24.11.2009
Lương Văn Hồng
Nobel Văn học (4)

Nobel văn học 1909: SELMA LAGERLÕF


               (1858-1940)


 


Selma Lagerlõf là nữ tiểu thuyết gia Thụy Điển xuất thân từ gia đình dòng dõi quý tộc lâu đời.  Cha là sĩ quan.   Bà bị bệnh bại liệt năm 3 tuổi, nên tự học ở nhà với bà, cô bé Selma tỏ ra thích văn thơ.  Lagerlõf học ở trường Sư  phạm nữ Hoàng gia, và  năm 1885  là giáo viên trường Landskrona ở miền Nam Thụy Điển. Dưới ấn tượng mạnh của phong cảnh đẹp nơi miền quê và của những truyền thuyết, những bài thánh ca, những trường ca  sử thi  được bà kể cho nghe khi nhỏ, Lagerlõf   viết cuốn tiểu thuyết Truyền thuyết về Gusta Berlings  (La Saga de Gusta Berlings, 1890-1891),  bản anh hùng ca lãng mạn của một tỉnh Thụy Điển.  Bà được giải nhất trong một cuộc thi văn học với cuốn tiểu thuyết trên.  Sự kiện này dẫn tới việc Lagerlõf  dành trọn đời cho sáng tác văn học .  Năm 1890, Lagerlõf được vua Thụy Điển và Viện hàn lâm Thụy Điển trợ cấp tài chính để đi du lịch Italia, Palestin, Ai Cập.  Sau chuyến du lịch  Italia và phương Đông bà viết tiểu thuyết Những phép lạ của tên nghịch Chúa (Antikrists mirakler, 1897)  và tiểu thuyết  Jérusalem (1901-1902). Cuốn Cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils Holegerssons qua suốt nước Thụy Điển (Nils Holegerssons  underbara resa genom Svenge, 1906)  là sách địa lý dành cho trẻ em.    Năm 1922 bà xuất bản cuốn tự truyện về thời thơ ấu  Marbacka.


Truyền thuyết về Gusta Berlings  và sách Cuộc phiêu lưu kỳ thú của Nils Holegerssons qua suốt nước Thụy Điển đã mang lại vinh quang và danh tiếng cho Selma Lagerlõf. Bà nhận giải Nobel  văn học năm 1909 vì những sáng tác của bà nhằm  trả nợ  những người đã từng dạy bà (nguyên văn: con) biết yêu cổ tích thần tiên, yêu những bản anh hùng ca, yêu mảnh đất mình (nguyên văn: chúng ta) đang sống, yêu cuộc sống của loài người với tất cả vinh quang và bất hạnh  (trích diễn từ khi nhận giải Nobel của Lagerlõf).


 


                       Nobel Văn học 1910: PAUL  HEYSE (1830-1914)


Gạch nối hai dòng văn học hiện thực chủ nghĩa và văn học hiện đại trong văn học Đức


    Paul Heyse sinh ngày 15.3.1830 ở Berlin và mất ngày 2.4.1914 ở Mũnchen.Ông là con trai nhà ngôn ngữ Karl Wilhelm Ludwig Heyse.  1838-1847, Heyse học phổ thông ở Berlin.  1847-1849 ông học ngữ văn ở Berlin. 1846, do Geibel giới thiệu nên ông làm quen với nhóm của Kugler  (Kugler,  Eichendorff,  Burckhardt, Fontane, Menzel) và trở nên yêu thích sáng tác văn thơ.  1849-1851 ông học ngữ văn Roman và lịch sử nghệ thuật ở Bonn. 1852 ông bảo vệ tiến sĩ ngữ văn ở Berlin.  Tháng 8.1852 ông đi du lịch Rom, Florenz,  Modena, Venedig và trở về Berlin tháng 8.1853 và sống bằng dạy tư. Tháng 5.1854 ông lấy Margarethe Kugler  và chuyển về Mũnchen sống và làm việc cho Maximilian II.   30.9.1862 Margarethe Kugler qua đời,  1867 ông lấy Anna Schubart. 


   Paul Heyse sống vào lúc giao thời giữa chủ nghĩa hiện thực và văn học hiện đại , nhưng ông tiếp tục truyền thống cổ điển về mặt mỹ học hình thức, đồng thời đề cập đến những vấn đề mới của thời đại. Ông có khuynh hướng lý tưởng hoá hiện thực.  Ông là nghệ sĩ tư sản, không chú ý đến chính trị.  Ông chống đầu óc hẹp hòi của quý tộc, chống đầu óc tôn sùng Giáo hoàng,  chống lối suy nghĩ tầm thường tiểu tư sản.   Ông là nhà văn có sức sáng tác dồi dào, ông viết trên một trăm truyện ngắn.  Với tinh thần lạc quan tin vào sự hài hoà, lý tưởng hoá,  ông sáng tác liên tục bài hát, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch.  Ông ca ngợi thời Thượng cổ bằng hình thức cổ điển, bằng văn phong chải chuốt, sáng sủa, súc tích.   Ông tránh đề cập tới những cái tầm thường cùng những đau buồn đời thường.  Đề tài sáng tác của ông chủ yếu là Tình yêu : từ những mối tình có trong sử sách (với khung cảnh xã hội Italia) tới những mối tình trên những chuyến tầu lửa, nhằm tôn sùng cái Đẹp- những mối tình bí ẩn của những tâm hồn đang phân tâm.  Ông chịu ảnh hưởng của nhà nhân văn Italia Giovanni Boccaccio (1313-1375), ông đưa ra Lý thuyết chim ưng (Falkentheorie) trong tình yêu.  Paul Heyse là nhà văn được tầng lớp thượng lưu tư sản đặc biệt trọng vọng.  Ông được giải thưởng Nobel văn học năm 1910.


