc Champa-Pandurang. Ngược lại, các tài
liệu viết bằng tiếng Chăm và một vài đoạn nằm trong biên
niên sử Việt Nam thường nêu ra hàng loạt các cuộc xung
đột giữa người Kinh và Chăm trong quốc gia này, nhất là
những nơi có địa bàn dân cư của dân tộc Kinh và Chăm
nằm xen kẽ với nhau. Nguyên nhân phát sinh từ dân cư
người Kinh, dựa vào quyền thế của các quan lại của triều
đình Phú Xuân phục vụ trong phủ Bình Thuận, không ngần
ngại bốc lột lao động người Chăm, nhất là tìm cách cho
người Chăm vay mượn tiền bạc với số lãi quá nặng nề để
tịch thu tài sản hay bán nhượng con cái của họ, một khi
dân tộc này không thể trả nổi vốn nợ đã vay mượn.
Cũng vì chính sách bốc lột này ngày càng gia tăng
và chồng chất lên nhau, nông dân Việt Nam cũng phải
vùng dậy vào năm 1771 chống lại các đại điền chủ và giai
cấp lãnh đạo của nhà Nguyễn. Cuộc nổi dậy của dân tộc
Việt mang tên là phong trào Tây Sơn đã kéo dài cho đến
năm 1802 (Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Nhà Tây Sơn,
Bản dịch quốc ngữ, Saigon, 1970) và làm nguy cơ đến sự
sống còn của Champa-Panduranga thời đó. Đây là cuộc
nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, tức là chiến tranh
nội bộ giữa người Việt, nhưng lại diễn ra một cách thường
trực trên lãnh thổ của Champa-Panduranga trong suốt ba
mươi năm (1771-1802). Vào buổi ban đầu của cuộc nội
chiến, anh em Tây Sơn chiếm trọn phần lãnh thổ của chúa
Nguyễn nằm phía bắc Champa-Panduranga, trong khi đó,
Nguyễn Ánh trấn giữ phần đất đai ở Gia Định tức là miền
nam của vương quốc này. Kể từ đó Champa trở thành một
quốc gia nằm giữa gọng kìm của hai đối tượng thù địch, đó
là Nguyễn Ánh và Tây Sơn. Muốn tấn công đối thủ của
mình, Tây Sơn hay Nguyễn Ánh bắt buộc phải băng qua
biên giới Champa-Panduranga, biến lãnh thổ của vương
quốc này (Bình Thuận và Ninh Thuận) thành bãi chiến
trường liên tục. Cũng vì Champa-Panduranga nằm ngay
trên vị trí chiến lược quân sự của cuộc nội chiến, thành ra
Tây Sơn và Nguyễn Ánh, mỗi bên đều tìm cách chụp lấy
mảnh đất của Champa ngay từ lúc khởi đầu của sự xung
đột, để làm điểm tựa và đặt căn cứ quân sự của mình.
Năm 1773 Tây Sơn xua quân vào Champa-Panduranga
trước khi tiến quân đánh phá Nguyễn Ánh ở Sài Gòn. Một
năm sau, tức là năm 1774-1775, Nguyễn Ánh đánh đuổi
quân Tây Sơn để chiếm lại Champa. Năm 1776-1777, Tây
Sơn tái chiếm lại Champa, sau đó Nguyễn Ánh tìm mọi
phương cách để làm chủ tình hình tại Champa kể từ năm
1779. Chưa đầy ba năm sau, tức là vào năm 1782, Tây Sơn
tái chiếm miền bắc Champa (Ninh Thuận), trong khi đó
Nguyễn Ánh trấn giữ phần đất phía nam của Champa tức
là vùng Phan Rí từ năm 1790 cho đến năm 1793. Sau năm
1793-1794, Tây Sơn rút quân ra khỏi vùng Phan Rang và
giao lãnh thổ Champa cho Nguyễn Ánh.
