THƯƠNG GIA VÀ CON BUÔN
Cùng kinh doanh bằng cách mua bán hàng hóa, cụ thể là mua rẻ bán đắt để ăn giá chênh lệch, nhưng người Việt mình nói chung cũng như cụ Nguyễn Du nói riêng đã phân biệt hai loại người làm nghề đó. Một loại làm ăn đàng hoàng, thường là có vốn lớn, được gọi là thương gia, còn loại kia gian dối trong mua bán, có khi lừa đảo, thường làm ăn manh mún, chụp giật…được gọi là con buôn. Thương gia và con buôn cái chính không phải khác nhau về quy mô kinh doanh, mà là đạo đức kinh doanh. Nhân dân ta dành những từ tốt đẹp cho giới thương gia, và coi khinh phẩm giá của con buôn.
Thương gia trong Truyện Kiều chỉ có hai nhân vật phụ, lướt qua rất nhanh, Nguyễn Du vẫn đủ thời gian thể hiện lòng trân trọng và có khi là nỗi cảm thông. Nhân vật thương gia thứ nhất không rõ tên gọi là gì, chỉ biết ngôi nhà của người ấy nằm sát ngôi nhà của Thúy Kiều, được Nguyễn Du giới thiệu:
Là nhà Ngô Việt thương gia
Buồng không để đó, người xa chưa về
Cặp lục bát này ngoài việc thể hiện cơ hội cho Kim Trọng có thể thuê ở, làm nơi đọc sách, thì hình như bộc bạch cảm thông của Nguyễn Du với người thương gia mải buôn bán xa xôi, chưa trở lại nhà mình. Câu thơ đượm vẻ buồn thương. Bằng cách nào đó thương lượng đã xong, Kim Trọng “túi đàn cặp sách đề huề dọn sang” ngôi nhà vừa thuê đươc! “Túi đàn cặp sách” là “tài sản văn hóa” của chàng Kim, thì cảnh nhà thương gia này cũng rất tương xứng:
Có cây, có đá sẵn sàng
Có hiên Lãm Thúy nét vàng chưa phai
Tức là vị thương gia này đã tạo phong cảnh cho nhà mình bằng cây cảnh và hòn non bộ, lại có cả cái hiên ngồi để thưởng ngoạn cảnh đẹp, có biển đề “Lãm Thúy” màu vàng rõ nét. Chàng Kim tỏ ra thật hài lòng với nơi ở này đâu chỉ vì hai chữ Lãm Thúy nét vàng kia một phần trùng với tên Thúy Kiều là người đẹp chàng đang đeo đuổi, mà quan trọng là quang cảnh được tạo dựng ở đây.Miêu tả cảnh nhà vị “Ngô Việt thương gia” này khác xa cơ ngơi những kẻ nhiều tiền nhưng thiếu văn hóa, là một cách Nguyễn Du thể hiện cảm tình và lòng trân trọng của mình.
Vị thương gia thứ hai trong Truyện Kiều đề cập tới là Thúc Ông, bố của Thúc Sinh. Ta biết được nghề nghiệp, gia cảnh của ông này qua lời giới thiệu về Thúc Sinh:
Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm, họ Thúc cũng nòi thư hương
Vốn người huyện Tích, châu Thường
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Truy.
Như thế, Thúc Ông, bố của Thúc Sinh là người làm nghề buôn bán, quê ở châu Thường, huyện Vô Tích, hiện mở ngôi hàng ở Lâm Tri. Bản thân Thúc Ông hoặc thế hệ trước ông được học hành tử tế, thì Thúc Sinh mới mang danh “nòi thư hương” được. Chắc chắn gia đình Thúc Ông giàu có, được mọi người nể trọng…thì Thúc Sinh mới được kết duyên cùng Hoạn Thư, con gái Thượng thư bộ Lại. Thời phong kiến, nhất là phong kiến Trung Quốc, “môn đăng hộ đối” được tuân thủ nghiêm ngặt, qua gia thế của Thượng thư bộ Lại “ngứơc trông tòa rộng, dãy dài/ Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên”, ta hiểu được gia cảnh của Thúc ông: giàu có, sang trọng.
