30.04.2017
Mai Thanh Hải
Giữ độc lập cho bầu trời

Hai chiến tuyến cùng nhau đánh giặc


Ngay sau 30.4.1975, các phi công trực thăng đã lái máy bay trực thăng UH-1 chiến lợi phẩm đánh trả quân Khơ me Đỏ xâm lược các đảo, biên giới Tây Nam.


Sát cánh cùng nhiệm vụ chiến đấu là những phi công, nhân viên kỹ thuật của chế độ cũ.


Uy lực đại liên 6 nòng


Đại tá Nguyễn Xuân Trường, nguyên trung đoàn trưởng 917 kể: Chiều 1.5.1975, đội “Utiti” gồm 4 chiếc UH-1 vũ trang bay từ sân bay Phù Cát vào Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ tiếp quản. Những chiếc máy bay này vẫn giữ nguyên màu sơn, số hiệu của chế độ cũ nên sở chỉ huy tiền phương phải lệnh cho bay cao khỏi tầm súng của 12,7 mm để tránh bộ đội, du kích ta bắn nhầm. Vừa tròn 3 ngày ở Sài Gòn, cả đội nhận lệnh bay xuống Cần Thơ làm nhiệm vụ đặc biệt, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Tưởng Phi Đằng, khi đó là trợ lý tác chiến Quân chủng Phòng không - Không quân, chỉ huy căn cứ không quân Cần Thơ.


Chầm chậm ngược dòng ký ức, đại tá Trường kể: Sáng 7.5.1975 lính Khơ me Đỏ tập kích khu vực Vĩnh Gia, Tịnh Biên (An Giang), sở chỉ huy tiền phương lệnh cho UH-1 xuất kích. Lái chính Nguyễn Xuân Trường, lái phụ Cán và 2 xạ thủ Học, Đoan nhanh chóng có mặt tại trận địa để trinh sát chỉ điểm cho máy bay cường kích A-37 oanh tạc và hạ thấp độ cao, dùng rốc két, đại liên 6 nòng tiêu diệt từng ổ đề kháng, đẩy đuổi đám lính áo đen về bên kia biên giới. “Đây là lần đầu tiên chúng tôi bắn rốc két, đại liên thật và biết địa hình kênh rạch miền Tây” - đại tá Trường thật thà nói vậy và khẳng định: “Kinh nghiệm bay, sử dụng vũ khí được phổ biến ngay cho anh em bay các chuyến sau”.


Liên tục từ 7 - 20.5, đội UH-1 làm nhiệm vụ trinh sát, trực tiếp cùng máy bay A-37 tiêu diệt quân Khơ me Đỏ lấn chiếm vùng Hà Tiên, Châu Đốc và một số đảo trên vùng biển Tây Nam. Ông Hồ Duy Hùng, nguyên Tổng giám đốc Công ty TNHH dịch vụ du lịch Phú Thọ (Tổng công ty du lịch Sài Gòn) nhớ lại thời điểm là thượng úy phi công trực thăng của trung đoàn 917, trực tiếp đẩy đuổi quân Khơ me Đỏ những ngày giữa tháng 5.1975: Thời điểm ấy rất hiếm phi công UH-1 nên các lái chính có khi bay 10 - 12 tiếng/ngày, làm đủ các nhiệm vụ trinh sát, vận tải, cứu thương và nhất là chiến đấu. Uy lực khiến địch khiếp sợ nhất của UH-1 là 2 khẩu đại liên 6 nòng M134 (còn gọi là Miligan) tiêu diệt được cả xe bọc thép, tàu chiến nhỏ, công sự phòng ngự với tầm bắn hiệu quả 1,5 km. Xạ thủ bắn đại liên chủ yếu là quân nhân của chế độ cũ được ta tạm tuyển. “Do đã quá rành rẽ, có kinh nghiệm sử dụng M134 nên họ bắn rất chuyên nghiệp. Các chuyến bay bảo vệ biển đảo đều bắn nát tàu địch, lỗ chỗ như cái rổ” - ông Hồ Duy Hùng kể.


Kinh ngạc “phi công Việt Cộng”


Đại tá Trịnh Minh Đức, nguyên trung đoàn trưởng 917 thời điểm 7.1978 - 9.1979 hiện đã nghỉ hưu là người gắn bó với lực lượng không quân trực thăng từ khi mới thành lập (5.1975) nên rất rành rẽ: “Lính Khơ me Đỏ cứ nghe tiếng trực thăng là chạy tán loạn. Thậm chí khi được Trung Quốc trang bị súng phòng không 12,7 mm và 14,5 mm để diệt máy bay, củng cố tinh thần quân lính, chúng cũng không bắn rơi được chiếc nào. Suốt 14 năm bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, đơn vị không có tổn thất về người trong chiến đấu”.


Đầu tháng 6.1975, trung đoàn 917 chỉ có 12 phi công trong khi số lượng máy bay gần 200 chiếc, từ trực thăng UH-1 cho đến vận tải CH-47 và trinh sát L-19, U-17. Vì vậy một số phi công của chế độ cũ được tham gia bay trong các nhiệm vụ vận tải, trinh sát thậm chí cả nhiệm vụ chiến đấu. Đại tá Nguyễn Thanh Mua, trung đoàn trưởng 917 những năm 1986 -1998 cười: “Anh em lưu dung bay cùng phi công ta bảo vệ biên giới Tây Nam đều lắc đầu: Hồi xưa chúng tôi chỉ hạ độ cao khi đuổi du kích, gặp bộ đội phải vọt lên vài trăm mét. Không như các anh, toàn treo ngọn cây, cưỡi ô tô mà bắn”.