Những cuộc chiếm đóng liên tục của quân đội Tây
Sơn và Nguyễn Ánh trên lãnh thổ Champa-Panduranga đã
biến vương quốc này thành một quốc gia không còn biên
giới nữa trong suốt chiều dài của cuộc nội chiến giữa
người Việt và đưa đẩy dân tộc Chăm vào một khúc quanh
mới, vì họ phải chấp nhận đối diện trực tiếp với quân đội
người Kinh, lúc nào cũng xem người Chăm là những kẻ
man rợ (người Mán), có văn hóa khác biệt với văn hóa của
họ. Một khi đã thành công chiếm cứ Champa-Panduranga,
phe thắng trận, dù Tây Sơn hay Nguyễn Ánh, thường hay
bắt buộc người dân Champa phải qui phục phe mình và
trừng trị những nguời Chăm nào đã liên minh với kẻ thù
của họ. Cũng vì muốn trả thù cho những sự ngược đãi của
chính quyền Champa mà họ đã từng trải qua, hoặc không
muốn trở thành những nạn nhân vô tội của phe người Việt
thắng trận hoặc bị mắc mưu trong cơn biến động chính trị,
một số người Chăm phải chấp nhận theo Tây Sơn hay
Nguyễn Ánh và họ còn tham gia vào cuộc chiến bên cạnh
của hai phe này. Hiện tượng này đã gây ra bao sự chia rẽ
trầm trọng trong nội bộ người Chăm, kéo theo những
phong trào chống đối lẫn nhau trong một xã hội đã từng
gắn bó chặt chẽ với nhau. Bên cạnh của thực trạng xã hội
đang lâm vào con đường thoái hóa, những phe thắng trận
dù là Tây Sơn hay Nguyễn Ánh chỉ nghĩ đến chiến lược
làm chủ tình hình quân sự tại Champa, bằng cách chỉ định
một nhân vật theo phe mình lên nắm quyền để cai trị
vương quốc này. Chính vì thế, người ta thấy rõ vào năm
1790 phía nam của Champa (vùng Phan Rí) thì đặt dưới
quyền cai trị của Po Ladhuenpughuh (Nguyễn Văn Thừa
theo biên niên sử Việt Nam) một nhân vật do Nguyễn Ánh
chỉ định, trong khi đó phía bắc Champa (khu vực Phan
Rang) thì đặt dưới sự giám hộ của Po Tisuntiraydapuran do
Tây Sơn bổ nhiệm. Po Tisuntiraydapuran là một nhân vật
rất thân cận với Tây Sơn đã từng chạm trán quân sự với Po
Ladhuenpughuh, tức là người nằm trong phe của Nguyễn
Ánh (Đại Nam Thực Lục Chính Biên II-1, Bản dịch quốc
ngữ, Hanôi, 1963, trg. 58, 125).
Nhưng cũng không nên tin rằng hai đối tượng thù
địch Tây Sơn và Nguyễn Ánh có ý định bổ nhiệm những
nhân vật gốc Champa để nắm quyền cai trị vương quốc
này. Trên thực tế, dù là Nguyễn Ánh hay Tây Sơn, họ
không bao giờ ban cho giai cấp lãnh đạo Champa những
quyền lực chính trị thật sự để điều hành một quốc gia, mà
chỉ cấp cho họ những chức hàm để hợp thức hóa oai quyền
của họ trước quần chúng Champa với niềm hy vọng là
những giới lãnh đạo này có thể lôi kéo nhân dân Champa
theo phe mình. Những gì vừa nêu ra là sự thật của lịch sử
thời đó, bởi vì trong suốt chiều dài của cuộc nội chiến hay
sau cuộc nội chiến, Nguyễn Ánh cũng như Tây Sơn không
bao giờ phong vương cho những nhà lãnh đạo Champa thời
đó với danh nghĩa thật sự là Trấn Vương Thuận Thành, tức
là vua Champa, mà chỉ ban cho họ một chức Chưởng Cơ,
tức là chỉ huy trưởng của một trung đoàn trong hệ thống
quân đội thời đó. Và cả Nguyễn Ánh cũng như Tây Sơn
thường đối xử với những nhà lãnh đạo Champa rất là tồi
tệ. Chính Tây Sơn là người đã chỉ định Po Cei Brei (tức là
Nguyễn Văn Chiêu trong biên niên sử Việt Nam), làm
Chưởng Cơ của Trấn Thuận Thành (tức là thủ lãnh
Champa) vào năm 1783/1784 để thay thế Po
Tisuntiraydapuran đã từng cai trị vương quốc này vào năm
1780/1781, nhưng Tây Sơn lại truất phế Po Cei Brei để
đưa Po Tisuntiraydapuran trở lại nắm chức vụ vào năm
1786/1787 mà chẳng bao giờ cho biết lý do tại sao.