Thúc ông xuất hiện trong Truyện Kiều không nhiều, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Du, ta thấy ông có vẻ đàng hoàng của một vị quan hơn là người buôn bán:
Giậu thu vừa nẩy giò sương
Gối yên đã thấy xuân đường tới nơi
Đây là hình ảnh Thúc Ông sau thời gian về thăm quê trở lại Lâm Tri. Cảnh thì đẹp mà người thì ung dung, khoan thai. Đặc biệt là thái độ của Thúc Ông khi nghe Thúc Sinh cưới Thúy Kiều. Đó cũng là phản ứng của các nhà nho Truyền thống, không thể cho con trai lấy gái lầu xanh làm vợ, nên “phong lôi nổi trận tơi bời” với ý định “dạy cho má phấn trở về lầu xanh” là chuyện đúng đạo lý. Nhưng Thúc sinh cương quyết không chịu bỏ Thúy Kiều, Thúc Ông cư xử cũng hết sức đàng hoàng, không hề mắng chửi, mà “cáo quỳ cửa công” tức là đem kiện con trai ra tòa. Đây cũng là hành động của một người có văn hóa, hiểu pháp lý, không đem cái thế của bậc cha mẹ áp đặt cho con. Nhờ tài thơ đã cứu Thúy Kiều, vị quan “mặt sắt đen sì” đã bị khuất phục, đem tình thay lý khi tuyên bố “ Dâu con trong đạo gia đình/ Thôi thì dẹp nỗi bất bình là xong” thì “Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba” mà tuân thủ kết quả xử kiện không có lợi cho mình. Kết quả này một phần do tài năng của Thúy Kiều, nhưng một phần quan trọng là thái độ cầu thị của Thúc Ông, biết đổi thay thái độ theo tình thế mới.
Lòng tốt của Thúc Ông còn thể hiện trong một năm ông sống gần Thúy Kiều ở Lâm Tri khi Thúc Sinh về với Hoạn Thư ở Vô Tích. Rồi khi bọn Khuyển Ưng đốt nhà, bắt Thúy Kiều, lập hiện trường giả, tưởng Thúy Kiều bị chết cháy, Thúc Ông vô cùng thương xót, đã thu gom di hài về nhà cúng tế. Tóm lại, dưới ngòi bút của Nguyễn Du, Thúc Ông là một thương gia đáng kính.
Người buôn bán đàng hoàng, được gọi là thương gia chỉ có hai nhân vật rất phụ ấy. Hầu hết kẻ làm nghề buôn bán trong Truyện Kiều là bọn làm ăn bất chính, phi pháp, gian dối, lừa đảo, vô văn hóa được xếp vào loại con buôn. Nguyễn Du đã định nghĩa về con buôn như sau:
Khác màu kẻ quý người thanh
Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn
Như vậy, con buôn là loại người có phẩm chất thấp kém, khác hẳn những người có văn hóa.
Ta hãy lần lượt điểm mặt, chỉ tên bon chúng.
Đầu tiên là Mã Giám Sinh. Tay này bất hảo từ lý lịch. Y là một kẻ phong tình , trác táng. Địa bàn quen thuộc là chốn lầu xanh. Khi có tiền thì chơi cho nhẵn túi, rồi lại hành nghề ngay mảnh đất đó, giống như thời nay một số tay anh chị thường tuyên bố “ngã xuống nơi nào thì đứng lên từ nơi đó”! Nghề của y là buôn người, “đem về tiếp khách kiếm lời mà ăn” như Tú Bà đã đúc kết. Y có đầy đủ thuộc tính bất hảo của con buôn, từ vô văn hóa trong ứng xử, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” khi y đến để mua Kiều. Mặc cả là chuyện thường thình của việc mua bán, nhưng “cò kè bớt một thêm hai” thì chỉ việc làm của con buôn. Một trong những đặc trưng của bọn buôn là gian dối. Gian dối trong hành động và lới nói. Trước hết y che giấu chuyện đi mua Thúy Kiều bằng việc đóng vai một phú ông “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” đi tìm vợ thiếp. Sự thật mua Kiều về để tiếp khách ở Lâm Tri, nhưng y nói đưa về quê y ở Lâm Thanh, với mục đích gây khó khăn nếu sau này gia đình tìm kiếm nàng.Gian dối trong lời nói, gian dối trong tính toán. Ta hãy xét xem cách suy nghĩ, tính toán của y trong nhà trọ với Thúy Kiều, trước khi khởi hành về Lâm Tri. Máu con buôn trước hết xem lời lãi ra sao của món hàng mình vừa mua được:
Về đây nước trước bẻ hoa
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau
Hẳn ba trăm lạng kém đâu
Cũng đà vừa vốn còn sau thì lời.