“Các trận đánh trong thời gian đầu bảo vệ biên giới Tây Nam đều có phi công lưu dung tham gia. Ban đầu anh em còn sợ chết nhưng khi thấy sự tàn ác của quân Khơ me Đỏ và nhất là ý chí của phi công ta, họ hòa nhập ngay vào cuộc chiến đấu” - ông Mua nói.


Chia nhau từng hạt gạo - củ mì


Đến giờ, đại tá - AHLLVTND Lê Hải, nguyên trung đoàn trưởng 937 vẫn không quên được hình ảnh những thợ kỹ thuật lưu dung xách cặp lồng cơm vào làm việc tại sân bay Cần Thơ. “Phi công lưu dung thì ăn cùng phi công ta, anh em kỹ thuật không thể tổ chức bếp ăn do không có chỉ đạo từ trên và cũng không thể cắt khẩu phần bộ đội cho họ. May hồi ấy vệ binh tìm được kho rất nhiều đồ hộp, gạo sấy, lương khô nên tôi lệnh cho trợ lý hậu cần mỗi cuối tuần xuất chia từng anh túi gạo, hộp thịt để họ ăn thêm hoặc mang về nhà nuôi vợ con” - ông Hải kể và lắc đầu: “Mãi mấy tháng sau cấp trên mới giải quyết mỗi người 20 kg gạo/tháng. Anh em lưu dung gọi đùa là gạo Việt cộng”.


Cũng nhớ lại giữa năm 1975, nguyên trung đoàn trưởng 917 Nguyễn Xuân Trường trầm tư: Số phi công lưu dung do lương chế độ cũ cao, mua sắm nhiều tiện nghi trong gia đình nên sau giải phóng còn có ti vi, đồng hồ, xe máy bán dần mua lương thực nuôi gia đình. Tội nhất là anh em kỹ thuật nuôi vợ con rất chật vật. Chỉ huy trung đoàn phải họp thống nhất bớt khẩu phần ăn của bộ đội, mỗi người chỉ 1 nắm gạo/bữa để cuối tuần đưa anh em mang về phụ giúp gia đình. Riêng đồ ăn thức uống chiến lợi phẩm, bộ đội chuyển hết cho phi công, nhân viên lưu dung với lý do “Chúng tôi còn tăng gia trồng rau nuôi heo, các anh mang về cho gia đình để yên tâm làm việc cùng nhau”.


Hồi tưởng câu chuyện cách đây 41 năm, ông Ngô Văn Thành (nguyên chuyên viên sửa chữa khung phòng các loại máy bay của không quân chế độ cũ, hiện đang sống tại Q.7, TP.HCM) thành thật: “Ban đầu ai cũng sợ nhưng dần tiếp xúc mới thấy bộ đội không quân hiền khô, cũng lấm lem như lính thợ và khi nghỉ giải lao, ngồi túm tụm cùng nhau chia từng điếu thuốc, uống chung ly nước”. Riêng ông Nguyễn Nghĩa (chuyên viên sửa máy bay thám thính, hiện đang sống tại H.Nhà Bè, TP.HCM) thì nhớ như in chuyện: buổi trưa ngủ trên nền đất, bộ đội mang hết chiếu cho mượn…


“41 - 42 năm rồi, tất cả đều đã già và chỉ mong gặp lại nhau, ôn lại thời khổ cực nhưng gắn bó bằng tình người” - đại tá Nguyễn Xuân Trường, nguyên trung đoàn trưởng không quân trực thăng 917 ước ao và khẳng định: “Dù là bên thắng cuộc hay thua cuộc thì những phi công, nhân viên lưu dung ngày ấy cũng chung mục đích giữ độc lập, toàn vẹn bầu trời quốc gia và chúng tôi làm được như hôm nay, cũng nhờ có họ”...


Người thép trên bầu trời


Trung tướng Nguyễn Đức Soát, nguyên Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân VN - Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, kể: “Các phi công nước ngoài gọi phi công quân sự VN là “người thép”.


Đó là vì trong nhiều tình huống, phi công nước ngoài bỏ máy bay, nhảy dù để bảo toàn tính mạng, nhưng phi công VN bám máy bay đến cùng, bình tĩnh xử lý, hạ cánh an toàn và không bao giờ gây thiệt hại cho mặt đất.


Nếu phi công máy bay L39 gặp nạn không bình tĩnh xử lý, hậu quả sẽ rất nặng nề


Cứu SU-30MK trên biển Trường Sa


Đại tá Nguyễn Trọng Tuyến, hiện là Phó sư đoàn trưởng 370, nhớ như in chuyến bay tuần tiễu Su-30MK ngày 9.4.2011 trên vùng biển Trường Sa, sau đúng một ngày ông được bổ nhiệm chức vụ Phó trung đoàn trưởng Không quân tiêm kích 935, đóng tại TP.Biên Hòa (Đồng Nai). Hôm đó, ông bay số 1 cùng phi công Nguyễn Gia Nhân. Số 2 là phi công Đỗ Mạnh Hùng và Phan Xuân Tình (hiện là đại tá, Phó trung đoàn trưởng - tham mưu trưởng 935).


