ĐÔI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT TẢ CẢNH CỦA NGUYỄN DU
Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là một vấn đề lớn, đủ cho một công trình nghiên cứu công phu. Trong bài viết ngắn ngủi này, tôi chỉ muốn dừng lại ở một vài điểm mà tôi tâm đắc, muốn trao đổi với bạn đọc.
Trong Truyện Kiều, tả cảnh là cốt để tả tình, theo nguyên lý “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, hoặc “khi nên cảnh cũng chiều người”, bởi thế, trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du không tả cảnh theo mắt nhìn của mình, tác giả của Truyện Kiều, mà tả cảnh qua mắt nhìn, cảm nhận của nhân vật. Mở đầu Truyện Kiều, ba chị em vui vẻ đi chơi hội đạp thanh, lòng người phơi phới, nên phong cảnh thật non tươi và đẹp đẽ:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Có thể bạn đọc bảo rằng, cảnh mùa xuân thì phải thế chứ, phải cỏ xanh, hoa trắng, chứ buồn thì đâu còn là mùa xuân? Không đâu, vẫn là ngày xuân ấy, nhưng sau khi gặp mộ Đạm Tiên,Thúy Kiều buồn thương cho kiếp ca nhi, thì phong cảnh khi ấy:
Một vùng cỏ áy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một và bông lau
không còn đâu vẻ non tươi của mùa xuân nữa. Có thể bạn đọc lại nói rằng: bây giờ cảnh buồn là do trời đã chiều. “tà tà bóng ngả về tây” rồi!. Không đâu, trên đường ba chị em Thúy Kiều về nhà thì gặp Kim Trọng, tình yêu trong lòng Thúy Kiều hé mở, thì phong cảnh lại hữu tình, nên thơ:
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Như vậy, cảnh thanh minh mở đầu thiên Truyện, và còn bao cảnh khác được tả theo mắt nhìn và tâm trạng của Thúy Kiều: nàng vui thì cảnh đẹp, cảnh vui, nàng buồn thì hoa rụng và cảnh héo úa. Đối với các nhân vật khác cũng vậy, ví như Thúc Sinh, sau khi về Vô Tích dự đinh khai chuyện mình đã lấy Thúy Kiều, nhưng Hoạn Thư cao tay, luôn luôn bày tỏ lòng tin ở sự thủy chung của chồng, làm cho Thúc Sinh nghĩ rằng: “nào ai có khảo mà mình lại xưng”. Hơn thế nữa, sau một thời gian chung sống, Hoạn Thư còn khuyên Thúc Sinh nên trở lại Lâm Tri thăm bố! Có lẽ đối với Thúc Sinh, đó là khoảng khắc cực kỳ vui sướng, lòng phơi phới, phóng ngựa lên đường. Và khi đó cảnh mùa thu bày ra trước mắt chàng thật tuyệt vời:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
Tôi nhớ có lần trên Tuần báo Văn Nghệ có đăng ý kiến của một giáo viên dạy văn ở Hải Phòng, phê phán những người soạn sách giáo khoa chọn trích giảng đoạn Kim Trọng trở lại vườn thúy là đoạn không hay, vì tác giả Truyện Kiều đã tả trùng lặp, trong một đoạn thơ ngắn mà ba lần nói đến cỏ! Sự thật, đó là đoạn tả cảnh tiêu biểu, dựa vào mắt nhìn, ý nghĩ của Kim Trọng. Khi chàng mới trở lại , chưa bước chân vào vườn, từ ngoài nhìn vào, thì thấy cảnh hoang tàn tổng quát:
Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa
Song trăng quạng quẽ, vách mưa rã rời.
Rồi chàng từ từ bước vào vườn, vào sân, mới thấy:
Xập xè én kiệng lầu không
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày
Cảnh “Cỏ lan mặt đất” thấy được là do chàng cúi xuống tìm kỷ niệm xưa của Thúy Kiều để lại. Sau khi nhìn xuống sân, chàng nhìn quanh và dừng lại :
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này, những lối này, năm xưa.
Không phải ngẫu nhiên mà chàng dừng lại “cuối tường”, mà vì chàng nhớ lại “cuối tường dường có nẻo thông mới rào” trước kia, nơi Thúy Kiều đã bao lần đi qua để đến với chàng.
Sau đây, tôi muốn đề cập thêm ba ví dụ cụ thể:
1- Tôi nghĩ rằng, khi tả cảnh, trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du học theo phép điểm huyệt chữa bệnh của các thầy thuốc Đông y. Trước khi chữa, thầy thuốc phải tìm cho được cái huyệt của bệnh, sau đó chỉ cần điểm huyệt bằng đầu ngón tay hoặc mũi kim thì tức khắc bệnh khỏi. Tương tự thế, khi tả cảnh, Nguyễn Du tìm được cái huyệt của cảnh, nên không cần nhiều lời. Những câu thơ điển hình tả mùa xuân, mùa thu như: Cỏ non canh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa,,hoặc: Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng… cũng được tả theo thủ pháp ấy nhưng vì chúng quá quen thuộc nên tôi không muốn dừng lại để phân tích. Tôi đi vào câu thơ ít phổ biến hơn.
Trong tiết dạy hướng dẫn cho một lớp bồi dưỡng sáng tác, nói về nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du, tôi đã yêu cầu mỗi người về nhà viết một đoạn văn hoặc mấy câu thơ để tả ngôi nhà đã bị đốt cháy. Và tiết học hôm sau tôi đã có trong tay "tác phẩm" của gần 40 người. Chưa quan tâm về nghệ thuật câu chữ, tôi muốn biết các học viên đã dùng những chi tiết gì để tả. Sau đó đem so sánh với các hình ảnh mà Nguyễn Du đã dùng trong hai câu thơ:
Bước vào phòng cũ lầu thơ
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.
Cả lớp ai cũng phải tấm tắc khen cụ Nguyễn Du tài, vì đã điểm đúng cái huyệt, cái đặc trưng nhất của ngôi nhà cháy: tất cả mái nhà và đồ đạc đã biến thành tro than một đống, bốn tường không có thứ gì che chở nên phơi mưa phơi nắng. Đồ đạc biến thành tro than thì nhiều học viên tả được, nhưng không một người nào chạm tới cái cảnh"nắng mưa bốn tường" sờ sờ trước mắt mà chỉ cần đọc lên, kết hợp với "tro than một đống" thì không còn gì đầy đủ bằng khi tả ngôi nhà đã bị đốt. Trong hai câu lục bát, câu đầu Cụ dùng để kể chuyện Thúc Sinh bước vào nhà xưa, chỉ tám chữ của câu sau để tả, mà cảnh nhà cháy hiện lên rõ ràng, đầy đủ hơn khi chúng ta dùng đến cả một trang văn. Là vì cụ tả cảnh theo lối điểm huyệt, chỉ cần lảy đúng huyệt là cảnh đó hiện lên vừa điển hình, vừa đầy đủ, còn chúng ta tả cảnh theo lối đấm tầm quất, cứ đấm lung tung lên, chẳng biết đâu là huyệt và thậm chí có khi đã đúng huyệt rồi, không biết dừng lại, còn đấm tiếp, làm mất tác dụng của huyệt đó. Cũng cần lưu ý rằng, Nguyễn Du tả cảnh này không phải bằng đôi mắt của tác giả, mà qua cái nhìn của chàng Thúc Sinh: khi bàn chân chàng vừa bước tới, thì cái trước tiên đập vào mắt chàng là một đống tro than. Ta như thấy được lúc đầu chàng nhìn xuôi, sau đó mới thẫn thờ quay đầu nhìn quanh và ngước nhìn lên, ngao ngán trước cảnh bốn tường chơ chỏng không còn gì che chở. Như vậy, Đại thi hào chỉ dùng mấy chữ, không những làm hiện lên cảnh một ngôi nhà cháy trụi điển hình, mà người đọc thấy được tâm trạng của người trong cuộc, tức chàng Thúc Sinh lúc bấy giờ.
2 - Nghe lời khuyên của sư Tam Hợp, Giác Duyên về dựng một ngôi nhà lá bên sông Tiền Đường và thuê người đón vớt Thuý Kiều. Tất nhiên ngôi nhà này nằm ở chỗ vắng vẻ, yên tĩnh (nơi ở của sư mà). Bây giờ bạn đọc chúng ta hãy tả ngôi nhà này xem sao? Có thể tả bằng thơ hoặc bằng văn xuôi. Trước mắt chúng ta hiện lên cảnh sông Tiền Đường tĩnh lặng, có một ngôi nhà của sư lợp bằng lá cỏ… Thế là những từ như vắng vẻ, yên tĩnh, lung linh, soi bóng…hiện lên trong ngôn ngữ chúng ta. Tôi tin rằng khi định tả ngôi nhà này, những từ vừa rồi cũng đã xuất hiện ở cụ Nguyễn Du và chính cụ cũng biết được những từ đó có thể xuất hiện ở những người khác như cỡ chúng ta. Nếu Cụ là nhà thơ bình thường thì có lẽ những từ đó đã xuất hiện trong Truyện Kiều khi tả ngôi nhà này. Nhưng là Đại thi hào, Cụ phải vượt xa cái nhìn thường tình của người thường, không dùng những từ quá quen thuộc mà người khác dùng để tả cảnh, Cụ phải có cách nhìn khác, từ khác, dù vẫn tả cảnh ấy. Thế là Cụ viết:
Đánh tranh chụm nóc thảo đường
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
Câu thứ nhất mang chức năng kể, một yếu tố không thể thiếu được trong truyện thơ. Sự kể này mới kỳ diệu làm sao, chỉ sáu chữ mà nói được bao điều về ngôi nhà cỏ ấy, đặc biệt là hai chữ chụm nóc, không chỉ kể chuyện làm nhà mà một phần làm người đọc hình dung hình dáng ngôi nhà: Có lẽ đây là một nhà tạm do hai mái chụm lại mà thành. Sự thần kỳ nằm ở câu bát: Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi. Như vậy với tám chữ, Nguyễn Du không chỉ tả nhà mà tả trời, tả sông, bao chứa tất cả những điều chúng ta đã hình dung, đã muốn tả; bao chứa tất cả những từ vắng vẻ, yên tĩnh, lung linh, soi bóng nhưng tác giả không hề dùng một từ nào trong đó. Từ ví dụ này, người làm thơ chúng ta có thể rút ra được bài học là tránh xa sự thường tình, không nói điều mà những người khác có thể nói được.