Sao lại ba trăm lạng đã vừa vốn, khi giá mua Thúy Kiều là “giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm”? Chắc Mã Giám Sinh không nhầm mà tác giả Truyện Kiều đã nhầm lẫn giữa giá bán nàng Kiều với cái giá mà gia đình Vương ông phải nạp cho bọn sai nha “ Tính bài lót đó, luồn đây/ Có ba trăm lạng việc này mới xuôi”. Cảm hứng đầu tiên đến với Mã là tiền lãi do món hàng hời là Thúy Kiều đem về. Cảm hứng thứ hai trỗi dậy xuất phát từ hắn là “một đứa phong tình”, muốn chiếm đoạt nàng Kiều. Nàng Kiều trước khi bán mình thì cân nhắc “ bên tình bên hiếu”, còn gã Mã trước khi hành động thì phân vân giữa “vốn nhà” và “của trời”: “Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng ham”!. Nếu gã hành động, chiếm được “của trời” này thì ảnh hưởng đến “vốn nhà”, tức món hàng bị mất giá. Nhưng sau đó mọi lập luận của gã đều khuyến khích gã hành động. Thứ nhất, cái đáng lo nhất là nàng Kiều mất trinh, thì giải quyết được để lừa khách làng chơi theo thủ pháp “nước vỏ lựu, máu mào gà” để hoàn trinh, lúc đó giá giá món hàng vẫn như cũ “Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi”. Thứ hai, Mã Giám Sinh biết biện pháp đó có thể không lừa được Tú Bà, khi đó nếu mụ trị tội thì cùng lắm chịu hèn “Liều công mất một buổi quỳ mà thôi”! Lập luận thứ ba của Mã mới thật lưu manh và đê tiện:
“Vả đây đường sá xa xôi
Mà ta bất động nữa người sinh nghi”.
Có người giải thích như sau: Chữ người trong câu này chỉ Thúy Kiều, Mã nghĩ nếu mình không làm tình thì Thúy Kiều sẽ nghi (chắc là nghi không phải mua về làm vợ thiếp). Tôi không nghĩ như thế, vì cái nghi đó nếu có của Thúy Kiều thì lúc này, khi đã bắt đầu lên đường về Lâm Tri thì Mã không có gì đáng ngại nữa. Theo tôi, chữ “người” trong câu này chỉ Tú Bà. Ý của Mã là: Vì đường sá xa xôi, một tháng ròng chung xe với Thúy Kiều, điều kiện hết sức thuận lợi để chung chạ, nếu như mình không làm gì thì Tú Bà vẫn nghi mình làm, thế thì chẳng dại gì mà mình không làm! Lập luận tiểu nhân, con buốn đã đưa Mã đến hành động, một kiểu làm tình đầy thú tính: “ Một cơn mưa gió nặng nề/ Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương”!
Con buôn thứ hai là mụ Tú Bà, chung lưng mở ngôi nhà chứa cùng Mã Giám Sinh ở Lâm Tri. Mụ này cũng mang lý lịch bất hảo : “ Làng chơi đã trở về già hết duyên”, nghĩa là thời trẻ thì mụ làm gái lầu xanh, về già thì làm chủ chứa. Nguyễn Du khắc họa mụ con buôn này từ hình thức đến đến hành động thật đáng ghét:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao
Trước xe lơi lả han chào…
Da cớm nắng, béo phệ, to lớn khác thường thế không biết mụ “ăn gì”.? Và chính hai chữ “ăn gì” ấy đã nói được thái độ của tác giả Truyện Kiều đối với mụ chủ chứa này. Mụ thao tác các công việc điều hành lầu xanh này khá thành thạo, từ bài học nhập môn cho “món hàng” mới đưa về, đến việc xử lý bị ế khách. Gian dối là thuộc tính của con buôn, Tú Bà không thiếu. Khi Tú Bà sắp hành hung vì tội đã chung chạ với Mã Giám Sinh, Thúy Kiều toan tự tử bằng cách dùng dao cắt cổ, thì điều sợ nhất của Tú Bà là mất vốn. Với thái độ dỗ dành, mụ đã thuyết phục được Thúy Kiều từ lời nói dối:
Lỡ chân trót đã vào đây
Khóa buồng xuân để đợi ngày đào non
Người còn thì của hãy còn
Tìm nơi xứng đáng làm con cái nhà…
Mụ sẵn sàng thề thốt gian dối, dù trong thâm tâm mụ không mảy may nghĩ tới nội dung của lời thề đó:
Mai sau dẫu chẳng như lời
Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.