Đó là nhiệm vụ của các thế hệ phi công Su-22, Su-22M4, Su-27 thuộc trung đoàn 937, sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân (PKKQ) từ nhiều năm nay.


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, cách đất liền 600 km, đèn báo nguy trên máy bay số 1 bật sáng, đồng hồ báo áp suất dầu của động cơ trái tụt về 0, đồng thời lúc này phi công trên máy bay số 2 ở phía sau phát hiện động cơ trái có khói và cấp báo. Ngay lập tức, đại tá Tuyến tắt động cơ trái, báo cáo chỉ huy bay cho hạ cánh ở sân bay dự bị Phan Rang cách đó 400 km. Khi quỹ đường bay chỉ còn 139 km, tổ bay giảm tốc độ xuống dưới 600 km/giờ để tránh rung lắc và bình tĩnh giảm độ cao từ từ, hạ cánh an toàn.


Nhắc lại câu chuyện trên, đại tá Lê Văn Hợi, Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 935, cho biết thêm: “Đại tá Phan Xuân Tình, trước đó còn bảo toàn thành công máy bay Su-27 ở Phan Rang, Ninh Thuận”. Ông kể: Ngày 24.12.1997, thượng úy phi công Phan Xuân Tình điều khiển máy bay tiêm kích Su-27, đang trong quá trình cất cánh thì bị chim bay vào động cơ làm gãy lá máy nén, gây cháy. Đây là tình huống nguy hiểm, phi công có thể thoát ly khỏi máy bay, bung dù để bảo toàn tính mạng. Nhưng thượng úy Tình vẫn bình tĩnh thực hiện chỉ dẫn của chỉ huy bay, tiếp tục hoàn tất giai đoạn cất cánh sau đó mới vòng lại, hạ cánh xuống sân bay an toàn. “Đây là hành động dũng cảm của phi công có bản lĩnh, đã bảo toàn được vũ khí trang bị giá trị hàng trăm tỉ đồng nên nhà nước đã tặng thưởng phi công và chỉ huy bay Huân chương Chiến công hạng ba”, đại tá Hợi kể thêm.


Thà hy sinh, không để dân thương vong


Trường hợp khẩn cấp, chúng tôi được phép bung dù để bảo toàn tính mạng. Nhưng khi gặp sự cố đang bay, ai cũng thống nhất: Có chết cũng không để máy bay lao xuống gây thiệt hại cho người dân. Đó là đạo đức của phi công quân sự


Thiếu tá phi công Nguyễn Hữu Cường là cái tên ai cũng biết đến trong mấy tháng nay. Anh đã bung dù khi máy bay Su-30MK số hiệu 8585 bị nạn trên vùng biển Hòn Mắt (Nghệ An) ngày 14.6.2016 và sáng hôm sau được tàu đánh cá của ngư dân Hà Tĩnh cứu, đưa vào bờ an toàn. Ít ai biết trước đó 6 năm, phi công Nguyễn Hữu Cường không chỉ thoát chết trong gang tấc mà còn cứu thành công máy bay MiG-21 số hiệu 5284.


Thiếu tá Cường kể lại: Ngày 15.5.2010, anh là thượng úy, Biên đội trưởng phi đội 1, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371 điều khiển tiêm kích MiG-21 số hiệu 5284 bay huấn luyện thực hành. Khi đang ở độ cao lớn, Cường phát hiện đèn báo cháy và lập tức thông báo về chỉ huy bay. Do đang bay ở tốc độ lớn, không thể đột ngột giảm tốc nên phi công Cường điều khiển máy bay bay theo đường xuống chuẩn, thu vòng quay nhẹ phù hợp với trọng lượng rơi của máy bay. Bay vòng thứ nhất, Cường nhìn ra phía sau thì thấy đuôi máy bay đang cháy. Mặc dù nguy hiểm cận kề, được phép bung dù thoát ly nhưng phi công Cường vẫn xin bay vòng thứ 2 để hạ cánh. Khi tốc độ đã giảm, anh Cường điều khiển máy bay hạ thấp độ cao, tiếp đất chỉ bằng 2 bánh chính. Máy bay trượt trên đường băng, đến cuối đường mới dừng lại cho xe cứu hỏa lao đến dập tắt đám cháy…


Trong số các phi công của trung đoàn 937 chuyên trách bảo vệ Trường Sa rất nhiều người tuy chỉ trong độ tuổi 9X, nhưng phong trần nơi nắng gió khắc nghiệt và được gọi là “Hậu duệ của bầu trời”.


Sân bay Yên Bái giờ đã chuyển mục đích dân sự, nhưng người dân ở P.Minh Tân (TP.Yên Bái, tỉnh Yên Bái) vẫn thường lên ngọn đồi phía sau khách sạn Suối Mơ thắp hương ghi ơn thượng tá Nguyễn Văn Vinh và thượng úy Đặng Hồng Vinh. Đây là 2 phi công của Trung đoàn Không quân 931, thuộc Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không - Không quân. Chiều 12.11.2009, trong khi làm nhiệm vụ, máy bay MiG-21 đã gặp sự cố và 2 phi công trên đã cố gắng điều khiển máy bay rơi vào ngọn đồi trong thành phố, tránh khu dân cư đông đúc xung quanh.


