17.03.2020
Vương Trung Hiếu
Chuyện chữ nghĩa: Xưa và nay/ Có nên dịch danh từ riêng/ Tháng Giêng?


NGHĨA XƯA VÀ NAY


Từ Hán Việt trong ngôn ngữ nước ta chiếm số lượng khá lớn. Có những từ ngày nay mang ý nghĩa mới, không còn giữ nghĩa gốc ngày xưa, song cũng có trường hợp ngày nay người ta sử dụng từ Hán Việt sai nghĩa vì không biết nghĩa gốc hoặc căn cứ nghĩa của từ thuần Việt để hiểu từ Hán Việt thì không đúng. Vài thí dụ sau đây cho thấy điều đó:


Ai cũng biết ngày xưa từ khốn nạn/khốn nan (困難) có nghĩa là “cùng khốn, nghèo khổ”; còn ngày nay lại mang nghĩa là “tội nghiệp, đáng thương” hoặc “hèn mạt, đáng khinh bỉ”. Ngày xưa từ “cải lương” (改良) có nghĩa là “sửa đổi cho tốt đẹp hơn”, còn ngày nay, ngoài nghĩa này nó còn dùng để chỉ một loại hình nghệ thuật sân khấu hoặc chứa thêm nghĩa là…“sến” (thí dụ: “cải lương quá” đồng nghĩa với “sến quá”).


Hai thí dụ trên thường được giải thích trong trường học, riêng những từ dưới đây, không phải ai cũng hiểu nghĩa xưa của chúng:


- Cô đặc (孤特): có nghĩa là “cô đơn, cô lập, siêu thoát, vượt ngoài thói tục”; ngày nay thường được hiểu là “làm đặc lại, làm giảm nước tối đa... hoặc đưa vật chất từ thể lỏng sang thể rắn”, còn trong thuật ngữ chuyên ngành nào đó thì nó lại có thêm ý nghĩa khác.


- Cô phụ (孤負) có nghĩa là “làm trái, phụ lòng” hoặc “mang lỗi, có lỗi”, không giống với từ “cô phụ” ngày nay hiểu là “người đàn bà sống xa chồng” (phụ ở đây viết khác với phụ trong cô phụ).


- Xử nữ (處女) hay xử tử (處子) có nghĩa là “trinh nữ”.“Xử tử” ở đây là danh từ, không mang nghĩa “xử tử” (động từ) như ngày nay.


- Cô chú (孤注) có nghĩa là “dốc hết sức để quyết ăn thua”, không giống với nghĩa “cô chú” ngày nay – chữ thuần Việt, có nghĩa là “vợ chồng người em gái của cha hoặc người em gái của mình”.


- Thất tình (七情) thường được hiểu là 7 loại tình cảm: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục (, , , , , , ), có nghĩa là “mừng, giận, buồn, sợ, thương, ghét, muốn”. Theo Kinh Lễ của Nho Giáo, thất tình gồm có: hỉ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục (mừng, giận, thương, ghét, buồn, sợ, muốn), còn theo Dưỡng Chơn Tập thì gồm: hỉ, nộ, ai, lạc, ưu, khủng, kinh (mừng, giận, buồn, vui, lo, sợ, hoảng sợ).


Ngày nay, "thất tình" có nghĩa là "đau khổ vì tình yêu không thành".


- Đại gia (大家) có nghĩa là “nhà quyền quý, thế gia vọng tộc”, “chuyên gia, tác giả nổi tiếng”, “mọi người” hoặc mang nghĩa là tiếng tôn xưng phụ nữ, tiếng đày tớ gọi chủ nhân, tiếng vợ gọi mẹ chồng…


Ngày nay, “đại gia”, ngoài ý nghĩa “dòng họ có tiếng tăm thời trước”, từ này còn được hiểu là “người có rất nhiều tiền của, nhiều thế lực”.


- Đường bệ (堂陛 ) có nghĩa là “sảnh đường và bậc thềm” hoặc dùng để chỉ “cung nội”, “triều đình”. Ngày nay từ này thường được hiểu là “chững chạc, uy nghi”.