Mụ chủ chứa nói với cô gái được mua về để tiếp khách rằng cứ ở đây chờ đợi xem có chỗ nào xứng đáng thì sẽ chọn gả chồng! Lời nói dối trơ trẽn này chắc đã lừa được nhiều cô gái nhà lành rồi, nay mụ lại thành công với Thúy Kiều. Một đặc tính con buôn của mụ Tú Bà là lắm âm mưu và nhiều tráo trở. Hình như tình huống nào mụ cũng có phương án dự phòng để giải quyết và thái độ của mụ nhanh chóng biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác trái ngược ngay trong nháy mắt. Bản thân Thúy Kiều cũng nhận ra đặc tính con buôn của Tú Bà là luôn lo sợ mất vốn, chứ không phải có lòng nhân ái biết yêu thương người khác. Bởi vậy, sau khi bỏ trốn theo Sở Khanh bị Tú Bà bắt được đánh cho một trận tơi bời, Thúy Kiều chỉ cần nói một câu là Tú Bà không dám đánh nữa. Câu đó là:
Nhưng tôi có sá chi tôi
Phận tôi đành vậy, vốn người để đâu?
Nói nôm na ra rằng tôi chả là gì đâu, tôi chả mong chờ gì tình thương của bà đâu, nhưng bà cẩn thận đấy, nếu đánh tôi chết là bà mất vốn! Chữ “vốn” đã thức tỉnh mụ dừng tay hành hạ, dẹp cơn thịnh nộ mà nhớ lại ý định chỉ “cho một bài học” để Kiều biết phận sự của cô gái lầu xanh mà thôi!
Con buôn thứ ba được Truyện Kiều đề cập là Bạc Bà, Bạc Hạnh. Đây là loại con buôn không có cửa hàng, mà chỉ là một loại “cộng tác viên” cung cấp gái điếm cho nhà chứa. Bề ngoài Bạc Hạnh là một Phật tử, từng đến Chiêu Ẩn Am của Giác Duyên và Quan Âm Các của gia đình Hoạn Thư nhiều lần. Thế nhưng việc làm của Bạc Hà hoàn toàn ngược lại điều răn dạy của Phật, không hề có ý giúp người trong cảnh hoạn nạn, mà lợi dụng tình thế khó khăn của Thúy Kiều để kiếm tiền. Mụ làm bài bản từng bước, từ vu oan cho Kiều nhiều tội, để bảo rằng không ai còn dám chứa chấp, chỉ có cách tìm người để gả chồng cho nàng. Dù Thúy Kiều đã cảnh giác, nhưng do hoàn cảnh đưa đẩy, theo sự sắp đặt, nàng phải lấy Bạc Hạnh, cháu Bạc Hà, và được mụ giới thiệu như sau:
Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà
Cùng trong thân thích ruột rà chẳng ai
Cửa nhà buôn bán Châu Thai
Thật thà có một đơn sai chẳng hề.
Người đàn bà đội lốt Phật tử Bạc Bà, đích thị con buôn, đã nói dối hết sức trơ tráo, làm cho người nghe tưởng Bạc Hạnh cháu mụ là “người chồng lý tưởng”, nhưng thực chất nó là thằng dắt gái chuyện nghiệp cho nhà chứa Châu Thai! Thằng này vô liêm sỉ không kém khi trong lễ thành hôn giả vờ với Thúy Kiều, nó ra vẻ chân thành “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”, thực ra là chuẩn bị đưa Kiều đi bán. Không phải chỉ đối với Thúy Kiều, mà trước đây chính hắn đã dẫn bán nhiều cô gái cho nhà chứa:
Thuyền vừa đỗ bến thành thơi
Bạc Sinh lên trước tìm nơi mọi ngày
Ba chữ “nơi mọi ngày” nói đầy đủ rằng công việc này, địa bàn này quá quen thuộc đối với hắn, nên chỉ cần thỏa thuận giá cả là xong:
Xem người định giá vừa rồi
Mối hàng một đã ra mười thì buông.