3 - Nghệ thuật nén chữ trong câu lục bát được cụ Nguyễn Du thường trực quan tâm và thể hiện khá đắc địa trong nhiều câu tả cảnh. Ai cũng biết rằng, khi làm thơ tự do, nếu ý nhiều thì câu thơ dài ra, ý ít thì câu thơ ngắn lại. Nhưng với thơ lục bát, số chữ trong câu không đổi, nếu nhà thơ không chắc tay, câu thơ thường bị lỏng. Nói có hình tượng, làm thơ tự do giống như đựng đồ đạc vào trong túi vải, còn làm thơ lục bát giống như đựng vào hộp các tông. Túi vải xẹp hay căng tuỳ theo số đồ đạc, còn hộp các tông thể tích có sẵn, đòi hỏi người xếp đồ đạc phải chú ý để trong cùng một loại hộp như nhau, làm sao mình đựng được nhiều hơn người khác. Với thơ lục bát, đó là nghệ thuật nén chữ, chèn ý. Trong Truyện Kiều, có nhiều câu thơ Nguyễn Du đã lèn cho không hề có một khoảng trống, hay nói cách khác, cụ đã đựng được số đồ đạc đạt kỷ lục Ghi-nét trong hộp-các-tông-lục-bát định sẵn. Điển hình như câu:
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Chúng ta chú ý vào câu thứ hai xem tám chữ đó đã vẽ lên được cảnh gì trước lầu Ngưng Bích trong con mắt của Thuý Kiều. Ai chẳng hiểu bình thường thì bao giờ trăng cũng ở xa hơn núi, nhưng trong hoàng hôn ấy, núi non như lùi xa ra, vầng trăng như xích gần lại để cùng nằm trên một bình diện, cùng "ở chung". Vầng trăng ấy lẽ nào chẳng nhói lên trong lòng nàng Kiều cái "Vầng trăng vằng vặc giữa trời" hẹn ước, nên chỉ sau đó vài câu, nó xui nàng "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng"…Chưa nói chuyện nhà thơ phải có con mắt tinh tế thế nào mới có thể nhận ra điều đó, ngay cái việc lèn từng ấy nội dung vào trong một câu thơ thì thật thần tài.
Chuyện lèn chữ kiểu này chúng ta thấy rất phổ biến trong Truyện Kiều, làm cho hộp-các-tông-lục-bát của Nguyễn Du không bao giờ có khoảng trống.
Khi làm thơ lục bát, tôi luôn có ý thức học Đại thi hào, cảnh giác với những khoảng trống trong hộp các tông. Ví như bài Bên mộ cụ Nguyễn Du, lúc đầu tôi viết: Tưởng rằng mộ của Đạm Tiên, sau đọc lại, tôi nhận ra một khoảng trống khá to, cần lèn ý mới và viết thành: Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên thì hai chữ phận bạc giống như một khúc củi mới chêm vào cho bó-củi-lục-bát thêm chắc.
Nói về cái hay của Truyện Kiều thì chẳng bao giờ đủ. Tôi tạm nêu ba ví dụ trên, và tin rằng bạn đọc còn nêu được rất nhiều ví dụ khác trong" lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" của Truyện Kiều để minh chứng cho thiên tài của cụ Nguyễn Du.
TRỞ LẠI “NÉT NGÀI NỞ NANG” CỦA THÚY VÂN VÀ TIẾNG NGHỆ TĨNH TRONG TRUYỆN KIỀU
Những người thích tìm hiểu Truyện Kiều đều biết rằng, cuộc tranh cãi về “nét ngài” của Thúy Vân của các học giả ngót hai trăm năm qua bất phân thắng bại, cũng giống như cuộc tranh cãi cào cào, châu chấu hay tôm và tép. Kết cục thì không ai chịu ai, mỗi người cứ giữ nguyên ý kiến của mình trước khi vào cuộc tranh luận. Con nào là cào cào, con nào là châu chấu; con nào tép, con nào tôm…tưởng đơn giản vô cùng, chỉ vì quen gọi theo từng địa phương mà khó phân xử đúng sai, huống chi cái “nét ngài” của cô Thúy Vân từ những năm “Gia Tĩnh triều Minh” bên Tàu, cách nay ngót năm trăm năm, thì còn khó gấp bội. Ta cùng đọc lại hai câu thơ 19 – 20 tả Thúy Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét NGÀI nở nang
Những người cho nét ngài đó là nét lông mày, cái chính là dựa vào văn bản của các bản Kiều Nôm xuất bản nửa cuối của thế kỷ 19, như các bản Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Duy Minh Thị… đều viết chữ “ngài” đó có “bộ trùng”, thì tất phải là con tằm ngài rồi, nên không chấp nhận ý kiến khác. Những người coi chữ “ngài” đó là tiếng Nghệ Tĩnh thì luận rằng, với tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du, sẽ không bao giờ dùng tính từ “nở nang” để bổ nghĩa cho nét lông mày, vì với Cụ, thì có thể chọn được rất nhiều tính từ khác hợp hơn được đặt vào đây. Hơn nữa, khi tả Từ Hải, Cụ đã viết : “Râu hùm, hàm én, mày ngài”, chả lẽ lông mày Thúy Vân cũng như lông mày hình lưỡi búa của tướng võ? Vậy nên “nét ngài” ở đây là tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, chỉ nét người, rất hợp với tả người một cách tương đối tổng thể, mặt đầy đặn, người nở nang…Những người “phe kia” chất vấn: “ Thế thì giải thích sao khi chữ “ngài” được viết lại có “bộ trùng” để chỉ con ngài tằm? Xin thưa: Trong nhiều bản Kiều Nôm chúng ta có được, đều không phải nguyên bản chữ do Nguyễn Du viết, mà do tay những người quảng bá Truyện Kiều chép lại rồi đem in, họ chép theo cách hiểu của riêng mình nên có khi giữ được âm mà sai nghĩa. Đối với những người miền Bắc, chữ “ ngài” chỉ có hai nghĩa là con ngài tằm và một đấng được tôn trọng, ở đây họ thấy con tằm ngài là thích hợp, nên dùng chữ đó (có bộ trùng). Chuyện này không phải là cá biệt, mà xuất hiện khá nhiều trong các bản Nôm cổ, như bản Liễu Văn Đường…ví như hai câu 1565 – 1566 nói về Hoạn Thư:
Buồng ĐÀO khuya sớm thảnh thơi
Ra vào một mực nói cười như không
thì chữ “đào” ở câu thứ nhất là màu đào, màu đỏ nhạt để chỉ căn phòng phụ nữ, thì lại viết có bộ mộc, chỉ cây đào! Hay như hai câu 3017 – 3010:
Huyên già dưới GỐI gieo mình
Khóc than mình kể sự mình đầu đuôi
Ở đây Nguyễn Du sử dụng phép đảo ngữ làm nhiều người hiểu nhầm, đúng ra là “gieo mình dưới gối huyện già”, chủ ngữ ẩn, chỉ Thúy Kiều, và gối ở đây là “đầu gối”. Trong bản Liễu Văn Đường, chữ gối được viết có bộ mộc, chỉ cái gối gỗ dùng để gối đầu, đúng ra phải viết có bộ túc, chỉ đầu gối. Điểm qua vài ví dụ như vậy để nói rằng, không phải chữ Nôm nào có trong văn bản cũng đều đáng tin cậy, như chữ “ngài” có bộ trùng mà chúng ta đang khảo sát.
Sự thật có nhà hiệu đính đã hiểu đúng, văn bản cổ đã khắc đúng chữ “ngài” để chỉ người, như “ Kim Vân Kiều tân truyện” được Abel des Michels dịch ra tiếng Pháp năm 1884, hay bản “ Kim Vân Kiều tân truyện”, Phúc Văn Đường tàng bản (1916) và bản Kiều do cụ Chu Phi Bảng chép tay ở Diễn Châu, Nghệ An…
Trong Truyện Kiều, Đại thi hào sử dụng một số tiếng Nghệ Tĩnh, ngoài chữ “ngài” này ra, còn một số chữ khác, như chữ “ả” có nghĩa là “chị’, chữ “nghỉ”, đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, số ít. Với chữ Nôm, chữ “nghỉ” và “nghĩ” viết giống nhau, nên muốn phiên âm đúng, cần biết ý nghĩa của chữ “nghỉ” người Nghệ Tĩnh thường dùng với nghĩa “hắn ta” coi thường hoặc suồng sã. Ông Đinh Văn Niêm, cháu ngoại sáu đời của cụ Nguyên Du có phát biểu một câu đáng nhớ khi nghe tin Hội Kiều Học Việt Nam đang tổ chức hiệu đính Truyện Kiều: “ Các ông muốn hiệu đính thế nào thì tùy, nhưng nếu đọc đến câu thứ 12 mà “Gia tư nghỉ (dấu hỏi) cũng thường thường bậc trung” thì tôi không thèm đọc nữa, vì như vậy là không hiểu tiếng Nghệ Tĩnh và không hiểu cụ Nguyễn Du”. Tôi tán thành ý kiến ấy. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ dùng chữ “ nghỉ” để chỉ Mã Giám Sinh và Sở Khanh, còn đối với ngay cả Thúc Sinh, Kim Trọng…những nhân vật chính xuất hiện nhiều, rất cần thay đổi đại từ nhân xưng cho phong phú, tránh trùng lặp…nhưng cụ không bao giờ dùng chữ “nghỉ”, mà chỉ dùng chữ Kim, Thúc, Sinh, chàng… mà thôi, thì sao với Vương Viên ngoại, một ông già đáng kính, thi hào lại dùng chữ “nghỉ”?