“Trường hợp khẩn cấp, chúng tôi được phép bung dù để bảo toàn tính mạng. Nhưng khi gặp sự cố đang bay, ai cũng thống nhất: Có chết cũng không để máy bay lao xuống gây thiệt hại cho người dân. Đó là đạo đức của phi công quân sự”, thiếu tá Cường khẳng định.


Giữ tài sản cho nhân dân


Đến bây giờ, những phi công quân sự VN vẫn kể cho nhau câu chuyện của nguyên Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thận. Sáng 14.10.2005, thượng tá Nguyễn Văn Thận và trung tá phi đội trưởng Hoàng Quỳnh bay bài 50 - trinh sát khí tượng trên máy bay Su-27 số hiệu 8523. Vừa cất cánh rời đường băng sân bay Biên Hòa, một đàn chim bay chéo qua va đập và chui vào động cơ phải làm giảm vòng quay động cơ, hỏng lá nén, hỏng vòng gốm tầng 1. Từ chối lệnh thoát ly, tổ bay gượng đưa máy bay hạ cánh an toàn, không để rơi vào các máy bay khác trong sân bay. Sau đó, cả hai phi công được Bộ Quốc phòng khen thưởng đặc biệt và thăng quân hàm vượt trần.


Trong lịch sử Không quân nhân dân VN, có những trường hợp phi công “gan lỳ” đến không tưởng và thoát chết thần kỳ. Ngày 14.3.2000, máy bay MiG-21 số hiệu 5355 do thiếu tá - Phó trung đoàn trưởng 935 Bùi Tiến Đức bay bài 80. Sau khi thông qua trường bia, phi công phát hiện đối không nhỏ dần, xin đình chỉ nhiệm vụ về hạ cánh. Lúc này, phi công tiếp tục phát hiện máy phát điện một chiều bị hỏng nên phải thả càng khẩn cấp. Chiếc máy bay ở tốc độ cao lao xuống sân bay như viên đạn, thiếu tá Đức cương quyết giữ tốc độ hòng tiếp đất bình thường. Vừa chạm đất, phanh lốp của máy bay lại nổ. Phi công thả dù giảm tốc độ nhưng dù không bung... Chấp nhận hy sinh, thiếu tá Bùi Tiến Đức tắt máy, giữ hướng cho máy bay trôi theo đường băng và chỉ dừng lại khi đã chạm mảnh đất trống ngoài vành đai.


Liệt kê chi tiết, có đến vài chục trường hợp phi công của Sư đoàn 370 bảo toàn được máy bay, không làm thiệt hại người và tài sản của nhân dân, quân đội. Đơn cử ở Trung đoàn 935: Ngày 27.8.2007, máy bay Su-30MK số hiệu 8533 do thượng tá Trần Quốc Toản đang bay bài 4 thì bị chim chui vào động cơ, phi công bình tĩnh xử lý hạ cánh an toàn; Ngày 12.10.2007, trung tá Đào Trọng Kháng (nay là đại tá, Chính ủy Trung đoàn 935) điều khiển máy bay Su-27 số hiệu 6004 cũng xử lý thành công tình huống chim chui vào động cơ, bảo toàn vũ khí khí tài; Ngày 3.10.2000, máy bay MiG-21 số hiệu 5205 bị vỡ đường ống bơm cao áp của hệ thống động lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Phi công Trần Đình Quảng đã xin không thoát ly, xử lý tốt tình huống và hạ cánh an toàn... Và còn nhiều câu chuyện anh hùng khác mà các thế hệ phi công không thể nào quên.


Truy phong thiếu úy cho học viên phi công Phạm Đức Trung


Sáng 27.8, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, lễ tang học viên phi công Phạm Đức Trung, người hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bay huấn luyện trên máy bay L39 số hiệu 8705 tại TP.Tuy Hòa (Phú Yên), được tổ chức trang trọng theo nghi thức lễ tang quân đội. Đến viếng lễ tang, trung tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên T.Ư Đảng, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, đã trao quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng truy phong quân hàm từ thượng sĩ lên thiếu úy cho đại diện gia đình học viên Phạm Đức Trung. Ngày 28.8 thi thể của anh Trung sẽ được tổ chức hỏa táng tại đài hóa thân Hoàn Vũ, TP.Nha Trang (Khánh Hòa). - Xuân Triệu - Đức Huy


Canh trời Trường Sa - Kỳ 1: Tìm quần đảo trong mây


Đó là nhiệm vụ của các thế hệ phi công Su-22, Su-22M4, Su-27 thuộc trung đoàn 937, sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không - Không quân (PKKQ) từ nhiều năm nay.


Những chàng trai hơn 20 tuổi lần đầu lái Su-22 ra Trường Sa những năm 80 giờ đang dần nhường buồng lái cho con cháu sinh năm 1991-1992, canh trời giữ biển.