Phải chăng trong phi vụ “một vốn mười lời” này, tiền vốn mua Kiều, Bạc Hạnh bỏ ra thì đưa cho Bạc Hà, vì Giác Duyên không hề dính dáng? Một điều chắc chắn rằng, chỉ vì những đồng tiền bẩn thỉu mà bọn con buôn Bạc Bà, Bạc Hạnh đã đưa nàng Kiều trở lại vũng lầy lầu xanh!
Con buôn thứ năm trong Truyện Kiều là mụ chủ chứa ở lầu xanh Châu Thai. Nguyễn Du không cần nhắc tên mụ, mà chỉ gợi bằng bốn câu:
Kiệu hoa đặt trước thềm hoa
Bên trong thấy một mụ ra vội vàng
Đưa nàng vào lạy gia đường
Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh…
Bạn đọc sẽ tự hình dung ra hình dáng cũng như đức tính con buôn của mụ chủ chứa này từ Tú Bà ở Lâm Tri. Và có điều đáng nói, có lẽ mụ ta đã “trúng quả đậm”, khi được Từ Hải mua lại nàng Kiều:
Ngỏ lời nói với băng nhân
Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn
Lợi nhuận mụ chủ chứa này thu được chắc hơn hẳn món Tú Bà đã hưởng lợi, vì “tiền trăm nguyên ngân” của Từ Hải chắc vượt xa số tiền chàng Thúc mê gái “quen thói bốc rời”!
Những con buôn ta vừa điểm tới là những kẻ buôn người. Trong Truyện Kiều có một con buôn (trong Kim Vân Kiều Truyện thì hai) không buôn người mà buôn…tơ. Con buôn này được Nguyễn Du gọi là “thằng bán tơ”. Ở thằng này, Truyện Kiều khai thác tính cách gian dối của con buôn là có thể bịa đặt đổ tội cho người khác, để hòng làm nhẹ tội cho mình. Và tác hại của điều đó thì tất cả chúng ta đã tỏ: gây nên cảnh gia biến của Vương Ông, khiến Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha!
Buôn bán là một khâu hết sức quan trọng trong dịch vụ phân phối sản phẩm, có có tác dụng thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống cộng đồng. Dân ta từ xưa đên nay luôn coi trọng việc kinh doanh này, thể hiện trong câu thành ngữ “Phi thương bất phú”. Theo tôi, câu này có hai ý. Thứ nhất người không kinh doanh, buôn bán thì khó giàu. Thứ hai, một đất nước, một nền kinh tế mà kinh doanh, buon bán không phát triển thì khó mà giàu có được. Buôn bán quan trọng là vậy, nhưng nhân dân, đất nước cần những người buôn bán đàng hoàng, và không chấp nhận bọn lừa đảo, buôn gian bán lậu, thiếu hẳn văn hóa kinh doanh. Đọc lại Truyện Kiều thấy rằng cụ Nguyễn Du còn muốn nhắn lời với những người làm nghề này không chỉ trong thời đại của Cụ: Muốn được xã hội nể trọng thì buôn bán phải đàng hoàng xứng với hai chữ THƯƠNG GIA, còn nếu vì đồng tiền bẩn thỉu che mất tầm nhìn, lừa đảo, buôn gian bán lận…thì muôn đời mang theo lời chê trách, phỉ nhổ cùng hai chữ CON BUÔN!
8-2017
TIỂU ĐỐI TRONG TRUYỆN KIỀU
Đối xứng, cân đối là hiện tượng khá phổ biến trong tiếng Việt có tự ngàn xưa. Phần lớn những câu thành ngữ, tục ngữ để đúc kết kinh nghiệm sống thường rất ngắn gọn và đối xứng nhau gồm các cặp đôi, cặp ba, cặp bốn…Đó là Ăn vóc/ học hay; Ăn xem nồi, ngồi xem hướng; Đi một ngày đàng / Học một sàng khôn…Trong các thể loại văn học, nghệ thuật thì Câu đối thể hiện cao nhất sự cân xứng này, đó là một cặp hai câu không chỉ có số chữ bằng nhau, mà các chữ đối nhau phải cùng từ loại, thường là ngược thanh. Trong thể thơ Đường luật, hai cặp câu Thực và Luận cũng đối nhau như hai vế của của một cặp câu đối. Tính biền ngẫu trong các thể loại phú, văn tế, hịch…cũng thể hiện sự đối xứng của ngôn ngữ, dù mức độ không khắt khe như câu đối. Nghĩa là tâm lý người Việt, trong đời sống hàng ngày cũng như trong văn học, sự cân xứng của ngôn ngữ là một yêu cầu không nhỏ.