Kể từ năm 1794/1795, Champa-Panduranga hoàn
toàn nằm trong biên giới thuộc quyền quản trị của Nguyễn
Ánh. Đó cũng là năm đánh dấu cuộc chấm dứt chiến tranh
trên lãnh thổ Champa, ngọai trừ cuộc nổi dậy ngắn ngủi
của dân tộc miền cao mà biên niên sử Việt Nam đã nói
qua vào năm 1796 nhằm tấn công khu vực Phan Rí. Nhưng
biến cố này không có một hậu quả nghiêm trọng nào đối
với tình hình chính trị của Champa-Panduranga thời đó.
Ngược lại, vương quốc này phải đương đầu với làn sóng di
dân của những người Kinh nghèo khó và khốn cùng vào
lãnh thổ Champa. Dựa vào quyền lực quân viễn chinh của
nhà Nguyễn, dân cư người Kinh tìm cách xâm chiếm đất
đai của người dân bản địa Champa bị chết trong các cuộc
nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, hoặc đất đai của
những người Chăm chạy sang Campuchia lánh nạn để
thoát khỏi những cảnh tương tàn mà họ đã từng gánh chịu.
Tình hình vào thế kỷ XIX
Sau ngày chiến thắng chống quân Tây Sơn vào
năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy vương hiệu là Gia
Long và trở thành thủ lãnh tối cao của một quốc gia thống
nhất mà ông ta đặt tên là Việt Nam. Kể từ đó, Gia Long
phục hưng lại vương quốc Champa nhưng không công
nhận quyền độc lập và qui chế chính trị của nó. Vì rằng
Gia Long chỉ ban cho vương quốc này một thể chế tự trị, vì
lý do đặc thù của một dân tộc đã từng nằm trong phe của
Nguyễn Ánh để chống lại với quân Tây Sơn hơn là lý do
mang tính chất pháp lý chính trị. Dựa vào thể chế tự trị
này, triều đình Huế thăng chức Chưởng Cơ cho Po Saong
Nhung Ceng (Nguyễn Văn Chấn theo tài liệu Việt Nam),
một vị tướng lãnh gốc người Chăm đã từng chiến đấu bên
cạnh Nguyễn Ánh ở Gia Định và bổ nhiệm ông ta quyền
cai trị Champa-Panduranga thời đó. Po Saong Nhung Ceng
là người rất trung thành với Nguyễn Ánh, đã từng điều
hành khu vực giải phóng nằm trên lãnh thổ Champa sau
khi Po Ladhvenpughuh qua đời vào năm 1799.
Điều mà người ta thường nêu ra câu hỏi có chăng
việc phục hưng lại vương quốc Champa thời đó, tức là một
quốc gia không còn quyền lực nữa và việc bổ nhiệm một
vị tướng lãnh gốc người Chăm lên làm vị lãnh đạo của
vương quốc này dù có sự đồng ý của hội đồng hoàng gia
Champa đi nữa, chỉ là chiến lược của hoàng đế Gia Long
nhằm đảm bảo nền an ninh trật tự trên khu vực ChampaPanduranga,
rất nổi tiếng là quê hương của những phong
trào vùng dậy đấu tranh chống ngoại xâm. Giả thuyết này
rất có lý đối với tình hình vương quốc Champa thời đó. Sau
khi đã trải qua một thời kỳ phân hóa nghiêm trọng vào
những năm cuối cùng của thế kỷ XVIII, dân tộc Champa
chỉ còn giải pháp là nghĩ đến sự trùng tu lại xứ sở của
mình bị đổ nát và thực hiện giấc mơ phục hưng lại cơ chế
xã hội-chính trị để bảo tồn giá trị truyền thống của quốc
gia này. Cũng nhờ chính sách ưu đãi của Gia Long, vương
quốc Champa đã trải qua một giai đoạn an bình, các biên
niên sử Việt Nam và Chăm không còn nói đến những sự
biến động quân sự cũng như mối bất hòa chính trị nào đã
xảy ra tại vương quốc này, nhất là trong khu vực biên giới
phía tây của Bình Thuận, từ 1802 cho đến 1820.