Tôi đã từng đem câu Kiều thứ 320 ra hỏi rất nhiều bạn bè mê Kiều người Bắc: “ Là người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe” thì hai chữ “chẳng nhe” nghĩa là gì? Không một ai trả lời được, dễ hiểu thôi, vì họ là người Bắc, mà ở đây cụ Nguyễn Du dùng tiếng Nghệ. Để bắn súng hoặc bắn cung đúng đích, người bắn phải ngắm. Ngắm là tiếng phổ thông, còn tiếng Nghệ gọi là “nhe”. Chữ “nhe” còn có nghĩa rộng là ngắm nghía, cân nhắc, suy xét…một cách cẩn thận. Một vị bác sĩ ở Hà Tĩnh bảo với tôi rằng, khi mua cam, anh chọn được mười quả rồi, đang phân vân xem có nên đổi quả nào không, thì bà bán cam nói: “ Mười quả nớ to nhất rổ rồi, còn nhắm với nhe chi nữa”! Với ý nghĩa ấy, Kim Trọng không cần cân nhắc, suy xét (chẳng nhe) cũng nhận ra Thúy Kiều là người hôm nọ!
Còn hai câu: 1133 – 1134:
Tú Bà tốc thẳng tới nơi
Hằm hằm áp ĐIỆU một hơi lại nhà
Hai chữ đầu câu bát, nhiều bản phiên âm là “Hăm hăm”, như thế không chính xác, mà phải là “hằm hằm”, chỉ bộ mặt tức giận nhưng không nói gì. Nhưng ở đây tôi muốn bàn ba chữ “điệu một hơi”, là thành ngữ quen thuộc người Nghệ đến ngày nay vẫn quen sử dụng. Tôi đã hỏi nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo, quê Bắc Ninh rằng, người quê anh có hiểu chữ “điệu” ở đây nghĩa là gì không. Anh Bảo trả lời rằng, chỉ những ai học chữ Hán mới hiểu, còn nói chung thì không. Chữ “điệu” vốn là động từ Hán Việt, theo nghĩa lôi, kéo…và người Nghệ lâu nay vẫn sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày, theo nghĩa dùng nhiều sức để lôi, để kéo một người, một động vật theo ý mình, trong khi đối tượng bị kéo luôn chống lại. “Điệu một hơi” là nín thở mà kéo, vì nín thở nên Tú Bà không nói gì, mà vẻ mặt hằm hằm, giận dữ.
Xét thêm một trường hợp nữa, câu 585 – 586:
Điều đâu bay buộc ai làm
Vì ai đan RẬP giật giàm bỗng dưng.
Trong bản Liễu Văn Đường 1971 do Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, chữ thứ tư ở câu bát được phiên âm là “rập”, nhưng in nghiêng như những chữ đáng nghi ngờ khác, vì ông Tuân không hiểu chữ RẬP có nghĩa gì. Đây cũng là một từ Nghệ Tĩnh quen thuộc, chỉ dụng cụ để đánh bắt giơi, bắt chim, gồm hai sào nứa, khoảng giữa căng lưới, thường ban đêm căng trên đường giơi bay đi ăn quả, hoặc chim bay khi bị người đánh động bằng cách dùng sào đập vào các bụi rậm chúng ngủ đêm. Khi giơi hoặc chim vướng vào lưới thì hai sào nưá được người ta rập lại sát nhau, để chúng thông thể bay ngược trở lại được. Vì cái động tác “rập” đó, mà dụng cụ này có tên gọi là cái rập. Kiều Oánh Mậu cũng không hiểu được ý nghĩa chữ này, nên ông đổi thành chữ “giậm”, chỉ dụng cụ bắt cá!...
Câu 867 – 868 trong Truyện Kiều, hầu hết các bản quốc ngữ xưa nay đều ghi:
Lầu mai vừa rúc còi sương
Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi
Nhưng chữ “giục giã” mới xuất hiện trong bản Nôm của Kiều Oánh Mậu, xuất bản năm 1902, còn tất cả các bản Nôm có từ trước thì chữ thứ tư trong câu bát đó(…) đều được phiên âm là RẠO hoặc DẠO. Ví như bản Liễu Văn Đường 1871, thì chữ đó được phiên âm là RẠO, nhưng in nghiêng, ý người hiệu đính nói rằng: mặt chữ Nôm đó thì phải đọc là RẠO nhưng không hiểu nghĩa ra sao! Chắc Kiều Oánh Mậu cũng không hiểu nghĩa ra sao, nên đổi thành “giục giã”, rất dễ hiểu, nên các bản quốc ngữ về sau cứ thế mà dùng.
Khi cùng Hội Kiều học hiệu đính Truyện Kiều, gặp chữ Nôm này (…) tôi phân vân và nhớ lại, ở quê tôi cho đến tận ngày nay, người ta vẫn dùng chữ RẠO rất phồ biến, với chức năng trạng từ, bổ nghĩa cho động từ với ý nghĩa “ẫm ĩ”, “ồn ào”… gây khó chịu cho người nghe. Bố mẹ đi làm về, nghe trong nhà các con cãi nhau ồn ào thì quát : “ Có chuyện chi mà bọn bay “mần rạo” ra rứa”? Ngay ở trong lớp học, có lần thầy giáo người Nghệ thấy học sinh mất trật tự đã nói: “ Lớp học chứ không phải cái chợ, mà các em “làm rạo” như vậy”?… Trong dịp đi nói chuyện về Truyện Kiều ở các địa phương của tỉnh Hà Tĩnh vừa qua, tôi đã đem từ RẠO này ra trưng cầu ý kiến khoảng một ngàn người thì được biết rằng, ở Hà Tĩnh cũng dùng từ này phổ biến như ở Nghệ An , với cùng một nghĩa ấy. Bản thân tôi thấy rằng, với nghĩa ấy, “giục rạo” hay hơn “giục giã” nhiều, vì “giúc giã” khá bình thường, không nói lên được hành động đáng ghét của Mã Giám Sinh mà tác giả Truyện Kiều đã thể hiện thái độ. Bởi vậy, theo tôi, chúng ta nên trả lại chữ của Nguyễn Du như trong tất cả bản Kiều Nôm cổ:
Lầu mai vừa rúc còi sương
Mã Sinh giục rạo vội vàng ra đi
Vẫn biết sự hiệu đính này có thể làm khó chịu với một số người đã quá quen thuộc với “giuc giã”, và trong “tiềm thức” của họ, chữ “rạo” rất xa lạ, nhưng biết làm sao được, khi văn bản là vậy và nghĩa nó là vậy. Và, như thế, thêm một trường hợp Nguyễn Du sử dụng tiếng Nghệ trong Truyện Kiều.
Còn có bản phiên âm chữ đó là DẠO, thì có thể người Bắc có khi nhầm lẫn hai phụ âm R và D. Và cũng thể, chữ đó có thể đọc là DẠO được, còn ý của Nguyễn Du thì tôi đã hiểu như đã trình bày.
Nguyễn Du quê Hà Tĩnh, sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, sinh thời ông sống nhiều vùng quê từ Phú Xuân ra Bắc Hà. Ông sống ở quê Hà Tĩnh một số lần, đợt dài nhẩt sáu năm trời…nên ông hiểu tiếng Nghệ và trong sáng tác văn chương, thi thoảng ông có dùng một ít từ Nghệ có chọn lọc, chứ không bao giờ sử dụng tràn lan tiếng địa phương như một số người khác chỉ sống trên vùng đất này. Khi đọc Truyện Kiều, chúng ta lưu ý điều này, và thật may cho bạn đọc phổ thông, số tiếng Nghệ trong Truyện Kiều khá ít, chắc đếm chưa hết trên đầu mười ngón tay!
Có người khẳng định rằng Nguyễn Du không dùng tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, mà những từ như Ả, Nghỉ, Điệu, Nhe, Rạo…là tiếng phổ thông nước ta vào thời cụ Nguyễn Du! Thế thì tại sao những từ đó ngày nay những địa phương khác không dùng nữa, mà chỉ sử dụng ở vùng quê Nghệ Tĩnh? Bằng chứng những người này dựa vào là một số quyển Từ điển thời ấy đã thấy ghi các từ trên, thì sao không nghĩ rằng, chính những người làm Từ điển đã lấy tiếng địa phương làm tiếng phổ thông?
Tôi vẫn tin khi sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du có sử dụng một số tiếng Nghệ Tĩnh, tuy nhiên số lượng rất hạn chế và được chọn lọc kỹ càng.