   Những tác phẩm văn xuôi trội nhất là tiểu thuyết    Những đứa con của thế giới  (Kinder der Welt, 1873) tiểu thuyết  Ở trên thiên đường (Im Paradiese, 1874), truyện ngắn  Arabiata  (L  Arabiata, 1855),  Cô gái ở Treppi (Das Mãdchen von Treppi, 1858),  Andrea Delphin  (1862), Cô thợ thêu ở Treviso ( Die Stickerin von Treviso,1871).


    Ngoài văn, Heyse còn làm thơ, viết hơn hai mươi vở bi kịch, hài kịch, dịch tác phẩm của các nhà văn Italia Alfieri, Manzoni, Leopardi, Giusti v.v.  sang tiếng Đức.


 


*Boccaccio là nhà văn Italia thế kỷ XIV- thời Văn học phục hưng ở châu Âu.  Ông nổi tiếng với tác phẩm Mười ngày (viết bằng tiếng Italia  Deccamerone ,1349-1353) :   Năm 1348 dịch hạch hoành hành.   Để giết thời gian trong lúc lánh nạn dịch, 3 nam và 7 nữ thanh niên  thượng lưu sống ở trong một biệt thự nông thôn kể cho nhau nghe những câu chuyện về thầy tu dâm đãng, chồng ngu đần, vợ lẳng lơ, hiệp sĩ cao thượng, phu nhân tiết nghĩa v.v.   Trong mười ngày họ kể cho nhau nghe 100 truyện. Cốt truyện lấy từ kho tàng truyện cổ phươing Đông, Trung cổ và từ trong cuộc sống đương thời.


 


                   Nobel Văn học 1911: MAURICE  MAETERLINCK (1862-1949)


 


Maurice Maeterlinck là nhà thơ,nhà viết kịch, nhà khoa học và triết học Bỉ viết tiếng Pháp  (tiếng Flemmig, tiếng Pháp, tiếng Đức là ngôn ngữ chính ở Belgien-Bỉ) .  Ông sinh ra trong một gia đình giàu có. Sau khi tốt nghiệp trung học và đại học Luật tại Ghent , Maurice Maeterlinck lên tu nghiệp về luật tại Paris.Năm 1886 ,ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent,viết thơ ,kí ,phê bình cho các báo và tạp chí như Nước Bỉ trẻ  (La Jeune Belgique ).  Năm 1886  ông in truyện ngắn đầu tiên Cuộc tàn sát những kẻ vô tội (La massacre des innocents).  Tập thơ đầu Vườn kính  (Serres chaudes) và vở kịch đầu tiên Công chúa Maleine, của ông được một nhà phê bình Pháp rất có thế lực là O.Mirbau hết lời khen ngợi. Từ đó ông bỏ nghề luật sư chuyển sang viết văn. Trong những năm tiếp theo ,ông viết hàng loạt vở kịch cổ tích như Bảy nàng công chúa (Les sept princesses, 1891),  Aglavaine và Selysette (1896).  Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy ,là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sân khấu, trong các tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc, mộng ảo chống lại số phận khắc nghiệp .Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông Con chim xanh ( L’ Oiseau bleu, 1909) là một kiệt tác sân khấu kể về những cuộc phiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng con chim xanh . Năm 1911 Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao cho ông giải Nobel Văn học, vì những vở kịch của ông  nội dung phong phú, giàu tưởng tượng, đầy thi vị, khơi dây những cảm xúc con người.  Tuy viết tiếng Pháp, nhưng Maeterlinck vẫn là thiên tài của dòng giống dân tộc ông, hiện thân của mảnh đất Flemmish (trích diễn văn của đại sứ Bỉ ở Pháp đọc tại buổi trao giải Nobel). Do Maeterlinck bệnh nặng nên Đại sứ Bỉ tại Pháp thay mặt ông đến Stockholm nhận giải. Sau khi nhận giải Nobel, Maeterlinck được đề nghị trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp nhưng ông từ chối vì không muốn bỏ quốc tịch Bỉ. Bị đe dọa bởi chiến tranh Quốc xã ,năm 1939 ông sang Mỹ.   Sau chiến tranh, .Maeterlinck trở về Pháp và qua đời tại đây năm 1949. Ông được nhà vua Bỉ phong tước hiện Bá tước (1932) .Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lí hình thành một cách trực giác . Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện trong tác phẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩa thần bí: Luận văn triết Cái chết (La mort,1913) .  Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầu của sân khấu kịch phi lí,   nhiều vở kịch của ông đến ngày nay vẫn được dàn dựng ở nhiều nước trên thế giới . Maeterlinck còn viết các sách khoa học   Đời sống con ong  (La vie des abeilles,1901);  Sự thông minh của hoa  (L’ intelligence des fleurs,1907);  Đời sống con kiến  (La vie des fourmis, 1930).


Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info