08.12.2018
Thiều Chửu
Thư tuyệt mệnh của Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha gửi Hồ Chủ tịch


“Kính thưa Hồ Chủ tịch


Việt nam Độc lập Thống nhất muôn năm!


Hồ Chủ tịch muôn năm!


Đảng Lao động Việt nam muôn năm!


Đội Công tác thành công mỹ mãn!


Thế giới Hoà bình muôn năm!


Tôi hô 5 khẩu hiệu này trước khi vĩnh biệt Tổ Quốc và nhân dân, để tỏ lòng biết ơn Người đã trả được thù nước, thù nhà, thù của giai cấp hàng ngàn năm, trong đó có cả nhà tôi.


Chân thành kính mến kính gửi Hồ Chủ tịch.


Khi cái thư này đến tay Chủ tịch là khi tôi đã vĩnh biệt cõi này. Sở dĩ tôi dám mạo muội gửi bức thư này với Chủ tịch có hai lẽ:


1- Tôi kính mến Chủ tịch và tin sâu Chủ tịch sáng suốt vô cùng.


2- Tôi tin tôi có một điểm dễ thông cảm với Chủ tịch là một lòng với nước với dân như đối với con.


Với chính sách, có hai lẽ:


1- Để thêm kinh nghiệm cho cán bộ biết ở đời cũng có hạng người chân thành đặc biệt, khác hẳn người thường; nếu lấy tình thường mà xét đoán thì nhầm to. Trái lại nên rõ hơn số người để ít dùng chẳng có nhiều mà làm * kẻ gian ngoan nó lừa được, để công cuộc Cải cách ruộng đất chóng thành công, nhân dân được hưởng phúc lành no ấm.


2- Đừng có thành kiến với người có tín ngưỡng.


Tôi dâng thư này hoàn toàn đứng trên quan điểm vì nước vì dân:


1- Tôi không xin tuyệt oan. Vì tôi: bố mẹ chết rồi, vợ con không có, anh em kiến giả nhất phận. Tôi chẳng còn vì ai mà tôi còn vì tôi làm gì nữa.


2- Tôi không cốt trả thù. Tôi chết không oán hận, vì tôi chết nhận lợi nước lợi dân, lúc chết thản nhiên.


Tôi chỉ chí thành kính khẩn cầu Chủ tịch xét cho tôi hai điểm:


1- Bổ xung cho cán bộ khỏi lầm, hại cho chính sách đúng đắn.


2- Cho các em ở với tôi trước vẫn được sống tập thể, được ăn, được làm, được học, khỏi mỗi em một cửa, làm trâu ngựa cho người. Các em với tôi là những người cực khổ cả, thế mà Đội đến thăm nghèo hỏi khổ bỏ hẳn ra ngoài; các em đều ôm một lòng ân hận vô cùng, chỉ mong có ngày gặp Bác ** để tỏ nỗi lòng.


Tâm thành kính chúc Chủ tịch sống lâu, mạnh khoẻ, để dắt dân gian cõi Nam Việt cùng tiến lên cõi sung sướng mãi mãi không ngừng.


Một người dân kính mến Chủ tịch


Nguyễn Hữu Kha”


Sao lục ngày 20-7-1954, rất đúng.


Ghi chú:


* Chỗ này bản chép tay mờ nhạt không rõ, mất một chữ (chép ngày 20-7-1954, đã gần 50 năm), cho nên câu văn khó hiểu; để tôn trọng tác giả, BBT giữ nguyên không sửa.              


** Bác là Bác Hồ


Thư này có lẽ cụ Kha viết vào đêm 14 (đêm hôm giỗ thân phụ) rạng 15-7-1954. Sớm hôm đó cụ Kha bí mật quyên sinh. Bản gốc thư chưa tìm thấy, ở đây sao lại theo bản chép tay của các học trò cụ Kha.


Ghi chú của người sưu tầm, đánh máy và làm các chú thích cuối trang tài liệu này:


Toàn bộ 22 trang đánh máy trên đây (trừ các chú thích cuối trang) là nguyên văn bức thư Thiều Chửu- Nguyễn Hữu Kha viết gửi Hồ Chủ tịch. Để tiện cho bạn đọc theo dõi, khi công bố, tôi tách riêng phần đầu ra và đặt tên là “Tự bạch”, phần cuối đặt tên là “Thư tuyệt mệnh của Nguyễn Hữu Kha gửi Hồ Chủ tịch”.


Ở đây tôi đánh máy theo nguyên gốc bản sao bức thư cụ Kha viết, để lại và căn dặn các học trò gửi lên Hồ Chủ tịch. Bản sao này do ông Nguyễn Xuân Dương giao cho tôi cuối năm 2001, khi các con cụ Nguyễn Hữu Tảo sưu tầm tư liệu chuẩn bị cho Hội thảo kỷ niệm 100 năm sinh Thiều Chửu-Nguyễn Hữu Kha.