- Đường hoàng (堂皇) có nghĩa là “khí thế to rộng”, “đại đường, chỗ quan làm việc”; ngày nay còn đọc là “đàng hoàng” và hiểu là “đầy đủ về đời sống vật chất, tinh thần” (xây dựng cuộc sống đàng hoàng), “những biểu hiện tốt, nghiêm chỉnh của tư cách” (ăn nói đàng hoàng, người đàng hoàng) hay “Không có việc gì sợ sệt, giấu diếm (làm việc đàng hoàng)…


Những từ trên có nghĩa xưa khác nghĩa nay, chúng ta biết nghĩa xưa để hiểu đúng khi đọc văn bản cổ, có thể không cần phải “tái lập” nghĩa xưa để sử dụng bởi vì chúng đã có ý nghĩa mới, đã được xã hội chấp nhận. Tuy nhiên, với những từ sau đây thì cần phải hiểu đúng nghĩa xưa để sử dụng, đặc biệt là đối với báo chí và các phương tiện truyền thông khác, nếu sử dụng theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt hiện nay, theo chúng tôi, có thể làm sai lệch nghĩa của từ khiến người đọc hiểu sai theo:


- Quan ngại (關礙) có nghĩa là “trở ngại, cản trở” hoặc “liên can, liên lụy”. Ngày nay từ này được hiểu là “quan tâm, lo ngại”. Có lẽ đây là cách ghép hai chữ: “quan” (trong “quan tâm”) và “ngại” (trong “lo ngại”) với nhau. Nếu đúng vậy thì đây là một cách ghép hết sức…tự nhiên chủ nghĩa, lâu ngày được đưa vào…từ điển (!) với ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn với từ Hán Việt “quan ngại” (關礙).


- Vấn nạn (問難) có nghĩa là “hỏi vặn lẽ khó khăn”, ngày nay được hiểu là “điều khó khăn lớn, mang tính chất xã hội” (Tham nhũng luôn là vấn nạn nghiêm trọng tại các quốc gia nghèo).


Đồng ý rằng, ngôn ngữ có đời sống riêng của nó, có những từ mang nghĩa phái sinh, nghĩa mới, khác hoàn toàn so với nghĩa gốc, tuy nhiên, cần tránh cách ghép từ tùy tiện, không nên “chế” những từ tưởng rằng mới nhưng lại giống hệt với từ đã có sẵn từ lâu hoặc sử dụng từ chệch với nghĩa gốc, bởi vì điều này có thể gây ngộ nhận trong cách hiểu ý nghĩa của từ.


 


CÓ NÊN DỊCH DANH TỪ RIÊNG?


Một Việt kiều, sống ở Mỹ trên 30 năm, nói: “Không hiểu sao báo Việt Nam thích dịch tên nước ngoài. Lee Kuan Yew thì cứ để nguyên Lee Kuan Yew đi, dịch thành Lý Quang Diệu làm sao người ngoại quốc biết là ai".


Anh ấy nói có lý, nhưng cái gì cũng có nguyên nhân của nó.


Trên thực tế, không chỉ những nước nói tiếng Anh mới viết tên cựu Thủ tướng Singapore Lee Kuan Yew, nhiều nước khác cũng không dịch tên của vị cựu thủ tướng này. Thí dụ như Đức, Tây Ban Nha, Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Rumani hay Thổ Nhĩ Kỳ…họ đều viết là Lee Kuan Yew trong ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, cần nhớ rằng, ông Lý Quang Diệu có gốc là người Khách Gia (客家), còn gọi là người Hẹ, sống ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Lee Kuan Yew là tên tiếng Anh của ông ở Singapore, còn tên tiếng Trung của ông là 李光耀, gọi theo âm Hán Việt là Lý Quang Diệu.


Như vậy, báo tiếng Việt đã dựa tên tiếng Trung của ông để chuyển sang tiếng Việt. Đây là cách chuyển tự phổ biến, thí dụ: 江澤民 là Giang Trạch Dân, 習近平 là Tập Cận Bình… Cách chuyển tự này chỉ dành cho người đọc văn bản tiếng Việt biết Lý Quang Diệu chính là cựu Thủ tướng Singapore, chứ không dành cho người Trung Quốc hay những người sử dụng ngôn ngữ khác (họ không biết Lý Quang Diệu là ai là điều đương nhiên).


Chúng ta biết rằng không phải nước nào cũng sử dụng tên Lee Kuan Yew trong ngôn ngữ của họ. Để nói về Lý Quang Diệu, người Thái Lan viết ลี กวนยู; người Nga viết Ли Куан Ю; Armenia viết Լի Կուան Յու; Lào viết ລີ ກວນ ຍູ; Hungari viết Li Kuang-jao; Nepal viết ली कुआन यु; Hàn quốc viết 리콴유; người Nhật viết リー・クアンユー; riêng những nước sử dụng tiếng Ả rập thì viết لي كوان يو…


Như vậy, không có chuẩn nào, qui ước chung nào cho toàn thế giới viết về danh từ riêng. Mỗi nước có qui ước, chuẩn riêng của họ.