Sự từ trần của Gia Long vào năm 1820 để nhường
ngôi lại cho hoànng đế Minh Mệnh đã đưa vương quốc
Champa vào một khúc quanh mới (Minh Mệnh Chính Yếu
I-VI, Bản dịch quốc-ngữ, Saigon, 1972-1974). Vừa mới lên
ngôi vào năm 1820, Minh Mệnh bắt đầu áp dụng chính
sách chống lại uy quyền của phó vương Gia Định Thành
tên là Lê Văn Duyệt, một nhân vật rất thân cận với hoàng
đế Gia Long đã từng nắm trong tay mọi quyền hành trên 6
tỉnh miền nam của xứ Việt. Sự tranh chấp giữa Minh
Mệnh và Lê Văn Duyệt đã đưa đẩy Champa vào con
đường rất khó xử, nhất là kể từ năm 1822 khi vua Minh
Mệnh quyết định tách phủ Bình Thuận ra khỏi Gia Định
Thành để sát nhập nó vào quyền chỉ đạo của triều đình
Huế. Đứng trên mặt địa dư, tỉnh Bình Thuận là đơn vị
hành chánh của Việt Nam nằm trên lãnh thổ Champa. Sự
quyết định của Minh Mệnh liên quan đến qui chế của phủ
Bình Thuận cũng là chính sách nhằm tách rời Champa ra
khỏi quyền kiểm soát của Lê Văn Duyệt, một nhà bảo trợ
cho vương quốc này ngay từ buổi ban đầu. Kể từ đó,
Champa đã trở thành một con cờ chính trị mà triều đình
Huế và Gia Định Thành phải tìm cách sử dụng với bất cứ
giá nào đề giải quyết vấn đề nội bộ của Việt Nam giữa
Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt thời đó.
Tình thế chính trị bất ổn ở Gia Định Thành và sự từ
trần của Po Saong Nhung Ceng vào năm 1822 mà biên
niên sử Chăm xem đó như là vị lãnh đạo cuối cùng của
Champa-Panduranga, đã đưa ra bao nghi vấn có chăng
một vương quốc Champa không còn nắm giữ trong tay
định mệnh sống còn của mình, có còn tồn tại như là một
quốc gia có chủ quyền hay không ? Đứng trên khía cạnh
địa dư của Champa mà phân tích, câu trả lời chắc chắn là
không. Nếu nhìn qua bình diện chính trị, thì câu trả lời
càng khó khăn hơn nữa. Thêm vào đó, chính sách của
triều đình Huế nhằm đưa người lên kế vị ngôi vua tại
Champa-Panduranga và phong cách cư xử của Minh Mệnh
đối với những thủ lãnh người Chăm kế thừa vua Po Saong
Nhung Ceng cũng như tên gọi của các chức hàm Việt Nam
mà triều đình Huế dành cho vua chúa Champa thời đó,
càng gây thêm bao nghi ngờ nữa. Bằng chứng cụ thể,
hoàng đế Minh Mệnh xóa bỏ đi qui chế nối ngôi của
Champa theo truyền thống đã có sẵn bằng cách không
chọn vị phụ tá của vua Po Saong Nhung Ceng, tên là Po
Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh), để nối nghiệp ông ta.