Có ba người đã chép tay bức thư nói trên; họ là các trẻ em trong đội Tế Sinh được cụ Kha nuôi dạy từ cuối năm 1946 (hồi ấy tôi ở trong đội này hơn nửa năm). Có lẽ vì thời gian quá gấp (sau khi thấy thư, phải nộp ngay cho Đội CCRĐ) nên họ phải chia nhau mỗi người chép một đoạn bằng bút mực tím trên các tờ giấy rời, sau đó ghép lại, đóng bằng chỉ khâu. Ba người ấy có ghi lại tên tắt của mình (MVũ – X – D), có lẽ X. là Nguyễn Xuân Xưởng, D. là Nguyễn Xuân Dương, hai anh em ruột và là cháu gọi cụ Kha bằng bác ruột.


Trong thời buổi “Nhất Đội nhì Trời” ngày ấy, nhất là trong bầu không khí kinh hoàng bao trùm ấp Đồng Tâm sau khi biết tin cụ Kha quyên sinh, việc sao chép bức thư này là một hành động sáng suốt và dũng cảm đáng khâm phục. Người chép thư phải làm việc hết sức khẩn trương, không kịp soát lại. Vì vậy bản sao có vài chỗ nhầm, nhiều chỗ không rõ là điều dễ hiểu. Mặt khác, do người chép không giỏi chữ Nho nên có một số chữ Nho viết chưa đúng (tôi đã sửa lại).


Chắc hẳn bản gốc bức thư đã phải nộp ngay cho Đội CCRĐ sau khi sao chép xong. Trong không khí khủng bố thời ấy, việc chuyển thư này tới Hồ Chủ tịch là rất nguy hiểm và có lẽ thư chẳng bao giờ tới đích.


Cần nói thêm là cụ Kha bí mật trẫm mình tại Thác Huống trên sông Cầu sáng sớm ngày 15-7-1954, không ai trông thấy, sau khi đã thắp hương tạ lễ bốn phương (hương và hoa đồ lễ còn lưu lại trên bờ). Thi hài cụ trôi xuống hạ lưu sông, đội Tế Sinh tìm được và đưa về an táng. Cụ Kha từ lâu đã có uy tín cực cao trong cả nước cũng như tại địa phương tạm trú, vì thế cái chết của cụ đã gây rúng động dư luận, đông đảo người dân địa phương công khai tỏ lòng tiếc thương. Đội CCRĐ kịp thấy sai lầm và mấy ngày sau đã sửa sai bằng cách hạ thành phần cụ từ địa chủ xuống trung nông. Về sau hài cốt cụ được các Phật tử trân trọng rước về an táng tại Hà Nội, cuối cùng đưa lên Nghĩa trang Thanh Tước (số mộ 170-C3).


Trước khi có bản chép tay kể trên, tôi có nhận được hai bản từng lưu trữ ở nhà ông Nguyễn Hải Đạm (con thứ tư cụ Nguyễn Hữu Tảo, do ông Nguyễn Hải Bằng chuyển cho tôi ngày 9-11-2001). Một bản đánh máy, chữ màu tím trên 17 trang giấy pơluya (tôi hiện còn giữ), về cơ bản giống bản chép tay, nhưng thiếu “Thư tuyệt mệnh”, thiếu nhiều dấu chấm câu, bỏ sót một số chỗ và do máy chữ không dấu tiếng Việt nên rất khó đoán đúng một số chữ, nhất là tên người và địa danh, không đánh máy được chữ Nho, giấy lâu ngày đã mục, chạm đến là nát vụn. Bản thứ hai có 7 trang đánh máy, viết dưới dạng phóng tác văn học. Vì ông Đạm đã qua đời năm 2000 nên không thể tìm hiểu nguồn gốc hai bản này. Cuối cùng chúng tôi quyết định dùng bản chép tay do ông Dương cung cấp. Chúng tôi làm thêm các ghi chú cuối trang để giúp người đọc hiểu rõ hơn về các nhân vật và sự kiện có đề cập trong bài viết của cụ Kha. Tài liệu này được gửi tới các học giả nhận lời viết tham luận trong Hội thảo kỷ niệm 100 năm sinh Thiều Chửu-Nguyễn Hữu Kha 1902-2002.


*Sưu tầm, đánh máy vi tính và chú thích: Nguyễn Hải Hoành (cháu gọi cụ Nguyễn Hữu Kha bằng chú ruột, con thứ sáu cụ Nguyễn Hữu Tảo). 1-2002


 


trieuxuan.info