LUẬN VỀ “TIẾNG GÀ” TRONG TRUYỆN KIỀU
Trong số khoảng 50 loài động vật được nhắc tên trong Tuyện Kiều, gà xuất hiện năm lần. Kể ra dùng từ “xuất hiện” ở đây không thật chính xác, vì cả năm lần ấy không hề thấy bóng dáng con gà một lần nào, mà hầu hết chỉ là tiếng gáy. Đêm trong Truyện Kiều thường có trăng, còn tiếng gà thì thưa thớt lắm. Trong hạnh phúc thề bồi, rồi tình tự trắng đêm, tiếng gà lánh biệt, để cho “vầng trăng vằng vặc giữa trời” chứng kiến lời thề nguyền trọn vẹn. Tiếng gà khi ấy như ém sẵn đâu đó để chờ cơ hội là bước đường lưu lạc của Thúy Kiều.
Gặp cảnh gia biến, nàng Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh để có tiền chuộc cha. Nàng đã “ngồi nhẫn tàn canh” trong đêm trao duyên đầy nước mắt, nhưng không hề có một tiếng gà nào, mà nàng chỉ nghe “khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi”. Rồi sáng hôm sau gã họ Mã đưa xe ngựa đón nàng đi về nhà trọ, là bắt đầu cuộc đời lưu lạc của nàng.Sau “một cơn mưa gió nặng nề” Mã gây ra, có lúc nàng đã toan tự tử vì coi “đời người thôi thế là xong một đời” như e liên lụy đến cha mẹ, nàng đành cam chịu nuốt hận, thì tiếng gà tìm đến:
Những là đo đắn ngược xuôi
Tiếng gà đâu đã gáy sôi mé tường.
Không phải ở nhà mình, nàng không biết tiếng gà từ đâu vọng lại, mà sao tiếng gà lại nhiều thế, lại dồn dập, gáy như sôi cả mé tường? Tiếng gà ấy không chỉ báo trời sắp sáng, mà còn như phụ họa tay họ Mã giục nàng “vội vàng ra đi”.
Nàng theo Mã đi xe một tháng ròng từ Bắc Kinh về tận Lâm Tri nhập vào nhà chứa của Tú Bà. Nàng toan tự tử để tránh chuyện tiếp khách làng chơi, buộc Tú bà phải dùng lời ngon ngọt để lừa nàng. Rồi tên Sở Khanh xuất hiện để thực thi âm mưu của mụ chứa, y làm ra vẻ người anh hùng muốn vớt nàng ra khỉ bể trâm luân . Và một đêm, nàng đã theo y bỏ trốn. Sở Khanh khoe “có ngựa truy phong”, chạy nhanh như gió, ai cũng nghĩ chính y sẽ cưỡi con ngựa đó, nàng Kiều sẽ ngồi sau sát sau lưng y trên đường chạy trốn giống như công chúa Mỵ Châu đã chạy trốn theo vua cha An Dương Vương. Nhưng không, “song song ngựa trước ngựa sau một đoàn”, nghĩa là dùng hai ngựa, Sở Khanh đi trước dẫn đường, Thúy Kiều theo sau. Thì ra gã Sở Khanh này đã tính chuyện bỏ nàng lại giữa rừng, để mình “rẽ dây cương” làm ra như thể vô tình lạc nhau, là y tính chuyện sau này còn gặp lại nàng. Trong khung cảnh này, tiếng gà lần thứ hai xuất hiện trong Truyện Kiều:
Đêm thu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương
Lối mòn cỏ nhợt màu sương
Lòng quê đi một bước đường một đau
Tiếng gà xao xác gáy mau
Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.
Bốn câu đầu nói cảnh cuối đêm về sáng giữa rừng khi hai người lặng lẽ đưa nhau đi trốn. Nhưng cảnh ấy không hề yên tĩnh, vì lòng Kiều không yên tĩnh, nên mọi tiếng động đều được khuếch đại lên. Nàng nghe “gió cây trút lá”, tức là gió mạnh, làm cho lá cây rơi tơi tả, dường như nàng có linh tính nghĩ về thân phận của mình trên “lối mòn có nhợt màu sương” ấy. Rồi “tiếng gà xao xác gáy mau”, gáy dồn dập để chuẩn bị cho “tiếng người đâu đã mé sau” đuổi đến bắt nàng. Tiếng gà ở đây là dấu hiệu của tai họa nên bản thân nó cũng đáng kinh sợ đối với nàng Kiều rồi!
Tú Bà đã thành công khi dùng Sở Khanh để buộc Thúy Kiều làm phận sự của cô gái lầu xanh “cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm”. Rồi nàng gặp Thúc Sinh, Thúc Sinh đã vớt nàng ra khỏi vũng bùn lầu xanh thì lại đưa nàng hứng chịu máu ghen của Hoạn Thư. Hoạn Thư hành hạ Kiều, không “cạo đầu bôi vôi”, không hề đánh đập…nghĩa là không hành hạ về mặt thể xác, mà về tâm hồn. Nghĩ cho cùng, đó là cách đánh ghen cay độc của một người có văn hóa khi tin đối thủ là người có văn hóa. Tài năng đã cứu Kiều, Hoạn Thư nề trọng và cho Kiều ở Quan Âm Các, một tháp thờ Quan Âm của gia đình họ Hoạn từ lâu đã xây lên để tu tại gia. Kể cho cùng, Hoạn Thư muốn hành hạ (tâm hồn) Kiều để Kiều xa Thúc Sinh ra, chứ không có ý diệt Kiều, nêntạo điều kiện cho Kiều tự trốn đi khỏi Quan Âm Các giữa đêm khuya. Và trong đêm ấy, nàng đã nghe tiếng gà:
Cất mình qua ngọn tường hoa
Lần đường theo ánh trăng tà về tây
Mịt mù dặm cát đồi cây
Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương.
Sao tiếng gà ở đây “vắng vẻ” đến vậy? Trong không gian bàng bạc ánh trăng trên ngôi điếm và sương buông trên nhịp cầu đêm, có dấu giày mà không có tiếng chân, duy nhất âm thanh chỉ có tiếng gà, dường như rất mảnh. Tiếng gà lần này lại khác hẳn hai lần trước là vì tác giả Truyện Kiều đã đưa ta vào “không gian Phật giáo”, không chỉ từ cái Quan Âm Các của nhà họ Hoạn, mà cái chính là ngôi chùa Chiêu Ẩn Am của sư Giác Duyên phía trước. Lần thứ nhất tiếng gà “gáy sôi mé tường” để báo trước cảnh hãi hùng của bước đường lưu lạc “đùng đùng gió giục mây vần”. Lần thứ hai gà “xao xác gáy mau” nhằm đưa tin “một đoàn đổ đến trước sau” trong đó có “Tú Bà tốc thẳng tới nơi” vây bắt Thúy Kiều. Còn lần này, mặc dù vẫn trên bước được lưu lạc, nhưng phía trước là ngôi chùa mở tay “tế độ”, nên tiếng gà như đã báo cảnh yên bình không xa.
Sự yên ổn của Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am chỉ được độ nửa năm, rồi nàng lại tiếp tục cuộc lưu lạc đầy nước mắt. Và tiếng gà cũng từ giã nàng từ ấy cho tới ngày đoàn viên “đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ”.Người tình xưa đã hóa thành người bạn, đánh đàn, trò chuyện suốt đêm thâu. Trong trạng thái đó, tiếng gà lại tìm đến để cho nàng Kiều và chàng Kim cùng nghe một lần duy nhất:
Chuyện trò vừa cạn tóc tơ
Gà vừa gáy sáng, trời vừa rạng đông
Tiếng gà ở đây có chức năng báo thời khắc: đêm đã qua, ngày mới đã tới và cũng ngụ ý đêm trường lưu lạc mười lăm năm đã qua để gặp ngày mới đoàn viên. Có lẽ đây là tiếng gà vui duy nhất trong Truyện Kiều, khi lòng nàng không nỗi kinh hoàng và âu lo nữa.
Ngoài bốn lần tiếng gà xuất hiện, thì còn một lần khác gà không đến với Thúy Kiều bằng âm thanh, mà bằng hình hài trong lời mắng nhiếc nàng của mẹ Hoạn Thư:
Ra tuồng mèo mả, gà đồng
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào…
trước khi sai người nhà đánh đập Thúy Kiều không thương xót. Có lẽ đây là lần chữ Gà làm đau Kiều nhất, vì một người tài sắc vẹn toàn, có giáo dục như nàng mà bị xếp vào bọn vô lại, không nơi nương tựa, chui rúc đầu bờ cuối bụi như lũ mèo ở mả, gà ở đồng.
Nhân đây ta cũng cần lưu ý: chỉ mẹ Hoạn Thư mới sai người nhà đánh đập Thúy Kiều, còn Hoạn Thư không hề động đến nàng, vì Hoạn Thư luôn cảm phục Thúy Kiều, “lòng riêng những kính yêu”…
Nguyễn Du mô tả tiếng gà không qua tai nghe của bản thân mình, mà qua sự cảm nhận của Thúy Kiều. Bởi vậy, chỉ cần suy xét tiếng gà, chúng ta cũng một phần hiểu được tậm trạng lo sợ, buồn vui của nàng, mà hơn thế nữa, tiếng gà ấy có khi báo trước chặng hành trình sắp tới.
Tết Con Gà, 2017
CON NGỰA THẬT LẮM CÔNG
Thời nàng Kiều, những “năm Gia Tĩnh triều Minh” (1522 – 1566) bên Trung Quốc, cũng như ở nước ta thời đó, ngựa là phương tiện giao thông hết sức quan trọng. Đường thủy thì dùng thuyền, đường bộ nếu không bước bằng chân, nếu không sử dụng sức người khác thì phải cần đến ngựa, dù là trực tiếp cưỡi hoặc ngồi xe do ngựa kéo. Bởi thế, nói đến đông người đi lại thì “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” trong ngày hội thanh minh mở đầu thiên truyện, và “dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh” nói cảnh vắng người qua lại trước nhà Đạm Tiên vào những ngày cuối đời của người ca kỹ bạc phận này.