Được thành lập từ cuối tháng 5.1975, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vùng trời Nam bộ nhưng phải đến cuối tháng 11.1988, trung đoàn 937 mới chính thức được giao trọng trách bảo vệ Trường Sa - khu đặc quyền kinh tế biển và dầu khí phía Nam Tổ quốc…


Thiếu tướng Lâm Quang Đại, Phó Chính ủy Quân chủng PKKQ (người mặc đồ bay, thứ 4 từ trái sang phải) đã có thâm niên 18 năm bay tiêm kích Su-22M4 bảo vệ Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía Nam Tổ quốc. Tuy đã là Thủ trưởng Quân chủng nhưng thỉnh thoảng ông vẫn từ Hà Nội vào Phan Rang bay cùng biên đội


Chuyến bay đầu tiên của Không quân VN ở Trường Sa được thực hiện bằng máy bay UH-1, chiến lợi phẩm của Mỹ. Đầu tháng 1.1976, trung đoàn 917 được giao nhiệm vụ dùng trực thăng UH-1 phối hợp với Vùng 4 Hải quân triển khai nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa.


Sau khi hoàn tất công tác chuẩn bị, tháng 3. 1976, tổ bay UH-1 (gồm lái chính Lê Đình Ký; lái chính Hồ Duy Hùng ngồi ghế lái phụ; dẫn đường trên không Vũ Xuân Cán) cất cánh từ sân bay Cam Ranh, hạ cánh xuống tàu đổ bộ LST của hải quân và lên đường ra Trường Sa. Khi đến gần đảo Trường Sa Lớn, tổ bay cất cánh từ boong tàu, đưa đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu (do thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân VN dẫn đầu) hạ cánh xuống đảo. Từ Trường Sa Lớn, trực thăng được sự hỗ trợ của tàu LST lần lượt hạ cánh xuống các đảo Song Tử Tây, Song Tử Đông, Sơn Ca... Đợt hoạt động bay trực thăng đầu tiên này kéo dài 2 tuần và là tiền đề cho việc triển khai một số trạm dẫn đường của Không quân VN tại Trường Sa, dẫn dắt máy bay sau này.


Tiếp đó, tháng 5.1976, tổ bay UH-1 (lái chính Nguyên Đình Khoa; lái chính Hồ Duy Hùng ngồi ghế lái phụ; dẫn đường trên không Vũ Xuân Cán) tiếp tục đưa đoàn cán bộ hải quân đi kiểm tra tất cả các đảo nổi, đảo chìm trên khu vực quần đảo Trường Sa. UH-1 cũng cất cánh từ Cam Ranh, hạ cánh xuống tàu LST để ra Trường Sa. Khi ra đến gần các đảo như Châu Viên, Sinh Tồn... tổ công tác lại áp dụng cách bay như đợt hoạt động trước.


Ngày 6.11.1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa. Ngay hôm sau (7.11.1987), Tư lệnh KQ lệnh cho sư đoàn 372 tổ chức cơ động một phi đội Su-22M của trung đoàn 923 từ Thọ Xuân (Thanh Hóa) vào Phan Rang (Ninh Thuận) hiệp đồng với các đơn vị Vùng 4 Hải quân, Lữ đoàn Phòng không 378 sẵn sàng chiến đấu. Ngày 14.11.1987, lực lượng dẫn đường đã cùng phi công thực hiện dẫn bay thành công Su-22M cơ động chuyển sân đường dài lần đầu tiên vào phía Nam.


Đặc biệt, sáng 10.3.1988, Phi đội trưởng Vũ Xuân Cương và chuyên gia Liên Xô đã thực hiện thành công chuyến bay đầu tiên trên máy bay SU-22 từ Phan Rang ra đảo Trường Sa và quay về căn cứ an toàn.


“Để bay ra được Trường Sa, phải lắp thêm 4 thùng dầu phụ cho Su-22M và việc luyện tập mấy tháng ở các đảo ven bờ, từ 100 km lên 200, 300 km và nâng lên 400km”, thiếu tướng Lâm Quang Đại, Phó Chính ủy Quân chủng PKKQ kể lại.


Lợi thế Phan Rang


Sân bay Phan Rang (hay còn gọi là Thành Sơn) được xây dựng từ trong thế chiến thứ 2 bởi quân đội Nhật và được quân đội Pháp mở rộng quy mô phục vụ các chuyến bay vận tải hạng trung và chế độ cũ củng cố thành sân bay phản lực, trực thăng. Sau ngày 30.4.1975, sân bay Phan Rang trở thành nơi huấn luyện, sử dụng các máy bay chiến lợi phẩm.


Mãi giữa những năm 80, khi Trung Quốc bắt đầu triển khai ý định thôn tính một số đảo Trường Sa, Bộ Quốc phòng mới chọn sân bay Phan Rang là nơi đóng quân cho máy bay làm nhiệm vụ bảo vệ, do sân bay này chỉ cách Trường Sa 600km về phía Tây.


Sau sự kiện 14.3.1988 và việc Trung Quốc chiếm 2 đảo Chữ Thập, Châu Viên ở Trường Sa, toàn bộ lực lượng không quân trực chiến phía Nam đặt trong tình trạng sẵn sàng xuất kích. Nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa được đẩy mạnh.


Ngày 24.4.1988, Tư lệnh Không quân VN điều thêm 3 chiếc Su-22M từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Cuối tháng 6.1988, thêm 10 chiếc Su-22M được tăng cường và duy trì thường xuyên các chuyến bay nhiệm vụ. Trong 2 ngày (24 và 28.6.1988), các kíp trực ban dẫn đường của sư đoàn 372 và trung đoàn 923 đã phối hợp dẫn chính xác 2 đôi Su-22 lần lượt bay nhiệm vụ ra đảo Trường Sa và Phan Vinh. Đây là các chuyến bay nhiệm vụ đầu tiên của máy bay chiến đấu Su-22M do các phi công trung đoàn 923 hoàn toàn độc lập thực hiện.