Đối với các nhà thơ sáng tác bằng chữ Hán, sự đối xứng này tất yếu phải thực thi trong các thể loại văn học kể trên. Khi chuyển sang sáng tác thơ Nôm, nhu cầu sự cân đối về ngôn ngữ vẫn thường trực trong lòng họ và tiếp tục thực thi khi sáng tác Câu đối,thơ Đường luật, Văn tế, Phú…Khi sáng tác thơ lục bát, họ cũng muốn có sự cân xứng đó, nhưng gặp một trở ngại lớn là số chữ trong các câu thơ lục bát không bằng nhau, điều tối thiểu để làm nên sự cân xứng không có được. Nghĩa là không thể thiết lập sự cân xứng giữa câu với câu, thế thì họ tìm sự cân xứng trong nội bộ từng câu và được gọi là Tiểu đối.
Trong các tác phẩm thơ lục bát từ xưa đến nay, tin chắc rằng Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du là tác phẩm sử dung tiểu đối nhiều nhất, đó là một trong những lý do làm cho ngôn ngữ Truyện Kiều gẫn gũi với mọi người.Trong thơ lục bát chỉ có ba loại tiểu đối: Tiểu đối nhóm hai, Tiểu đối nhóm ba và Tiêu đối nhóm bốn.
THỐNG KÊ TIỂU ĐỐI NHÓM ĐÔI
- Chữ tài / chữ mệnh
- Bỉ sắc/ tư phong
- Hoa cười / ngọc thốt
- Nghiêng nước / nghiêng thành
- Trướng rủ/ màn che
- Tài tử/ giai nhân
- Trâm gãy / bình rơi
- Nếp tử/ xe châu
- Thỏ lặn/ ác tà
- Tiếc lục/ tham hồng
- Kẻ đoái / người hoài
- Cỏ áy/ bóng tà
- Đổ lộc/ rung cây
- Nửa ở/ nửa về
- Cơn tỉnh / cơn mê
- Hoa trôi / bèo dạt
- Nhớ cảnh / nhớ người
- Nhớ ít / tưởng nhiều
- Kín cổng/ cao tường
- Cửa đóng / then cài
- Túi đàn/ cặp sách
- Động khóa / nguồn phong
- Buông cầm/ xốc áo
- Người ấy / báu này
- Thầm trông/ trộm nhớ
- Lá thắm/ chỉ hồng
- Xót liễu / vì hoa
- Rày gió/ mai mưa
- Lá rụng/ hoa rơi
- Tuyết trở/ sương che
- Ngày gió/ đêm trăng
- Thưa hồng/ rậm lục
- Đắp nhớ / đổi sầu
- Gió bắt / mưa cầm
- Gió táp/ mưa sa
- Nhả ngọc / phun châu
- Đỉnh giáp / non thần
- Hồng diệp/ xích thằng
- Nguyệt nọ/ hoa kia
- Dây vũ/ dây văn
- Ngậm đắng/ nuốt cay
- Trên bộc/ trong dâu
- Chắp cánh / liền cành
- Liễu ép / hoa nài
- Gìn vàng / giữ ngọc
- Tháng đợi / năm chờ
- Ăn gió/ nằm mưa
- Một bước / một xa
- Buộc yên/ quẩy gánh
- Cữ gió/ tuần mưa
- Khói ngất / song thưa
- Hoảng hốt / ngẩn ngơ
- Thệ hải/ sơn minh
- Hiếu trọng/ tình thâm
- Lót đó/ luồn đây
- Vạ gió/ tai bay
- Tử biệt / sinh ly
- Trước thầy / sau tớ
- Rợn gió/ e sương
- Vén tóc / bắt tay
- Cân sắc/ cân tài
- Một vẻ/ một ưa
- Bớt một / thêm hai
- Máu sa/ ruột dàu
- Kẻ giữ/ người coi
- Giọt ngắn/ giọt dài
- Đổi trắng / thay đen
- Thịt nát / xương mòn
- Nên vợ/ nên chồng
- Cách mặt / khuất lời
- Trâm gãy/ gương tan
- Hồn dứt / máu say
- Kẻ thang/ người thuốc