Chắc do đường gần, nên chị em Thúy Kiều đi bộ để tham dự lễ tảo mộ, hội đạp thanh, còn những người khác ở xa, thường dùng ngựa, dùng xe. Nhân vật dùng ngựa đầu tiên trong Truyện Kiều là một người “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” họ Kim, tên Trọng. Chàng “lỏng buông tay khấu” cho ngựa đi từng bước nhỏ trong cảnh sắc mùa xuân, hút mắt bao người:
“Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời”
“ Ngựa câu là ngựa non mới lớn, ngựa tốt” như lời giải thích của học giả Đào Duy Anh. Mùa xuân, “cỏ non xanh tận chân trời”, với màu áo xanh non, chàng Kim xuất hiện trên lưng con ngựa câu lông trắng như tuyết, là hình ảnh đầu tiên cùa chàng mà nàng Kiều nhìn thấy. Điều này làm nàng tạm dứt nỗi buồn về con người bất hạnh Đạm Tiên, cỏ thôi “áy bóng tà” mà “bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha” dắt nàng vào cuộc tình thật lãng mạn nhưng đầy trắc trở. Sau kỳ thanh minh này, không chỉ nàng Kiều tơ tưởng chàng Kim, chàng Kim còn bỏ bê công việc sách vở vì nhớ nàng Kiều. Nàng tơ tưởng chàng thì chỉ ngồi suông mà nhớ hoặc dẫn vào cõi chiêm bao, còn chàng thì khác: nhớ thì tìm cách tiếp cận nàng. Trước là chàng thăm lại “nơi kỳ ngộ”, sau mới thuê một ngôi nhà cạnh nhà nàng. Nhưng chàng đi bằng gì nhỉ? “Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi” và “xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang” dễ làm chúng ta hình dung chàng đi bộ. Nhưng sau khi đã đính hôn với nàng Kiều, phải về quê hỗ tang chú, thì:
Buộc yên , quẩy gánh vội vàng
Mối sầu sẻ nửa, bước đường chia hai
Phải chăng chàng cưỡi ngựa, và chú tiểu đồng tội nghiệp phải gánh và đi bộ, hay “buộc yên, quẩy gánh” chỉ là một thành ngữ nói sự ra đi?
Bỏ lại lời thề bồi, hẹn ước, gặp cảnh “gia biến”, nàng Kiều phải bán mình chuộc cha, theo Mã Giám Sinh rời nhà từ Bắc Kinh suốt một tháng ròng về Lâm Tri. Nàng đã đi bằng gì? Xin thưa: bằng xe ngựa kéo. Điều này Nguyễn Du nói ngay từ lúc chia ly:
Đoạn trường thay lúc phân kỳ
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh
Và khi đến Lâm Tri: “Xe châu dừng bánh cửa ngoài…” thì vẫn là chiếc xe ngựa ấy mà thôi.
Đi xe ngựa thì dễ, chẳng phải tập tành gì, ngồi kèm với người khác trên lưng ngựa cũng không khó. Chúng ta ngạc nhiên là nàng Kiều được nuôi dạy trong chốn “thâm nghiêm kín cổng, cao tường” ấy mà lại biết một mình cưỡi ngựa, không những thế, còn đi đường rừng trong đêm lẻn trốn cùng Sở Khanh:
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu
Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn…
Đi trong “đêm thu khắc lậu, canh tàn” ấy, để đến khi “Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào” thì nàng mới biết mình bị lừa.
Thúc Sinh có hai lần cưỡi ngựa. Lần thứ nhất từ biệt Thúy Kiều ở Lâm Tri để về Vô Tích với Hoạn Thư:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Và lần thứ hai, từ giã Vô Tích, lên đường trở lại Lâm Tri:
Được lời như cởi tấc son
Vó câu thẳng ruổi nước non quê người.
Lưu ý với bạn đọc rằng, đây là sáng tạo về phần cốt truyện của Nguyễn Du, còn trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, Thúc Sinh đi bằng thuyền!
Có một lần Thúy Kiều được ngựa chở đi, nhưng nàng không hề hay biết, đó là sau khi bị bọn Khuyển, Ưng đánh thuốc mê:
Vực ngay lên ngựa tức thì
Phòng đào, viện sách bốn bề lửa giong
Rồi chúng đưa nàng xuống thuyền, rời Lâm Tri về Vô Tích để Hoạn Thư thực thi kế hoạch đánh ghen “có một không hai” của bà.
Nếu như hình ảnh chàng Kim xuất hiện với con ngựa màu trắng tuyết đã để lại ấn tượng ĐẸP của kẻ thư sinh trong nàng Kiều, thì con ngựa với Từ Hải sau ngày chiến thắng đã khắc dấu sự OAI HÙNG của vị tướng:
Kéo cờ lũy phát súng thành
Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài
để đón nàng Kiều sau thời gian xa cách…
Qua đây, ta thấy rằng, không chỉ nàng Kiều từng đi xe ngựa, biết cưỡi ngựa, mà năm người đàn ông liên quan đến cuộc đời nàng (Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh, Từ Hải), trong đó có ba người nàng từng yêu thương, đều đã sử dụng phương tiện giao thông bằng sức ngựa. Như vậy, con ngựa thật lắm công trong…Truyện Kiều!
Tết Con Ngựa, 201
KIM TRỌNG TRỞ LẠI VƯỜN THÚY
Nỗi nàng tai nạn đã đầy
Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương
Từ ngày muôn dặm phù tang
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà
Vội sang vườn Thúy dò la
Nhìn xem cảnh cũ nay đà khác xưa
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa
Chung quanh lặng ngắt như tờ
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai
Láng giềng có kẻ sang chơi
Lân la sẽ hỏi một hai sự tình
Hỏi ông ông mắc tụng đình
Hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha
Hỏi nhà nhà đã dời xa
Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân
Đều là sa sút khó khăn
May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi
Điều đâu sét đánh lưng trời
Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao
Hỏi thăm di trú nơi nao
Đánh đường chàng mới tìm vào tận nơi
Nhà tranh vách đất tả tơi
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa
Một sân đất cỏ dầm mưa
Càng ngao ngán nỗi càng ngơ ngẩn dường…
Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Du gồm có ba tập thơ chữ Hán đặc sắc là “Thanh Hiên thi tập”, “Nam Trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”, tổng cộng 250 bài cùng một số bài thơ Nôm khác như “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón”…nhưng tác phẩm để UNESCO tôn vinh, đưa Đại thi hào lên đài vinh quang đó chính là Truyện Kiều.
Như chúng ta đã biết, khi sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du dựa vào tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, một nhà văn Trung Quốc. Nguyễn Du khá tôn trọng cốt truyện của “Kim Vân Kiều Truyện”, tuy nhiên ông lược bỏ đi khá nhiều nhân vật, thay đổi, hoán vị một số tình tiết cho hợp lý hơn, thơ hơn. Nhìn chung phần lớn ý trong lời đối thoại của các nhân vật cũng như hầu hết quang cảnh trong Truyện Kiều đều do Nguyễn Du sáng tác ra. Theo thống kê, Truyện Kiều dài 3254 câu thì Nguyễn Du chỉ dựa vào ý của Thanh Tâm Tài Nhân để diễn đạt ra 1.313 câu, còn 1.941câu hoàn toàn ý của Nguyễn Du. 222 câu tả cảnh trong Truyện Kiều là do Nguyễn Du sáng tạo ra còn trong “Kim Vân Kiều truyện” không có một câu tả cảnh nào.Có đoạn trong “Kim Vân Kiều truyện” chỉ vài ba dòng, nhưng Nguyễn Du đã sáng tác ra gần năm mươi câu lục bát. Nói như vậy để khẳng định rằng, thật sai lầm nếu ai đó coi Nguyễn Du đã dịch “Kim Vân Kiều Truyện”, mà thực chất là ông đã dựa vào “Kim Vân Kiều Truyện” để sáng tác ra Truyện Kiều.
Đoạn thơ trên tả quang cảnh tiêu điều của vườn Thúy khi chàng Kim trở lại sau sáu tháng về Liêu Dượng hộ tang chú. Trong Truyện Kiều, Kim Trọng đến vườn Thúy, tức là vườn nhà Thúy Kiều, hai lần.Lần thứ nhất là tìm đến để thuê nhà cạnh đó, tạo điều kiện gặp gỡ, tỏ tình rồi đính hôn với Thúy Kiều. Vườn Thúy ngày đó “thâm nghiêm kín cổng cao trường”, phía trong bức tường ấy là vườn đào và có khi “Dưới đào dường có bóng người thướt tha”…Hai người đã thế bồi, hẹn ước, rồi chàng Kim phải về quê chịu tang chú, Vương Ông gặp cảnh gia biến, Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha… để giờ đây chàng kim trở lại vườn Thúy thì gặp cảnh này đây.