Theo chúng tôi, điều quan trọng nhất buộc phải chuyển ngữ chính là phông chữ (font) và cách phát âm, làm sao để thuận tiện trong cách viết, để người đọc dễ hiểu, dễ phát âm bằng ngôn ngữ của nước họ là được.


Thật khó khi báo tiếng Việt phải viết tên Tổng thống Nga Putin là Влади́мир Влади́мирович Пу́тин, chuyển tự thành Vladimir Vladimirovich Putin thì thuận với font tiếng Việt, giúp người đọc dễ nhận ra hơn.


Tương tự như vậy, khi đề cập họ tên của Tổng thống Putin, người Trung Quốc viết là 弗拉基米爾弗拉基米羅維奇普京; người Nhật viết là ウラジーミル・ウラジーミロヴィチ・プーチン ; người Hàn viết là 블라디미르 블라디미로비치 푸틴


Ngược lại, khi chuyển tên tiếng Việt sang tiếng nước ngoài thì sao? Thí dụ: Trần Hưng Đạo. Trong ngôn ngữ Anh, Đức, Pháp, Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia... người ta vẫn giữ nguyên tiếng Việt là “Trần Hưng Đạo”, nhưng người Nga sẽ viết là Чан Хынг Дао, người Hàn viết là 쩐흥다오, người Trung Quốc viết là 陳興道


Điều này cho thấy, cách chuyển tự danh từ riêng tiếng nước ngoài sang tiếng bản địa là nhằm phục vụ cho người dân của nước nào đó.


Nhìn chung, quan điểm để nguyên tên tiếng Anh, Pháp hay tên những ngôn ngữ sử dụng mẫu tự Latin đã được giới ngôn ngữ học VN thảo luận từ lâu nhưng vẫn chưa thống nhất cách viết trên báo chí. Có lẽ đã đến lúc cần đồng nhất cách viết này.


Theo chúng tôi, nếu danh từ riêng viết bằng tiếng Anh, thí dụ tên nhân vật chính trong phim Titanic là Jack và Rose, khi chuyển sang văn bản tiếng Việt cũng nên viết là Jack và Rose, không dịch sang tiếng Việt (cho dù có nghĩa tương đương như Mít và Hồng chẳng hạn…).


Riêng những tên tiếng Trung chuyển sang tiếng Việt, nếu thật sự cần thiết, có thể mở ngoặc chú thích thêm tên tiếng Anh hoặc cách viết bính âm như Tập Cận Bình (Xi Jinping) hay Giang Trạch Dân (Jiang Zemin)…


Tóm lại, cần tránh việc chuyển tự trong cùng một ngôn ngữ mà có nhiều cách viết khác nhau. Thí dụ có báo viết: “cựu Thủ tướng Niu Di-lân Hê-len Clắc, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Mun...” trong khi đó, nhiều báo khác lại viết: “cựu Thủ tướng New Zealand Helen Clark, Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon”.


 


VÌ SAO GỌI LÀ THÁNG GIÊNG?


Hiện nay Âm lịch của Việt Nam tuy dựa vào lịch Trung Quốc nhưng Giờ Phối hợp Quốc tế lại khác (UTC+7 thay vì UTC+8). Chúng ta thường gọi là tháng 2, 3, 4 (Âm Lịch)… giống như cách gọi tháng trong Dương lịch, nhưng tháng đầu năm mới lại gọi là tháng Giêng chứ không phải tháng 1. Vì sao?


Theo Từ điển Taberd (1), Giêng có cấu tạo chữ Nôm gồm chữ nguyệt + chính ; tháng Giêng trong tiếng Latin là mensis primus (tr. 174); còn Hán ngữ gọi là Chính nguyệt 正月. Chữ chính này còn được đọc là chinh, có nghĩa là “đầu tiên, thứ nhất”, trong khi đó nguyệt là “tháng”. Như vậy, tháng Giêng theo định nghĩa của Khang Hi tự điển là Nông lịch nhất niên đích đệ nhất cá nguyệt 农历一年的第一个月, tức “tháng đầu tiên của năm Nông Lịch (Âm lịch)”.


Xét về từ nguyên, chữ tượng hình nguyên thủy của chính là bàn chân với một đường ngăn chặn nó phía trước, nghĩa gốc là “hoàn tất” (complete); trong khi đó nghĩa gốc của nguyệt vẫn là “mặt trăng”(moon).


Về chữ nguyệt thì không có gì phải bàn cãi, nhưng chữ chính thì có nhiều chuyện cần xem xét.


