05.12.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (7)

Đặc điểm cuối cùng là đặc điểm tai hại nhất đang uy hiếp sự sinh tồn của đồng bào rẻo cao, cũng như nhân dân miền núi và đồng bằng là tính chất phá hoại môi trường sống của hình thức canh tác lỗi thời này.


Nếu cứ theo đà hiện nay, với diện tích rừng bị phá càng lớn, với việc xáo động cư dân qua 30 năm chiến tranh và cũng đã 30 năm sau ngày thống nhất đất nước, không còn cư dân nào có thể duy trì khép kín hệ thống canh tác rẫy truyền thống. Đến một lúc nào đó sẽ hết rừng để phá. Diện tích đất trồng trọt sẽ bị thu hẹp, nguồn nước bị khô cạn, khí hậu, thời tiết thay đổi bất thường, thì lời cảnh báo của Ph. Ăng-ghen đưa ra cách đây 100 năm đã và đang trở thành một điều lo ngại hiện thực cho Việt Nam. Thật đúng là "Say sưa vì sức mạnh chinh phục của mình, con người không hề suy nghĩ đến những hậu quả mà hành động vô ý thức có thể đem lại. Trong khi đó thì thiên nhiên miền núi trông bề ngoài tưởng chừng như im lìm và bất động kia đang chuẩn bị giáng đòn trả thù đích đáng của mình". Hậu quả ghê gớm do kết quả hàng ngàn năm của hình thức canh tác dựa trên nguyên tắc là "phá rừng để nuôi người" dưới xã hội cũ, cộng thêm sự tàn phá ác liệt của chiến tranh và cả trong những năm dưới chế độ người dân làm chủ, đã dẫn đến tình trạng báo động. Rừng núi hóa thành đồi trọc, đồi cỏ gianh đã xua đuổi con người ra khỏi môi trường sống, mở đường dẫn dắt hạn hán, uy hiếp những cư dân vùng chân núi bằng cách làm cho nhiều khe suối cạn khô và đưa lũ đổ xuống không chỉ miền đồng bằng mà cả miền thung lũng, tạo nên những trận lụt có nguy cơ quét sạch những ruộng lúa đang ra đòng, những làng mạc và uy hiếp các thành phố, buộc con người phải chống đỡ một cách vất vả.


Hình thức canh tác này đã biến nhiều vùng đất mầu mỡ xưa thành những nơi khô cằn, sa mạc như miền Mésopotamie, Tiểu á, một trong những trung tâm đầu tiên của trồng trọt, đã hủy hoại bao trung tâm văn minh cổ đại như văn minh Maya, Yakutan ở Trung Mỹ v.v... góp phần làm tan vỡ văn hóa cổ đại Sri Lanca thời kỳ Anurakhapura, cũng như đế quốc Angkor huy hoàng... Hình thức canh tác này vẫn đang góp phần gây ra những nạn hạn hán kéo dài làm chết hàng triệu người dân châu Phi, là mối đe dọa hàng ngày, hằng giờ của nhiều nước trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, trong đó có Việt Nam với những trận lũ lụt, hạn hán liên tiếp trong những năm đầu thiên niên kỷ thứ III này.


ở nước ta, diện tích rừng bị thu hẹp với một tốc độ đáng sợ do nhiều nguyên nhân. Đồi trọc và tràng cỏ gianh phát triển. Hình thức canh tác nương rẫy vẫn không giảm. Số lượng người du canh, du cư vẫn tăng lên, trong khi đó, số người định cư khai phá thêm nương rẫy lại tăng một cách tự phát; làm cho diện tích nương rẫy giảm đi không đáng kể. Do mật độ dân số miền núi quá cao so với tỷ số ấn định cho hình thức canh tác nương rẫy, nên rừng không kịp tái sinh, đất không kịp hồi phục. Mặc dù đã có nhiều nghị quyết về bảo vệ rừng, nhiều quy định hạn chế việc phá rừng làm rẫy, nhưng thiếu cụ thể của công tác định canh định cư..., nhiều cuộc vận động chuyển hướng canh tác cho cư dân nương rẫy: thâm canh rẫy thành nương định canh hay ruộng khô, xây dựng các thửa ruộng bậc thang v.v..., trồng rừng và bảo vệ rừng, trồng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, hằng năm vẫn có thêm hàng vạn hécta rừng bị phá thêm do hình thức canh tác này.