Đầu tháng 10.1989, thiếu tướng Trần Hanh, Tư lệnh Không quân VN ra quyết định khôi phục phiên hiệu trung đoàn Không quân 937 (trực thuộc sư đoàn 372), đóng quân ngay tại sân bay Phan Rang, Ninh Thuận nhằm “tăng cường lực lượng bảo vệ vùng trời khu vực Nam Trung Bộ và chi viện, bảo vệ quần đảo Trường Sa, khu vực kinh tế biển ở thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc”.


Do đặc thù bảo vệ Trường Sa, trung đoàn 937 được trang bị 100% máy bay hiện đại, mới đưa về từ Liên Xô (cũ). Đây là máy bay tiêm kích bom Su-22M4, là lực lượng tác chiến để đánh các mục tiêu mặt đất, mặt nước và trinh sát đường không ở chiều sâu chiến thuật và chiến dịch; làm nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng tác chiến trong các loại hình chiến dịch phòng ngự, tiến công, chống đổ bộ đường biển, tiêm kích phòng không…


Ngày 25.11.1988, tại sân bay Phan Rang, sư đoàn 372 chính thức tổ chức lễ công bố quyết định khôi phục danh hiệu trung đoàn Không quân 397 chuyên trách bảo vệ Trường Sa.


Tiêm kích bom thống soái Trường Sa


Thực ra, trước khi diễn biến căng thẳng Trường Sa tháng 3.1988, Bộ Quốc phòng đã lường hết các tình huống trên không trên biển và cử 20 phi công cùng 60 cán bộ kỹ thuật sang Liên Xô (cũ) chuyển loại sử dụng máy bay tiêm kích bom Su-22M4, để làm tiền đề khôi phục phiên hiệu trung đoàn 937 bảo vệ Trường Sa. Cuối năm 1988, chuyến hàng viện trợ đầu tiên gồm 4 máy bay Su-22M4 cập cảng Đà Nẵng và ngay lập tức được lắp ráp, bay thử. Đầu tháng 3.1989, số máy bay Su-22M4 này được chuyển về sân bay Phan Rang làm nhiệm vụ chuyển loại cho phi công, các thành phần và đảm bảo bay.


Thượng tá Bùi Văn Long ((Phân đội trưởng, Tiểu đoàn bảo đảm kỹ thuật hàng không, trung đoàn 937) kể: Thời điểm ấy, bộ phận kỹ thuật bám sân bay 24/24, ăn uống ngay giữa sân bay nắng nóng và mệt lắm, mới chui vào nghỉ dưới cánh máy bay. Phi công thì được ưu tiên trong nhà trực làm bằng cót ép, vốn là xưởng kỹ thuật để lại từ hồi chế độ cũ, nhưng cũng chỉ một chút là ra sân cùng tìm hiểu, học tập làm chủ máy bay.


Cuối tháng 8.1989, lần đầu tiên 7 phi công của trung đoàn 937 thực hiện cơ động 7 chiếc Su-22M4 từ sân bay Phan Rang ra tổ chức bắn tên lửa và ném bom thử nghiệm một số vũ khí mới, đặc biệt là tên lửa không đối đất. Thiếu tướng Lâm Quang Đại (khi đó là đại úy, Phi đội phó điều khiển 1 máy bay Su-22M4 trong đội hình cơ động) kể lại: Trong tháng 9 và 10.1989, các máy bay bắn thử thành công vũ khí mới và tính đến hết tháng 11.1989, toàn trung đoàn đạt hơn 2.000 chuyến bay an toàn. Đặc biệt, ngày 19.10.1989, đôi bay Su-22M4 là phi công Vũ Kim Điến và Nguyễn Văn Thận hoàn thành xuất sắc chuyến bay nhiệm vụ tiêm kích bom đầu tiên ra Trường Sa. Sau đó, các chuyến bay tuần tiễu - trinh sát Trường Sa được thực hiện liên tục. Thiếu tướng Lâm Quang Đại là một trong số những người bay ngay sau chuyến đầu tiên đó.


Mỗi chuyến bay là sẵn sàng chấp nhận hy sinh


Không có chiến tranh, không nghe súng nổ nhưng với các phi công trung đoàn 937 bảo vệ Trường Sa, mỗi chuyến bay là sẵn sàng chấp nhận hy sinh và nhiều phi công đã mãi mãi nằm lại lòng biển…


 Bay lệch 10 km là không thấy đảo


Thiếu tướng Lâm Quang Đại, Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân (QCPKKQ), người đã thực hiện hàng trăm chuyến bay tuần tiễu ra Trường Sa - DK1 cho biết: "Phi công bay biển nói chung và bay Trường Sa nói riêng, không chỉ giỏi chuyên môn mà phải có tâm lý cực vững vàng. Bay đất liền còn phân biệt được đất và trời, nhưng bay biển thì trời và biển đều giống nhau".