- Rụng cải/ rời kim
- Bèo nổi / mây chìm
- Kẻ ở/ người đi
- Thẹn lục / e hồng
- Nắng giữ/ mưa gìn
- Quốc sắc / thiên hương
- Giận duyên / tủi phận
- Nước đục/ bụi trong
- Kẻ quý/ người thanh
- Góc bể/ bên trời
- Gió giục / mây vần
- Gạt lệ/ phân tay
- Ngất tạnh / mù khơi
- Từng biếc/ xen hồng
- Lạ nước / lạ non
- Cởi xiêm/ lột áo
- Thay bậc / đổi ngôi
- Nát ngọc / lìa hoa
- Lỡ một / lầm hai
- Mây sớm/ đèn khuya
- Quạt nồng/ đắp lạnh
- Chân mây / mặt đất
- Sắc nước / hương trời
- Trên nguyệt / trong mây
- Tháo cũi/ sổ lồng
- Kết cỏ/ ngậm vành
- Gió kép/ mưa đơn
- Nhắm mắt / đưa châm
- Khắc lậu/ canh tàn
- Giày tía/ vò hồng
- Chẳng hỏi / chẳng tra
- Vùi liễu / dập hoa
- Hồng rụng/ thắm rời
- Lìa cửa/ lìa nhà
- Một cốt/ một đồng
- Trò này / chuyện kia
- Quyến gió / rủ mây
- Quyến anh/ rủ yến
- Trong giá/ trắng ngần
- Nguyệt sáng / gương trong
- Liễu chán / hoa chê
- Cửa các / buồng khuê
- Mặt dạn/ mày dày
- Gió lá/ cành chim
- Phong gấm/ rủ là
- Dày gió / dạn sương
- Bướm chán/ ong chường
- Mưa sở/ mây tần
- Gió tựa/ hoa kề
- Nét vẽ/ câu thơ
- Gió trúc / mưa mai
- Sớm đào / tối mận
- Một tỉnh / mười mê
- Đổ quán/ xiêu đình
- Tô lục / chuốc hồng
- Trong ngọc / trắng ngà
- Liễu ngõ/ hoa tường
- Chỉ non/ thề biển
- Đêm ngắn/ tình dài
- Của dẫn/ tay trao
- Hoa thải/ hương thừa
- Trăng tủi/ hoa sầu
- Tài này / sắc ấy
- Rước dữ/ cưu hờn
- Rượu sớm/ cờ trưa
- Dài thở/ ngắn than
- Giấu ngược / giấu xuôi
- Chiếc bóng/ năm canh
- Muôn dặm/ một mình
- Kết tóc/ se tơ
- Cách mặt / khuất lời
- Xuống lệnh / ra uy
- Cười phấn/ cợt son
- Ngứa ghẻ/ hờn ghen
- Dọn thuyền/ lựa mặt
- Buồm gió/ lèo mây
- Phách lạc/ hồn bay
- Chốn cũ/ lầu thơ
- Nước trôi/ hoa rụng
- Buồm cao/ lèo thẳng
- Tòa rộng/ dãy dài
- Ngọn hỏi / ngành tra
- Mèo mả/ gà đồng
- Tóc rối / da chì
- Tai vách/ mạch rừng
- Con ong/ cái kiến
- Túc trái / tiền oan
- Khăn mặt / lược đầu
- Nỉ non/ thánh thót
- Tháng lụn/ ngày qua
- Phấn thừa/ hương cũ
- Nắng quáng/ đèn lòa
- Con ở/ chúa nhà
- Đất thấp / trời cao
- Phách lạc/ hồn xiêu
- Chén tạc/ chén thù
- Bắt khoang/ bắt nhặt
- Như dại/ như ngây
- Chợt nói / chợt cười
- Nát ruột/ tan hồn
- Tán hoán/ tê mê
- Như khóc/ như than
- Thảm thiết / bồi hồi
- Gượng nói / gượng cười
- Rẽ thúy/ chia uyên
- Một vực/ một trời
- Bể sâu/ sóng cả
- Tam quy/ ngũ giới
- Thảm lấp/ sầu vùi
- Then nhặt/ lướt mau
- Gác kinh/ viện sách
- Ngậm thở/ ngùi than
- Trên các/ dưới xuềnh
- Đá nát / vàng phai
- Chiếc bách/ sóng đào
- Cao chạy / xa bay
- Kẻ ngược / người xuôi
- Sông cạn/ đá mòn