Cần gấp rút tìm những biện pháp để chấm dứt được hình thức canh tác nương rẫy cổ truyền, lỗi thời này. Trên thế giới nhiều nhà bách khoa thuộc nhiều ngành khoa học đã chung sức để tìm ra những biện pháp hữu hiệu, nhưng chưa thật thành công.Thiết nghĩ ở nước ta, các ngành khoa học cần quan tâm và cần, phối hợp có tổ chức giữa các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để hiến kế cho Nhà nước những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn. Nếu được như vậy mới mong dần dần chấm dứt được thảm họa cả nước đang phải gánh chịu, không riêng gì cư dân làm nương rẫy. Trước hết, cần nhận thức đây là một việc hòan toàn mới mẻ có tác động đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần, đến lề lối sản xuất, phong tục tập quán của một bộ phận cư dân thiểu số ở một trình độ rất thấp, không thể tự lực phát triển được cần sự giúp đỡ của cả nước. Đây là một cuộc cách mạng thực sự gian khổ, mà chưa một nước nào thành công, nếu không thực hiện được, đó là một ung nhọt hủy hoại môi trường sống như Ph. Ăngghen đã cảnh báo, gây nên hạn hán, lũ lụt cho cả nước, làm mất ổn định xã hội, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân, là nơi hứng chịu sự lừa bịp của kẻ thù bên ngoài rình rập, mơn trớn bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm, kể cả tôn giáo, tín ngưỡng để lôi kéo, chia rẽ, thậm chí li khai


Chương Hai: Các hình thức trồng trọt lúa nước


Vấn đề nước


Đề cập đến việc trồng trọt trên ruộng là đề cập đến việc lần lượt chinh phục đất đai miền chân núi, thung lũng, đồng bằng, ven biển, sau dần đến miền đất trên sườn núi và đỉnh núi, bằng cách tạo ra mặt bằng để trồng lúa, cây lương thực chính và các loại ngũ cốc, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả. Liên quan đến kỹ thuật sử dụng nước, có thể chia thành hai loại ruộng: loại ruộng khô hay ruộng chờ mưa (tiếng Thái: nà thả nặm phạ) và loại ruộng nước. Đúng như ý kiến của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, đối với các loại ruộng đó "Điều kiện đầu tiên của con người là việc tưới nước nhân tạo, mà đó là công việc của các công xã, hoặc của các tỉnh hay của Chính phủ trung ương". Công việc thủy lợi có thể coi là chiếc chìa khóa để tìm hiểu không chỉ kỹ thuật trồng trọt trên các thửa ruộng, mà còn cả tổ chức xã hội của các tộc người ở Việt Nam - một xã hội châu Á của thời kỳ nông nghiệp.


Đối với nương rẫy, mùa màng phụ thuộc hoàn toàn vào việc sử dụng nguồn nước mưa trực tiếp; đối với các thửa ruộng khô, việc đắp đất be bờ đã bước đầu cho thấy tác động của con người vào việc giữ nước, một phần việc khơi nguồn nước qua các kênh, lạch, các nguồn, các khe nước tự nhiên. J. Delvert nhận thức rất đúng là người Khmer ở Campuchia và ở một số vùng Nam Bộ chưa biết làm kênh mương, mới chỉ biết lợi dụng sự lên xuống tự nhiên của nước các khe, lạch để đưa nước vào ruộng, bằng các loại nông cụ như: các loại gàu, xe đạp nước... khi cần thiết. Có thể coi đây chỉ là một hình thức sơ khai của công tác thủy lợi. ở đây, ta chưa thấy hình thành một hệ thống thủy lợi để dẫn nước về ruộng và tháo nước khi cần thiết phục vụ cho mùa màng. Loại ruộng khô này, bao gồm ruộng đã be bờ, tạm thời hay vĩnh viễn ở Tây Nguyên, (mir nă, hma ea), các thửa ruộng ở độ cao, bằng phẳng phổ biến ở các miền thung lũng, trung du, đồng bằng. Loại ruộng này chỉ cho phép cấy được một vụ lúa, kèm thêm một vụ, hoặc hai, ba vụ hoa màu. Đó cũng là các thửa ruộng bậc thang vây quanh sườn núi, các thổ canh hốc đá, các soi, b•i v.v...