Không cần hỏi ý kiến của hội đồng hoàng gia Champa,
Minh Mệnh tự chỉ định một quan chức trong triều đình
Champa thời đó tên là Bait Lang lên nắm chính quyền với
lý do là nhằm bình thường hóa mối liên hệ giữa dân cư
Champa và người Kinh sinh sống tại phủ Bình Thuận. Sự
quyết định của Minh Mệnh về quyền nối ngôi tại Champa
và qui chế của vị tân lãnh tụ này đã gây ra cuộc nổi dậy
tại khu vực có biên giới chung giữa Champa và Gia Định
Thành vào năm 1822 mà người ta cứ nghi ngờ là có sự chỉ
đạo của Lê văn Duyệt. Cũng vì không đủ sức để dẹp tan
cuộc vùng dậy này, vua Champa vừa mới lên ngôi là Bait
Lang bị Minh Mệnh cách chức để thay thế vào đó Po Klăn
Thu (Nguyễn Văn Vĩnh), nhân vật mà hoàng đế Minh
Mệnh đã từ chối trước đó. Nhưng Minh Mệnh không ban
cho Po Klan Thu chức Chưởng Cơ mà triều đình Huế
thường áp dụng cho vua chúa Champa trước kia, mà là
quyền quản lý vương quốc Champa, tức là một nhân vật
chỉ có vai trò điều hành cơ cấu hành chánh mà thôi. Nhờ
sự yểm trợ của triều đình Huế, Po Klan Thu đã thành công
đẩy lui phong trào nổi loạn vào năm 1823 và buộc họ phải
rút về phía tây trong vùng rừng núi của Champa. Nhưng
phải nhờ sự can thiệp trực tiếp của Lê Văn Duyệt mà
phong trào nổi loạn này chấp nhận ngưng chiến. Kể từ đó,
những thành viên của phong trào này không bao giờ tuân
lệnh triều đình Huế nữa, mà chỉ phục tùng oai quyền của
Lê Văn Duyệt, tức là phó vương của Gia Định Thành.
Vào năm 1826, dân tộc Champa vùng dậy một lần
nữa cũng tại biên giới giữa Champa và Gia Định Thành.
Mục tiêu của phong trào này nhằm lên án Po Klan Thu về
tội chỉ biết phục vụ cho nguời Kinh, một tập thể vừa mới
đến định cư nhưng lúc nào cũng tìm cách cướp đoạt đất đai
của người Chăm và phục tùng cho triều đình Huế, một chế
độ chuyên đè bẹp dân chúng Champa để thu hút thuế má.
Và phong trào vùng dậy này còn có mục tiêu khác nữa, đó
là bài trừ người Kinh sinh sống tại Champa và phủ Bình
Thuận, bắt đầu lan tràn đến tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên.
Vì Po Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh) không đủ khả năng
chống lại cuộc nổi dậy này, hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh
cho đoàn quân của triều đình Huế phải dẹp tan cho bằng
được phong trào đấu tranh của dân tộc Champa và bắt
sống vị chỉ huy của tổ chức này vào năm 1827.