- Nhịn ngừng/ nuốt tủi
- Kẽ tóc/ chân tơ
- Chau mày/ nghiến răng
- Miệng hùm / nọc rắn
- Dặm cát/ đồi cây
- Chuông vàng/ khánh bạc
- Lá bối/ phướng mây
- Gió quang/ mây tạnh
- Tính gần/ tính xa
- Mặn phấn/ tươi son
- Dữ gần/ lành xa
- Bể rộng/ sông dài
- Mặt ủ/ mày chau
- Túng đất / sẩy chân
- Bán hùm/ buôn quỷ
- Vượt bể/ ra khơi
- Quét sân / đặt trác
- Rửa bình / thắp nhang
- Gió mát / trăng thanh
- Hàm én/ mày ngài
- Đội trời / đạp đất
- Chọn đá/ thử vàng
- Vào trước / ra sau
- Cỏ nội / hoa hèn
- Thanh gươm/ yên ngựa
- Bốn bể / không nhà
- Huyên cỗi/ xuân già
- Đường kia/ nỗi nọ
- Dùng dắng/ ngẩn ngơ
- Cung nga/ thể nữ
- Phượng liên/ loan nghi
- Dựng cờ/ nổi trống
- Thưởng tướng/ khao binh
- Nghiêm quân/ chọn tướng
- Gươm lớn/ giáo dài
- Kẻ cắp/ bà già
- Dắt tay/ mở mặt
- Lỡ bước / sẩy vời
- Hồn lạc/ phách siêu
- Máu rơi / thịt nát
- Thiên tải / nhất thì
- Bèo hợp/ mây tan
- Hạc nội / mây ngàn
- Khắc xương/ chép dạ
- Kẻ Việt/ người Tần
- Muôn dặm/ một nhà
- Muôn binh/ nghìn tướng
- Trúc chẻ/ ngói tan
- Gió quét/ mưa sa
- Giá áo / túi cơm
- Đẩy xe/ vâng chỉ
- Ngọc vàng/ gấm vóc
- Bể Sở/ sông Ngô
- Vào luồn/ ra cúi
- Chọc trời / khuấy nước
- Lễ nhiều / nói ngọt
- Mặt nước / cánh bèo
- Bàn ra/ nói vào
- Chức trọng / quyền cao
- Chỉnh nghi/ tiếp sứ
- Truy sát / đuổi dài
- Kẻ lại / người qua
- Phu quý/ phụ vinh
- Công ít/ tội nhiều
- Gió tủi / mưa sầu
- Ve ngâm/ vượn hót
- Ủ liễu / phai đào
- Chân trời / mặt bể
- Trời cao/ bể rộng
- Âm cực/ dương hồi
- Treo bầu / Quẩy níp
- Giáo dựng/ gươm trần
- Sống đọa/ thác đày
- Cân lại/ nhắc đi
- Đánh tranh/chụm nóc
- Đóng thuyền / chực bến
- Kết chài / giăng sông
- Phách quê/ hồn mai
- Phận mỏng/ đức dày
- Cỏ mọc/ lau thưa
- Én liệng/ lầu không
- May thuê/ viết mướn
- Nhà tranh/ vách đất
- Vẫy gió/ tuôn mưa
- Trai tài / gái sắc
- Ngọn bèo/ chân sóng
- Mây trôi / bèo nổi
- Hoa trôi/ nước chảy
- Trời thẳm/ vực sâu
- Bóng chim/ tăm cá
- Gieo ngọc / trầm châu
- Ngơ ngác/ rụng rời
- Phật tiền/ ngày bạc
- Nở mặt / nở mày
- Hoa rụng/ hương bay
- Bẻ lau/ vạch cỏ
- Trông mặt/ cầm tay
- Dãi nguyệt / dầu hoa
- Hỏi trước / han sau
- Cầu phật / cầu tiên
- Giã sư/giã cảnh
- Bình địa/ ba đào
- Phận cải / duyên kim
- Máu chảy / ruột mềm
- Rày ước / mai ao
- Vật đổi / sao dời
- Ong qua/ bướm lại
- Gió táp/ mưa sa
- Kết tóc / se tơ
- Sen ngó/ đào tơ
- Đêm chầy/ trăng cao
- Hoa xưa/ ong cũ
- Mặt dạn/ mày dày
- Sửa áo /cài trâm
- Gạn đục/ khơi trong
- Đóng cửa/ cài then
- Mây bay / hạc lánh
Tổng 308 tiểu đối nhóm hai.
|
|
|
|