Trong “Kim Vân Kiều Truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, đoạn này như sau: “ Nay tạm gác chuyện Thúy Kiều nương náu tại Am Vân Thủy của Giác Duyên, mà hãy nhắc lại khi Kim Trọng cùng cha trở về Liêu Dương thu xếp công việc ma chay cho chú và tiền nong trong tiệm mới xong việc ra về. Khi tới nhà trọ chàng vội sang hiên Lãm Thúy hỏi thăm Thúy Kiều thì nàng đã đi trước đấy bốn tháng, mà cả gia đình cụ Vương Viên ngoại cũng dọn đi nơi khác rồi. Chàng bèn lần theo lối cũ, dòm ngó lúc lâu, tuyệt không một người qua lại. Hỏi thăm láng giềng, họ mới đem việc Vương Ông mắc nạn, Thúy Kiều bán mình…kể rất tường tận để chàng hay, thì chàng hoảng hốt tái người. Lập tức hỏi thăm tới chỗ Vương Ông di trú, nhìn thấý căn nhà lúp xúp, khác với quang cảnh ngày xưa…”
Đoạn văn xuôi này dịch từ nguyên bản chỉ chứa đựng thông tin đơn thuần: chàng Kim trở lại vườn Thúy mới hay rằng, do gặp cảnh gia biến, Thúy Kiều đã bán mình và gia đình Vương Ông đã chuyển đi nơi khác. Thế mà Nguyễn Du đã làm nên một đoạn thơ tả cảnh tả tình tuyệt mỹ. Có lần trên báo có đăng ý kiến của một giáo viên dạy văn chê đoạn thơ này không hay, với lý do đưa ra là trong một đoạn ngắn mà ba lần nói đến cỏ (lau lách, cỏ, gai gốc), là trùng lặp không nên có. Sự thật không đúng như thế, mà chỉ nói lên một điều: nhà giáo đó chưa nắm được thủ pháp tả cảnh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều! Hầu hết cảnh trong Truyện Kiều, Nguyễn Du không tả qua mắt nhìn khách quan của tác giả, mà tả qua tâm trạng, ý nghĩ của nhân vật chính trong đoạn thơ ấy theo nguyên tắc “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhân vật chính ở đoạn thơ này là chàng Kim, khi vừa với đến gần vườn Thúy, từ ngoài nhìn vào thì thấy quang cảnh tổng thể: “Đầy vườn cỏ mọc lau thưa”, có thể là chàng nhìn qua ngọn tường hay cổng mở hoặc một ô tường vỡ…Rồi chàng đi dần vào đến tận sân thì thấy:
Xập xè én liệng lầu không
Cỏ lan mặt đấy, rêu phong dấu giày.
Cần lưu ý rằng, Kim Trọng trở lại vườn Thúy khi không gặp được nàng Kiều thì muốn lần tìm những kỷ niệm nàng để lại. Chàng thấy cỏ trên sân là vì chàng lần tìm dấu giày của nàng, nhưng không thấy được vì cỏ và rêu đã phủ kín. Thất vọng, chàng nhìn về phía góc tường, để tìm lại cái lỗ nhỏ mà cách đây nửa năm hai người đã qua lại thăm nhau, nhưng: “Cuối tường gai gốc móc đầy”. Chữ “cuối tường” nhắc ta nhớ lại : “Cuối tường dường có nẻo thông mới rào”, mà hai người đã khơi thông lại để “đi về này nhưng lối này năm xưa”. Như vậy, lau lách, cỏ, rêu và gai góc làm “chức năng” lấp vùi kỷ niệm gây thất vọng cho chàng Kim trong hành trình lục tìm dấu vết nàng Kiều khi trở lại vườn Thúy. Thủ pháp tả cảnh theo tâm trạng vui buồn của nhân vật khá phổ biến trong Truyện Kiều, vì như đoạn tả cảnh tảo mộ đầu thiên truyện, khi Thúy Kiều vui cảnh “ Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”, khi nghe xong chuyện Đạm Tiên, nàng buồn thì “Một vùng cỏ áy bóng tà / gió hiu hiu thổi một và bông lau”. Nhưng sau khi gặp chàng Kim, tình yêu hé nở thì cảnh cuối buổi chiều tà vẫn duyên dáng, nên thơ : “Dưới cầu nước chảy trong veo/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thưới tha”…
Trong đoạn thơ này có một câu có thể gây nghi vấn cho bạn đọc: “Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời”. “Vách mưa rã rời” thì không có gì phải bàn, nhưng sao lại “ song trăng” khi chàng kim đến đây vào ban ngày? Xin thưa: không phải lúc này ánh trăng chiếu lên cửa sổ một cách quạnh quẽ, mà “song trăng” là cái cửa sổ để ngắm trăng (vọng nguyệt) trông quạnh quẽ, buồn lặng trong tâm trạng của chàng Kim.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du sử dụng khá nhiều ca dao tục ngữ và cổ thỉ. “ Trước sau nào thấy bóng người / Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là tác giả dựa vào ý hai câu thơ của Thôi Hộ ( đời Đường, Trung Quốc): “Nhân diện bất tri hà xứ khứ / Đào hoa y cựu tiếu đông phong”, nhưng đã chỉnh “mặt người” (nhân diện) thành “bóng người” và “hoa đào như cũ” (đào hoa y cữu) thành “hoa đào năm ngoái” cho hợp với hoàn cảnh của chàng Kim.
Đoạn văn xuôi trong “Kim Vân Kiều Truyện” không hề có ý tả vườn Thúy thì cảnh vườn Thúy lại là trung tâm trong đoạn Kiều của Nguyễn Du. Còn ngôi nhà gia đình Vương Ông mới chuyến đến, cũng được Nguyễn Du khắc họa đầy cảnh tiêu điều trong tâm trạng ngao ngán của chàng Kim:
Nhà tranh vách đất tả tơi
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa
Một sân vách cỏ dầm mưa
Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường.
Với Truyện Kiều “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”, bạn đọc chúng ta còn có thể gặp bao đoạn, bao câu tuyệt tác. Thượng tuần tháng 8 năm 2015, đã có cuộc hội thảo Quốc tế tại Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam, Hà Nôi với tên gọi “ Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, Di sản và giá trị xuyên thời đại”. Và trong năm 2015 cũng có nhiều nhiều cuộc hội thảo trong nước về đề tài này. Đặc biệt, Hội Kiều học Việt Nam hiệu đính và xuất bản Truyện Kiều, có cả văn bản chữ Nôm và Tuyển tập thơ về Nguyễn Du và Truyện Kiều với tên sách “ Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều”…cùng phát hành trong dịp này mong đáp ứng một phần sự ngưỡng mộ của bạn đọc đối với Đại thi hào, Danh nhân Văn hóa Thế giới Nguyễn Du.
GÓP Ý VỀ BIÊN SOẠN VÀ GIẢNG DẠY TRUYỆN KIỀU Ở NGỮ VĂN LỚP 9
Truyện Kiều là tuyệt tác văn chương có một không hai của dân tộc ta trong suốt mấy ngàn năm lịch sử. Bởi vậy, dạy Truyện Kiều là giảng giải cho học sinh biết được tác phẩm này hay như thế nào, dù trong chương trình các lớp học phổ thông, chúng ta chưa thể làm trọn vẹn, nhưng từng bước một để hướng tới mục tiêu đó. Nhiều thập kỷ qua, học sinh ít say mê với Truyện Kiều, tôi đã kiểm chứng điều này trong dịp hỏi thi những học sinh được coi là giỏi văn khi các em thi vào trường Viết văn Nguyễn Du. Tình trạng này chắc có nhiều lý do, nhưng tôi tin rằng nguyên nhân chính do cách dạy Truyện Kiều ở trường phổ thông.
“Cách dạy” ở đây bao gồm việc soạn sách giáo khoa và sự giảng dạy của giáo viên văn, mà trong bài viết này tôi để tâm vào sách ngữ văn là chính, còn việc giảng dạy, phân tích, tôi chỉ nêu một ví dụ để giáo viên tham khảo.
I – VIỆC SOẠN SÁCH NGỮ VĂN
Tôi chỉ bàn về bài viết của những người soạn sách Ngữ Văn lớp 9 trong phần hướng dẫn cho giáo viên giảng dạy và học sinh học Truyện Kiều. Và, với nội dung góp ý, tôi không bàn về những ưu điểm của phần biên soạn, mà chỉ lưu tâm tới những điều mà tôi cho là hạn chế.
a. Phần giới thiệu tiểu sử và cuộc đời Nguyễn Du.
Theo tôi, trong phần này, ngoài những ý sách ngữ văn đã nêu, cần đặc biệt lưu tâm tới những yếu tố góp phần tạo nên thiên tài văn chương của Đại thi hào. Đó là:
- Xuất thân trong dòng họ, gia đình giàu truyền thống thi ca: Ông cụ thân sinh là Nguyễn Nghiễm có hai tập thơ là “Quân trung liên vận” và “Xuân đình tạp ngâm”…Anh trai là Nguyễn Khản, một người tài hoa, làm nhiều thơ và từng dịch “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn. Nguyễn Nễ có hai tập thơ : “Quế Hiên giáp ất tập” và “Hoa trinh tiền hậu tập”. Hai người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú là Nguyễn Thiện có “Đông phố thi tập” và là người nhuận sắc “Hoa Tiên” của Nguyễn Huy Tự. Nguyễn Hành, em ruột Nguyễn Thiện là một trong năm nhà thơ xuất sắc nhất nước ta thời ấy (An Nam ngũ tuyệt).
- Bố quê Nghệ Tĩnh, mẹ quê Kinh Bắc, Nguyễn Du được giao hòa dòng máu của hai vùng văn hóa có làn điệu dân ca nổi tiếng nhất nước ta từng được UNESCO tôn vinh Di sản Văn hóa phi vật thể thế giới là Dân ca Ví Giặm sâu nặng tình người và Quan họ Bắc Ninh duyên dáng, trữ tình.
- Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc ta và văn chương Trung quốc (như trong Ngữ văn 9).
- Ông sinh ra, lớn lên, gần 20 năm đầu đời sống ở Kinh đô Thăng Long, trên 10 năm sống ở kinh đô Phú Xuân nên có điều kiện tiếp xúc với sĩ phu Bắc Hà cũng như những người nổi tiếng của cả nước. Ông còn sống nhiều vùng đất khác, từng đi sứ Trung Quốc, được gặp gỡ, giao lưu với nhiều loại người.