Năm 1828, Po Klan Thu qua đời. Phó vương Lê
Văn Duyệt phản đối công khai vị vua Champa kế thừa do
hoàng đế Minh Mệnh đề ra. Vì rằng Lê Văn Duyệt và
Minh Mệnh, mỗi người đều muốn đề cử người cùng phe
phái của mình lên nắm chính quyền Champa thời đó. Sau
cuộc tranh chấp này, Lê Văn Duyệt thành công đưa một
người thân cận của mình lên làm vua Champa vào năm
1828 đó là Po Phauk The (Nguyễn Văn Thừa), tức là con
trai của Po Saong Nhung Ceng và cũng là vị phụ tá của Po
Klan Thu (Po Dharma, Le Panduranga (Campa) 1802-
1835, Ses rapports avec Le Vietnam, I, Paris, Publications
de L'EFEO, Vol. CXLIX, 1987, trg. 105-118). Cho đến
hôm nay, người ta không biết sự chọn lựa này có sự đồng
ý của Minh Mệnh hay không. Và người ta cũng không biết
Po Phauk The có xin hoàng đế Minh Mệnh phong cho ông
ta vương chức hay không? Dù sao đi nữa, Lê Văn Duyệt
đã thành công chiếm lại quyền kiểm soát vương quốc
Champa thời đó và cả phủ Bình Thuận, một đơn vị hành
chánh không còn nằm trong tay của ông ta kể từ năm
1822. Kể từ đó, quan lại và dân chúng Champa hoàn toàn
Ngả về phía Lê Văn Duyệt và vua Champa là Po Phauk
The chỉ nộp thuế cho Gia Định Thành thay vì phải nộp cho
triều đình Huế như trước kia
Sự cáo chung của Champa-Panduranga
Một khi đã ngả về phe của Lê Văn Duyệt, kéo
theo sự cắt đứt mọi mối liên hệ với triều đình Huế, vương
quốc Champa chẳng thu được một mối lợi gì trong chiến
lược liên minh với Lê Văn Duyệt. Theo các tư liệu Chăm
cho biết, Lê Văn Duyệt vẫn đeo đuổi chính sách Việt Nam
Hóa đối với dân tộc Champa mà Minh Mệnh đã từng áp
dụng. Điều này đã giải thích tại sao một số quan lại của
Champa thời đó không chấp nhận chính sách tách rời
Champa ra khỏi quyền kiểm soát của triều đình Huế mà
mối liên hệ đã cấu thành một qui chế chính trị từ lâu.
Chính vì thế, những thành phần quan lại này không đồng
tình với chính sách mà Po Phauk The đang theo đuổi kể từ
cuối năm 1831. Lợi dụng cơ hội quần chúng Champa
không tán thành với chính sách của Lê Văn Duyệt, hoàng
đế Minh Mệnh ra lệnh bắt giam vị thủ lãnh Champa là Po
Phaok The và buộc vương quốc Champa phải nộp cho
triều đình Huế các loại thuế mà Po Phaok The chưa thực
hiện.
Năm 1832, Lê Văn Duyệt từ trần ở Gia Định
Thành. Lợi dụng cơ hội này, hoàng đế Minh Mệnh thu hồi
lại toàn lãnh thổ miền nam của Gia Định Thành, ra lệnh
bắt giam Po Phauk The và trừng phạt vương quốc Champa
về tội phản nghịch dám chống lại oai quyền của ông ta.
Các biên niên sử Việt Nam và Chăm (CAM 30-8) ghi rằng
Minh Mệnh quyết định vào năm 1832 hủy bỏ qui chế tự trị
của Champa, biến thần dân của vương quốc này thành
công dân của quốc gia Việt Nam thống nhất, xóa bỏ danh
xưng Champa trên bản đồ và chia cắt lãnh thổ Champa
thành đơn vị huyện và tổng theo mô hình tổ chức hành
chánh Việt Nam nằm trong hai tỉnh Bình Thuận và Ninh
Thuận.
Kể từ năm 1832, vương quốc Champa không còn
hiện hữu nữa, từ qui chế chính trị cho đến hệ thống tổ chức
kinh tế và xã hội mà bản văn Chăm ngữ CM 30-15 (trg.
116) đã ghi lại như sau:
“Vua chúa bị truất phế. Vương triều thì tiêu tan. Các
bậc đàn em không còn tin vào thế hệ của những người
anh trưởng. Thế hệ đàn cháu cắt đứt các mối quan hệ
gia đình với bậc đàn cậu. Các thành viên xuất thân từ
một gia đình chỉ biết cư xử với nhau như sự cư xử giữa
người Chăm và Kinh, không ngần ngại truy tố gia đình
của mình trước pháp lý. Các quan chức và thần dân
không phân biệt chức vị hay gia tộc, đều phải mặc quần
theo kiểu người Việt. Dân chúng Champa thời đó hết
sức khốn đốn và không biết thế nào là định mệnh của
họ trong tương lai”.
(còn tiếp)
Nguồn: Vương quốc Champa. Tác giả: GS. TS Pièrre-Bernard Lafont.
|