Theo thiếu tướng Đại, thời tiết ở biến rất thất thường, khi ra rất tốt nhưng khi quay về gặp dông gió, mây mù bất thường là chuyện thường tình. Nguy hiểm nhất là cảm giác sai trong định vị không gian, nhìn biển cứ nghĩ là trời và… lao thẳng xuống. Nhiều phi công, nhất là phi công trẻ còn mắc cảm giác cô đơn khi bay liên tục vài tiếng đồng hồ mà không thấy vật chuẩn, không có nhiều đài dẫn đường…


“Từ đất liền ra Trường Sa, có khi chỉ 1 - 2 đài dẫn, trong khi bay đất liền thì đến đâu cũng có anh em các đài trạm nói bên tai. Không vật tiêu - vật chuẩn, không có người dẫn đường nên phi công rất khó nhận dạng đảo. Ở Trường Sa, chỉ cần đi lệch 10 km là sang khu vực khác”, thiếu tướng Đại nhấn mạnh.


Ông đúc rút: Phải triệt để tuân theo thiết bị dẫn đường. Nếu thiết bị trục trặc là rất phức tạp, phải xử lý ngay trong tích tắc kẻo bay lạc…


Trên thực tế, đã có nhiều trường hợp phi công lạc đường khi bay trên biển. Đơn cử: Ngày 24.5.2011, biên đội của trung đoàn 937 bay tuần tiễu Trường Sa, khi cách đảo Trường Sa Lớn khoảng 100 km, biên đội xin giảm dần độ cao và khi còn cách đảo khoảng 43 km, phi công báo cáo quan sát được Đá Lát nhưng không nhìn thấy đảo Trường Sa. Xác định tình huống mất đội, chỉ huy bay lệnh cho biên đội đình chỉ nhiệm vụ, quay về sân bay. Suốt hành trình trở về, các đài trạm liên tục bám sát, dẫn dắt biên đội, thông báo hướng bay, cự ly, thời gian, độ cao cho phi công về sân bay hạ cánh an toàn.


Nguyên nhân dẫn đến mất đội, được xem xét làm rõ tỷ mỉ: Do khí tượng khu vực quần đảo đột biến xấu. Phi công đã nhìn thấy Đá Lát nên quyết tâm tìm kiếm đảo Trường Sa, trong khi mây mù nhiều và mất đội. Ở tình huống này, chỉ huy bay và các thành phần bảo đảm đã cực kỳ bình tĩnh xử lý tốt, dẫn dắt máy bay về sân bay hạ cánh an toàn…


Cũng gần 1 năm sau đó, ngày 17.4.2012, Phó trung đoàn trưởng 937 Lê Văn Nghĩa điều khiển máy bay Su-22M4 từ Phan Rang ra Đà Nẵng để sửa chữa theo kế hoạch. Trong quá trình chuyển sân, máy bay phát sinh hỏng hóc hệ thống khí tài chuyên dụng, cộng thêm thời tiết trên đường bay diễn biến xấu, khiến máy bay bị lạc. Ngay sau đó, sở chỉ huy sư đoàn 370 và các đơn vị khác trong QCPKKQ phải nỗ lực liên lạc, tìm kiếm và dẫn dắt trung tá Lê Văn Nghĩa điều khiển máy bay hạ xuống… sân bay Biên Hòa.


Cánh én giữ biển trời


Những người lính Trung đoàn Không quân 937 không ngừng rèn luyện, huấn luyện bay, sẵn sàng bảo vệ biển trời Tổ quốc trong mọi tình huống.


Ở sân trung đoàn 937 vẫn sừng sững mô hình máy bay Su-27 thân cong trong động tác bay vút lên bầu trời, thượng tá Hoàng Văn Chiến, Chính ủy trung đoàn, nhấn mạnh: Phi công 937 ai cũng rành rẽ 3 nhiệm vụ cơ bản là tiêm kích phòng không, tiêm kích bom trên biển, tiêm kích bom trên đất liền. Vì vậy, các loại máy bay mới của VN đều được ưu tiên trang bị cho đơn vị đầu tiên. Ngay đầu 1995, QCPKKQ tổ chức đoàn cán bộ, phi công, nhân viên kỹ thuật đi học chuyển loại máy bay Su-27SK tại CH Liên bang Nga, trong đó quân 937 chiếm phân nửa. Trong thời gian 4 tháng, cả đoàn cấp tốc tìm hiểu, nắm bắt máy bay mới, thiết bị chuyên ngành và nội dung bảo dưỡng kỹ thuật.


Ngày 25.4.1995, trung đoàn 937 tiếp nhận 6 máy bay tiêm kích Su-27 đầu tiên của KQNDVN, mở đầu cho quá trình hiện đại hóa KQNDVN, trước hết nhằm mục đích tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu trên hướng biển Đông và biển Tây Nam. Thượng tá QNCN Bùi Văn Long kể lại tâm trạng choáng ngợp khi nhận máy bay mới cứng, thơm mùi dầu mỡ và thật thà: Không chỉ là vũ khí hiện đại, đắt tiền mà còn là tài sản quý của nhà nước, nhân dân. Do chuyên gia Nga chỉ ở 2 tháng hướng dẫn nên toàn đơn vị phải tập trung huấn luyện chuyển loại, tận dụng tối đa thời gian học chuyên gia.