- Ông có trái tim nhân hậu, “tương liên bất tại đồng”, đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh, dù có hoàn cảnh khác mình…
Những điều kiện thuận lợi trên đây đã hỗ trợ cho tài năng bẩm sinh để Nguyễn Du trở thành Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.
b-Về phần các tác phẩm của Nguyễn Du
Các nhà soạn sách có nhầm lẫn: Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán với 250 bài ( “Thanh Hiên thi tập” 78 bài, “Nam Trung tạp ngâm” 40 bài và “Bắc hành tạp lục 132” bài) chứ không phải là 243 bài như sách Ngữ văn đã nêu.
c – Phần giới thiệu Truyện Kiều:
Theo tôi, cần nói cho học sinh biết sự “sáng tạo rất lớn”của Nguyễn Du từ Kim Vân Kiều Truyện đến Truyện Kiều:
- Truyện Kiều khá tôn trọng cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện, nhưng Nguyễn Du đã thay đổi một số tình tiết cho hợp lý hơn và thơ hơn.
- Nguyễn Du đã lược bỏ đi nhiều nhân vật phụ và lời đối thoại của các nhân vật, phần lớn là ý của Nguyễn Du. Truyện Kiều dài 3.254 câu thì Nguyễn Du chỉ dựa vào ý của Thanh Tâm Tài Nhân để sáng tác ra 1.313 câu, còn 1.941 là ý của Nguyễn Du. Tất cả 222 câu tả thiên nhiên trong Truyện Kiều đều của Nguyễn Du, còn trong Kim Vân Kiều Truyện không có câu tả cảnh nào. Có khi trong Kim Vân Kiều Truyện chỉ vài dòng đơn giản, nhưng Nguyễn Du đã sáng tác ra một đoạn thơ dài bốn, năm chục câu lục bát, với tình và cảnh do tác giả Truyện Kiều nghĩ ra…
Để thể hiện điều này cho học sinh thấy được sự sáng tạo to lớn của Nguyễn Du, trong một số trường hợp điển hình, nên ghi đoạn dịch Kim Vân Kiều Truyện bên cạnh đoạn Kiều được trích giảng.
Phần tóm tắt tác phẩm, không nói đến chuyện Thúy Kiều gặp Đạm Tiên, theo tôi là một thiếu sót. Nhân vật Đạm Tiên đã theo Thúy Kiều từ đầu đến cuối truyện và thể hiện tư tưởng định mệnh của Nguyễn Du. Không nên coi định mệnh là hạn chế về mặt tư tưởng của Nguyễn Du rồi không đụng chạm tới, làm thiếu mất một phần hết sức quan trọng trong Truyện Kiều.
Về giá trị nội dung và nghệ thuật:
Về giá trị nội dung, trong sách Ngữ văn 9 nếu rằng: “ Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo”. Tôi không đồng ý với nhận định này, ít ra là với sự sắp xếp thứ tự hai giá trị như vậy. Giá trị lớn nhất về mặt nội dung, bao trùm lên tất cả là giá trị nhân đạo, nhân văn. Nguyễn Du viết Truyện Kiều để thể hiện tình thương của mình chứ không với mục đích phản ánh hiện thực. Vì thương Thúy Kiều, bênh vực Thúy Kiều…nên lên án những thế lực làm hại đời nàng, trong đó có các thế lực của xã hội phong kiến đương thời. Nếu nói giá trị lớn nhất của Truyện Kiều là giá trị hiện thực, thì hiện thực xã hội nào, của Trung Quốc đời Minh hay Việt Nam đời Lê, Trịnh, Nguyễn? Chỉ có giá trị nhân văn là giá trị vĩnh cửu, thì Truyện Kiều mới là tác phẩm kiệt xuất mọi thời đại, chứ với phản ánh hiện thực, lên án chế độ phong kiến thối nát, nếu có hay, cũng là hay nhất thời hoặc một số thời nào đó. Theo tôi, đặt giá trị hiên thực lên cao nhất là hạ thấp giá trị của Truyện Kiều.
Về nghệ thuật: Trong sách ngữ văn nhận định: “ Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơ lục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ…”. Đây là những kết luận đúng nhưng chưa hề được chứng minh bất cứ một ý nào trong Ngữ văn 9, nên học sinh nghe nói thế thì biết thế, chứ không hề cảm nhận được cái hay của Truyện Kiều. Nếu có em nào làm bài kiểm tra ghi đúng nguyên văn như trên, thì đó là thuộc sách mà thôi chứ không phải cảm nhận được. Tôi nghĩ rằng, sách ngữ văn cần gây cảm hứng cho học sinh, nên soạn giảng văn cần có VĂN khi nhận định về nghệ thuật của Truyện Kiều, đại loại như: “ Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, âm điệu ngân vang mà tròn trịa, tài liệu chọn rất rộng, sự việc kể rất tường, lượm lặt những diễm khúc tình tứ của cổ nhân, lại góp đến cả phương ngôn ngạn ngữ nước nhà, mặn mà, vụn vặt không sót, quê mùa tao nhã đều thu. Nói tình thì vẽ được tình trạng hợp ly cam khổ, mà tình không rời cảnh, tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa, mà cảnh vướng tình, mực muốn múa mà bút muốn bay, chữ hay phô mà câu hay nói, khiến người cười, khiến người khóc, khiến người vui, khiến người buồn, khiến người giở đi giở lại ngàn lần, càng đọc thuộc lại càng không biết chán, thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng, một điệu tình phổ bực đầu vậy” (Đào Nguyên Phổ, Tựa Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu biên soạn khắc in năm 1902)
Theo tôi, cần lý giải nhận định trên kia, ít ra cũng một vài ý điển hình, như:
- Về tả cảnh, Nguyễn Du sử dụng thủ pháp “cảnh nói tình”, tả cảnh qua tâm trạng, cảm nhận của nhân vật, theo nguyên lý “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” hay “khi nên cảnh cũng chiều người”, chứ không tả cảnh qua con mắt khách quan của tác giả. Ví dụ như chơi hội thanh minh, khi Thúy Kiều vui thì cảnh đẹp “ Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”; khi nghe kể chuyện Đạm Tiên, Thúy Kiều buồn thì cảnh cũng buồn theo: “ Một vùng cỏ áy bóng tà/ Gió hiu hiu thổi một và bông lau”, nhưng khi gặp chàng Kim, tình yêu nhen nhúm, trên đường về dù đã cuối chiều nhưng cảnh lại trữ tình: “Dưới cầu nước chảy trong veo / Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”…
- Về nghệ thuật thơ lục bát, cần chỉ cho học sinh biết, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du chỉ sử dụng thể thơ lục bát gieo vần ở chữ thứ 6 và thứ 8 mỗi câu mà không sử dụng thể thơ gieo vần ở chữ thứ 4 của câu bát. Cần làm rõ quan niệm về vần và điệu trong lục bát Truyện Kiều: Lục bát chuẩn là chữ thứ 2, thứ 6, thứ 8 của mỗi câu phải thanh bằng, chữ thứ 4 của mỗi câu phải thanh trắc. Trong Truyện Kiều, tất cả 1.627 câu bát đầu chuẩn, còn câu lục thì có 26 câu lệch chuẩn, tức là chữ thứ hai thanh trắc hoặc chữ thứ 4 thanh bằng, chiếm chưa đầy 1,5 % số câu lục, nhưng khi đó, bao giờ Nguyễn Du cũng ngắt nhịp 3/3, chứ không ngắt nhịp 2/2/2 quen thuộc. Trong Truyện Kiều, hơn 50 % số câu được gieo vần tuyệt đối, có năm đoạn gieo vần tuyệt đối kéo dài trên mười câu, đoạn dài nhất 15 câu…Tuy khi làm thơ lục bát, gieo vần tuyệt đối chưa chắc đã hay hơn gieo vần tương đối, nhưng nếu không phải là một nhà thơ có tài, giàu ngôn ngữ thì thật khó gieo vần tuyệt đối một đoạn dài, mà câu thơ vẫn tự nhiên và rất thơ được.
Nếu các nhà soạn sách bảo rằng, do tiết học hạn chế nên chỉ nói văn tắt như thế, thì theo tôi, hoặc là thêm tiết, hoặc là bớt đi một đoạn trích giảng, chứ không thể nói Truyện Kiều hay mà học sinh không biết hay như thế nào!
Nhân đây, tôi muốn các nhà soạn sách xem lại một ý mà tôi cho là chưa chính xác. Đó là chú thích (6), cho câu “ Tin sương luống những rày trông mai chờ”, trong bài “Kiều ở lầu Ngưng Bích”. Chú thích đó như sau: “ Ý nói Kim Trọng không biết Kiều đã bán mình đi xa, tới nay vẫn còn chờ mong tin tức nàng, thật là uổng công”.
Chúng ta đều biết rằng, sau khi hai người đính hôn, bất ngờ Kim Trọng phải về Liêu Dương hộ tang chú, còn Thúy Kiều vẫn ở nguyên nhà mình và chờ đợi. Kim Trọng ra đi không biết khi nào trở lại, tình hình ra sao…nên người ngóng tin phải là Thúy Kiều chứ không phải Kim Trọng, vì với Kim Trọng, khi nào xong việc thì trở lại với Thúy Kiều, chứ không có tin gì mà ngóng cả. Bởi vậy, “Tin sương luống những rày trông mai chờ”, đó là Kiều nói về mình đã từng ngóng đợi tin tức chàng Kim từ khi chàng ra đi, mình đang là người của chàng, còn giờ đây, sau khi đã bị bán mình rời nhà theo người ta về Lâm Tri này, thì mọi tin tức về chàng chẳng còn ý nghĩa gì nữa! Phải chăng, đây cũng là một ví dụ để nói rằng hiểu được Truyện Kiều là khó, không chỉ đối với học sinh!