Có người cho rằng phải gọi tháng Giêng là chinh nguyệt 正月 mới đúng và phán rằng học giả Đào Duy Anh đã nhầm khi gọi tháng Giêng là Chính nguyệt (2). Thật ra, theo chúng tôi, cách gọi chinh hay chính là tùy theo phiên thiết mà thôi.


Theo Đường vận, Vận hội và Chính vận, thiết âm của là Chi thịnh (thình) thiết 之盛切. Nếu đọc chi thịnh thiết thì chữ sẽ được phiên là chính, nếu đọc là chi thình thiết thì chữ sẽ phiên là chinh. Do đó ta thấy hiện nay cụm từ 正月 có hai cách đọc là chính nguyệt và chinh nguyệt, chẳng có gì là nhầm lẫn cả.


Một điểm cần lưu ý khác, Khang Hi tự điển cho biết, chữ đọc giống như chữ chính/chánh , như vậy, cách phiên thiết chuẩn nhất là chính chứ không phải chinh, còn phiên là chánh là do người Nam bộ đọc trại.


Trong Hán ngữ còn có chữ nguyên nghĩa là “mới, đầu tiên”. Nguyên niên 元年 là “năm đầu (thứ nhất)”, nguyên nguyệt 元月 là “tháng Giêng”, còn nguyên nhật 元日 là “ngày mùng một”. Nhưng trên thực tế, tại Việt Nam, cụm từ thường dùng để chỉ tháng Giêng là Chính nguyệt 正月 chứ không phải là nguyên nguyệt 元月.


Bằng chứng rõ nhất là cách cấu tạo chữ giêng theo lối hội ý của chữ Nôm: nguyệt (ý) + chính (ý) – không dính dáng gì tới chữ nguyên (3).


Nhưng chữ giêng từ đâu ra? Cách lý giải thuyết phục nhất chính là từ sự biến đổi ngữ âm của tiếng Việt theo thời gian. Nhiều nhà nghiên cứu công nhận rằng chữ giêng là biến âm của chữ chính/chinh trong Hán ngữ.


Trước hết, chúng ta xét về phụ âm đầu: c, k, biến thành g, gh trong những cặp từ “căng – găng”, “cóp – góp”, “cài – gài”, “còng – gòng”, “ké – ghé”, “kìm – ghìm”, “chăng – giăng”, “chằng - giằng”; còn phần vần thì có sự biến đổi từ inh thành iêng như trong cái chinh thành cái chiêng (chiêng- một loại nhạc cụ gõ, còn gọi là chinh trong những phương ngữ ờ Tây Nguyên) hay thinh thành thiêng hoặc linh thành liêng.


Sự biến âm này không phải là điều khó hiểu. Chúng ta biết rằng tiếng Việt thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á, nhánh bắc trong ngữ chi Việt là Việt – Mường, điều này cho thấy tiếng Việt rất gần với tiếng Mường. Từ chiêng trong tiếng Mường, ngoài nghĩa là cái chiêng, còn có nghĩa là giêng (tháng).


Khảng chiêng trong tiếng Mường có nghĩa là tháng Giêng trong tiếng Việt. Thí dụ: khảng nì là khảng chiêng rồi, còn ói ngày nưa là tiểnh thết (Tháng này là tháng giêng rồi, còn ít ngày nữa thôi là đến tết) - trích Từ điển Mường - Việt của Nguyễn Văn Khang, Nxb Văn hóa Dân tộc 2002, (tr.81).


Như vậy đã quá rõ ràng! Nhưng tại sao không gọi tháng Giêng là tháng 1 Âm lịch? Đây là vấn đề khác, chúng tôi sẽ trình bày sau.


___


(1): Từ điển Taberd có tên chính thức là Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị (Hán ngữ: 南越洋合字彙; Latin: Dictionarium Anamitico-Latinum), viết bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và Latin, xuất bản lần đầu năm 1838 tại Serampore, Ấn Độ.


(2): Hán Việt Từ Điển Giản Yếu của Đào Duy Anh (Nxb Trường Thi 1957): Chính nguyệt 正月: Tháng giêng (tr. 173).


(3): Trong chữ Nôm còn có 2 cách cấu tạo chữ giêng khác theo lối hài thanh: a. nguyệt (ý) + trinh (âm); b. nguyệt (ý) + chinh (âm). Cả hai cách này cũng không cho thấy sự liên quan với chữ nguyên trong nguyên nguyệt 元月.


VTH.


Cám ơn tác giả gửi www.trieuxuan.info


trieuxuan.info