Ngay sau đó, ngày 26.6.1995, Trung tướng Phạm Thanh Ngân, Tư lệnh QCPKKQ ra quyết định thành lập Phi đội 3 sử dụng máy bay tiêm kích Su-27 hiện đại, đảm đương nhiệm vụ xung kích trên hướng phòng thủ chiến lược của đất nước. Ngày 4.8.1995, trung đoàn tổ chức bay thử thành công chiếc tiêm kích Su-27 đầu tiên và trong 2 tháng đầu năm 1996, các máy bay Su-27 tham gia cùng Su-22M4 bay trinh sát, tuần tiễu trên biển và các nhiệm vụ đặc biệt khác, phát hiện gần 300 tàu thuyền trên Biển Đông, hơn 100 tàu thuyền nước ngoài ở khu vực DK1 và hơn 160 mục tiêu ở vùng biển Tây Nam. Đầu tháng 3.1996, QCPKKQ cho phép tiêm kích Su-27 bay nhiệm vụ trên vùng biển xa.


Tôi tò mò hỏi thượng tá Phạm Đức Doanh, trung đoàn trưởng 937 về phi công đầu tiên bay Su-27 ra Trường Sa, anh Doanh cười: “Anh ấy là Võ Văn Tuấn, Thượng tướng, Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN” và kể: Sáng 14.9.1997, biên đội gồm trung đoàn trưởng Võ Văn Tuấn và phi công Đỗ Văn Đức triển khai máy bay Su-27 tuần tiễu từ Phan Rang ra phía bắc quần đảo Trường Sa. Chuyến bay đánh dấu bước chuyển về chất của lực lượng không quân chiến đấu, khẳng định khả năng làm chủ bầu trời trên biển xa. Với các phi công 937, họ đã yên tâm vì bay Trường Sa không lo… hết dầu.


Gần 10 năm sử dụng hỗn hợp Su-22M4, Su-27 canh giữ Trường Sa, tháng 11.2004 toàn bộ máy bay Su-27 và lực lượng phi công, cán bộ nhân viên hàng không và phương tiện kỹ thuật bảo đảm Su-27 về trung đoàn 935 (cùng sư đoàn 370, đóng quân tại sân bay Biên Hòa) theo lệnh của QCPKKQ. Từ đó đến nay, trung đoàn 937 Phan Rang chỉ sử dụng tiêm kích bom Su-22M4 sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Biển Đông và Tây Nguyên.


Bay đến đâu cũng có nhân dân


Buổi sáng ở khu nhà ở phi công, Thượng tá Lê Đình Sơn ngồi giữa những phi công trẻ thế hệ 8X-9X và nhẩn nha kể toàn những chuyện chẳng liên quan gì đến bay lượn. Đọc được vẻ ngạc nhiên của tôi, anh Sơn bảo: “Ngoài giờ học tập huấn luyện, tuyệt đối tránh nói chuyện công việc để phi công căng thẳng. Chúng tôi là con người, cũng có gia đình người thân, cũng có cuộc sống đời thường và biết yêu thương như người thường”.


Cũng có ngồi là cà với phi công mới biết: Các chỉ huy đơn vị từ trưởng đến phó, vừa làm quản lý vừa là phi công và cả giáo viên kèm cặp hướng dẫn phi công chuyển loại. Mỗi ngày bay, sở chỉ huy vắng như chùa Bà Đanh vì tất cả ra đường băng. Chính ủy lên bay cùng phi công trẻ, trung đoàn trưởng ướt đẫm mồ hôi trong phòng kính chỉ huy bay, các cấp phó mướt mải phụ trách thông tin, dẫn đường kỹ thuật… Chả thế mà có đoàn kiểm tra bên khối Lục quân đến làm việc tại trung đoàn, không thấy đủ cán bộ chủ chốt mới gắt um: “Chả đâu như này. Sao không để 1 người chỉ huy bộ đội?” khiến chỉ huy đơn vị phải trả lời thật: “Nếu muốn đủ người dự họp, chắc Bộ Quốc phòng ra lệnh dừng bay”.


Mấy ngày ở “tổ chuồn chuồn”, khâm phục những phi công ở nơi thời tiết khắc nghiệt, doanh trại chưa đồng bộ, máy bay cũ kỹ… nhưng vẫn thành thạo từ bay tiêm kích phòng không; bay ứng dụng chiến đấu mục tiêu mặt đất; bay tiêm kích bom trên biển ban ngày, ban đêm; bay xem địa hình; bay nhiệm vụ tuần tiễu Trường Sa…


Chỉ đến lúc phi công mặc đồ bay, tôi lại tò mò: “Tưởng mang theo súng ngắn phòng khi nhảy dù?” và Phó chính ủy Sơn lại cười: “Mình bay trên bầu trời Tổ quốc, đến đâu cũng có nhân dân”, tôi mới vỡ ra thành thật: Họ là phi công quân sự, là bộ đội của nhân dân…


Từ khi thành lập đến nay, đã có 9 phi công của trung đoàn hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, đó là: Thượng úy Tạ Đông Trung, thượng úy Nguyễn Thế Hùng (cùng hy sinh 1.10.1977); trung úy Hoàng Mai Vượng, trung úy Phan Đức Toán (hy sinh 15.7.1975) đại úy Nguyễn Văn Sinh (hy sinh 10.7.1980); thiếu tá Nguyễn Quốc Dũng (hy sinh 31.10.1996); thiếu tá Hoàng Bá Tâm (hy sinh 6.7.1998); thượng tá Lê Văn Nghĩa và đại úy Nguyễn Anh Tú (cùng hy sinh ngày 16.4.2015, trong khi làm nhiệm vụ huấn luyện).


Mai Thanh Hải


 


thanhnien.vn

trieuxuan.info