II - THỬ BÌNH ĐOẠN “ KIỀU Ở LẦU NGƯNG BÍCH”
Ngưng Bích là tên lầu, ngụ ý màu xanh ngưng lại tạo nên màu của lầu, ngôi lầu màu xanh, cái màu đặc trưng của các khu nhà chủ chứa ở Trung Quốc ngày xưa bắt các cô gái hành nghề mại dâm. Có lẽ lúc này Thúy Kiều chưa cảm nhận được cái màu xanh kinh sợ đó, nhưng chẳng bao lâu nữa nàng sẽ nhận ra khu nhà này biến đổi nàng “Xưa sao phong gấm rủ là / Giờ sao tan tác như hoa giữa đường / Mặt sao dày gió dạn sương / Thân sao bướm chán ong chướng bấy thân…”. Nhưng đó là trong tương lai gần, còn giờ đây, nàng chỉ coi lầu xanh là ngôi nhà giam cầm, khóa tuổi xuân mình, không đi đâu được. Nàng ngồi lặng một mình, phóng tầm mắt ra xa, gặp vầng trăng chân trời thu gần lại, dãy núi được đẩy ra xa để cả hai cùng nằm trên một bình diện như một bức tranh. Đây không phải là lần duy nhất nàng ngồi buồn ngắm cảnh ở lầu Ngưng Bích, mà dường như Tú Bà đã đưa nàng về ở đây trong nhiều ngày, làm nàng buồn chán, ngày cũng như đêm, “bẽ bàng mây sớm đèn khuya” trong cảnh buồn tủi, cô đơn. Cảnh gợi tình, nàng ngồi nhớ người thân, bắt đầu là người tình mà hoàn cảnh đã buộc nàng phụ lời hẹn ước. Trên bước đường lưu lạc, đây là lần thứ hai nàng nhớ chàng, lần thứ nhất khi ngồi trên xe ngựa theo Mã Giám Sinh trên đường từ Bắc Kinh về Lâm Tri, “Dặm khuya ngất tạnh mù khơi / Thấy trăng mà thẹn những lời non sông”, nhưng lần ấy nỗi nhớ chưa thật cụ thể như lần này:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
“Dưới nguyệt chén đồng” là nàng nhớ lại chén rượu đính hôn cùng uống với chàng Kim trong cái đêm “Vầng trăng vằng vặc giữa trời” và cùng thề bồi “ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Sau lần hẹn ước đó, chàng Kim phải về Liêu Dương hộ tang chú, nàng ở lại, “một ngày nặng gánh tương tư một ngày”, nàng nhớ chàng, mong đợi tin chàng ngày này qua ngày khác, “tin sương luống những rày trông mai chờ” là nàng nhắc lại tâm trạng của mình trong những ngày ấy. Ngày ấy hai người tuy xa nhau, nàng đợi tin chàng và hy vọng gặp lại, còn bây giờ, chàng vẫn ở chân trời, nàng trơ vơ một mình nơi góc biển, mọi hy vọng trùng phùng đã dẹp tắt, chỉ có tấm lòng son nàng nhớ chàng là vẫn vẹn nguyên. Câu thơ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phải” có nhiều người hiểu khác nhau. Nhà thơ Trinh Đường chê hai chữ “gột rửa”, với lập luận rằng hai từ này chỉ dùng để chỉ việc loại trừ những vết bẩn, sao lại sử dụng để gạt bỏ nỗi thương nhớ in đậm vào tấm lòng son? Giáo sư Trương Tửu trong một lần trò chuyện với tác giả bài viết này đã trình bày một cách hiểu hoàn toàn khác, theo ông, là Thúy Kiều nghĩ không biết bao giờ mới gột rửa hết vết bẩn mà Mã Giám Sinh đã gây ra cho tấm lòng son của mình…Tôi không quá cứng nhắc như nhà thơ Trinh Đường và cũng không suy luận như giáo sư Trương Tửu và hiểu câu này ý nói rằng tấm lòng son sắt thương nhớ của Thúy Kiều đối với chàng Kim vẫn đậm đà và không có cách gì làm phai nhạt được. Động từ “gột rửa” chẳng qua chỉ các biện pháp thực hiện một cách mạnh tay, vẫn không hiểu quả mà thôi.
Sau khi nhớ chàng Kim, Thúy Kiều nhớ cha mẹ. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du năm lần mô tả nỗi nhớ của Thúy Kiều, thì cả năm lầm đều có nhớ về cha mẹ, dù thời gian và hoàn cảnh đổi thay. Cả bốn câu tả nỗi nhớ cha mẹ của Thúy Kiều lần này đều dùng thủ pháp ước lệ và điển tích, như “tựa cửa”, “quạt nồng, ấp lạnh”, “Sân Lai”, “gốc tử” rất quen thuộc với văn học cổ điển để nói nỗi lo nghĩ của nàng về cha mẹ già yếu nơi quê nhà xa xôi không biết nhờ ai chăm nom, săn sóc, vẫn tháng ngày tựa cửa ngóng con…
Hết tả tình, sang tả cảnh từ xa đến gần. Bốn cặp lục bát tả cảnh đều mở đầu bằng “Buồn trông”, chỉ tâm trạng người ngắm cảnh. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là “tuyên ngôn” của tác giả Truyện Kiều, nên cảnh “cửa bể chiều hôm” hiện lên từ “thấp thoáng cánh buồm xa xa” đến “ngọn nước mới sa” phải đâu là cảnh đẹp? Hình tượng “hoa trôi man mác biết là về đâu” trong “ngọn nước mới sa” ấy dự báo thân phận trôi giạt của Thúy Kiều, chắc là khi nhìn những cánh hoa này, nàng cũng vận vào mình “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh” như khi biết được thân phận Đạm Tiên. Hết nhìn biển, nhìn lên bờ gặp “ngọn cỏ rầu rầu”, làm nên một màu gợi buồn mặt đất, chân mây. Nhưng trong cảnh hoàng hôn, một mình ngắm cảnh cửa biển, Thúy Kiều không chỉ thấy buồn, mà có nỗi hãi hùng:
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Trên mặt duềnh gió mạnh, có thể “cuốn” đi tất cả, và “quanh ghế ngồi”, tiếng sóng “ầm ầm” là nàng có cảm giác mình quá bé nhỏ, mềm yếu trước thực tại, như dự báo trước cuộc đời mình sẽ bị xô đẩy, chẳng có cách nào cưỡng nổi…
Chỉ qua đoạn trích này thôi, chúng ta cũng thấy được sự sáng tạo to lớn của Nguyễn Du khi sử dụng KVKT để sáng tác TK. Trong KVKT, đoạn này chỉ như sau: “ Ngôi lầu này, phía đông trông ra biển xanh, phía bắc nhìn lên kinh kỳ, phía nam ngó lại Chi Lăng, phía tây trông qua dãy núi Kỳ Sơn. Thúy Kiều đối cảnh buồn tênh, nhớ lại cái ngày cùng chàng Kim trao lời thề thốt, thân thiết biết chừng nào, mà nay vắng bặt tăm hơi, thê lương biết là dường nào, nhân cất bút viết ra mười bài “ Chẳng cùng nhau” để ghi lại tâm tình thương nhớ”. Như vậy, không những hơn chục câu lục bát tả cảnh trước lầu Ngưng Bích là hoàn toàn do Nguyễn Du nghĩ ra, mà ngay chuyện Thúy Kiều nhớ cha mẹ cũng là ý của tác giả Truyện Kiều. Chính nhờ Nguyễn Du mà Thúy Kiều trong TK đáng yêu hơn trong KVKT đâu chỉ ở lời đối đáp mà ngay trong cư xử và ý nghĩ của nàng.
Khi bình đoạn thơ này, nhà Xuân Diệu lưu ý rằng, nói là “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”, ai cũng biết là tác giả sẽ tả tình, tả cảnh… nhưng không ngờ được, tác giả tách bạch tám câu tả tình trước, rồi đến tám câu tả cảnh sau, không hề lẫn lộn, điều này chứng tỏ khi làm thơ, Nguyễn Du luôn luôn chủ động, để ý dắt theo lời, chứ không để lời lôi ý như một số nhà thơ khác.
Làm thơ tự do như đựng đồ đạc vào túi vải, chỗ nào có đồ đạc thì túi phồng lên, chỗ nào không có thì túi xẹp xuống. Làm thơ lục bát như đựng đồ đạc vào hộp các-tông, thể tích có sẵn, ai khéo tay thì lèn được nhiều đồ. Nguyễn Du là người “siêu tài” trong việc lèn ý vào các cặp lục bát. Hai câu đầu trong đoạn thơ trên là một trong những cặp lục bát điển hình lèn được nhiều ý:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Là nhà thơ bình thường thì thật khó nghĩ ra để lèn hai chữ “khóa xuân” vào câu trên, và không tài nào diễn đạt nổi từng ấy ý của câu dưới chỉ gói gọn trong tám chữ. Đó chỉ là một phần nhỏ trong nghệ thuật lục bát của Truyện Kiều.
Hà Nội, 9 – 2015
(còn tiếp)
Nguồn: Truyện Kiều – Nguyễn Du: Ở trong còn lắm điều hay. Khảo luận, Trao đổi của Vương Trọng. NXB Hội Nhà văn, 2018. Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|