Khác với nương rẫy, ruộng khô có mặt phẳng, độ nghiêng không đáng kể, có điều kiện giữ nước, ở đây có thể dùng phân bón tự nhiên hay nhân tạo. Hơn nữa, trên các thửa ruộng khô, có điều kiện giữ nước, con người có thể cày sâu, cuốc bẫm, mà không sợ đất xói mòn, nên, ruộng khô được sử dụng lâu dài, thậm chí là vĩnh viễn, hạn chế được tình trạng quảng canh, rút ngắn thời gian để hóa, từ đó tạo điều kiện cho cuộc sống tập trung trong các công xã nông thôn đông người, ổn định không phải chuyển cư, thậm chí du cư. So sánh đời sống khi xưa của cư dân Trung Tây Nguyên chủ yếu sống với những thửa ruộng khô (hma êa, mir nă), với đời sống cư dân miền núi Quảng Nam, Bắc Tây Nguyên với những nương rẫy (diếc, dếc), cho thấy một bức tranh khác biệt giữa hai cư dân có hai hình thức trồng trọt khác nhau.  


Trên bước đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ruộng khô có nhiều điều kiện thuận lợi trở thành những mảnh vườn chuyên canh trồng các cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả, cây cảnh..., khác với nương rẫy dễ trở thành các khu rừng cây công nghiệp: cao su, cây lấy gỗ, tre nứa, các rừng tái sinh...


Ruộng nước là loại đất trồng trọt được be bờ giữ nước, lại được tưới tiêu nhân tạo, tùy theo địa hình ở vùng chân núi, thung lũng hay đồng bằng bởi các hệ thống thủy lợi to nhỏ khác nhau. Trong quan niệm của người Thái, ruộng nước là ruộng ngậm nước (nà nặm che), khác ruộng khô nà thả nặm phạ (ruộng chờ mưa). Ruộng nước được ngậm no nước trời, đủ nước để cấy không chỉ một vụ mà hai có khi ba vụ. Khi thiếu nước, con người chủ động không đợi nước trời, mà lấy nước từ các hệ thống thủy lợi. Thật ra, không phải ruộng ngậm nước là loại ruộng có nước quanh năm. Nhưng tên ruộng nà nặm che chỉ những ruộng trũng, đầm lầy khi xưa quanh năm có nước, có lúa hoang hay lúa trồng theo lối đao canh thủy nậu. Chi tiết này khẳng định ý kiến A.G. Haudricourt cho rằng lúa ban đầu mọc hoang ở những đầm lầy hay mọc dại ở những mảnh đất ven sông suối, vì bản chất của lúa là loại cây ưa nước. Ông bác bỏ quan điểm lúa được trồng đầu tiên trên các rẫy, mà cho rằng con người sau khi trồng lúa nước, đã đưa lúa lên trồng cạn với những giống lúa đã được thích nghi.


I.           Hệ thống thủy lợi hay việc giải quyết vấn đề nước


Đối với việc trồng lúa, nước là yếu tố quan trọng nhất. Nước, phân, cần, giống. Thành ngữ trên có tính đúc kết kinh nghiệm của người nông dân thời trước, nay có thể thay đổi trật tự, ví dụ giống chiếm một địa vị cao hơn, nhưng nước vẫn phải đứng hàng đầu. Cho nên, khi đề cập đến ruộng vườn, việc đầu tiên là phải xem xét đến công việc của con người đã xây dựng những hệ thống tưới tiêu thế nào để thích nghi với các địa hình khác nhau và thích hợp với trình độ kỹ thuật của bản thân. ở Việt Nam, trước đây có thể thấy có 4 hệ thống thủy lợi tương ứng với 3 miền khác nhau:


1. Hệ thống tạo dựng hồ chứa nước với những đập, mương dẫn nước tương ứng với vùng chân núi.


2. Hệ thống tưới tiêu với hệ thống mương, phai, lái, lín tương ứng với miền thung lũng ở miền núi.


3 & 4. Hệ thống đê điều và kênh rạch tương ứng với vùng đồng bằng.


1. Hệ thống tạo dựng hồ chứa nước vùng chân núi


Đó là hệ thống phổ biến ở miền Nam Đông Dương, tiêu biểu là ở hệ thống đô thị - thủy lợi của đế chế Angkor, của người Chăm ở Việt Nam, đặc biệt còn thấy một dạng nguyên sơ của hệ thống này ở người Xơ Đăng tại chân núi Ngọc Linh (Quảng Nam, Kon Tum), và ở di chỉ thủy lợi vùng Gio Linh được M. Colani phát hiện và nghiên cứu. Trong tài liệu dày 226 trang, khi nghiên cứu toàn vùng đất đỏ Gio Linh, M. Colani đã phát hiện vào thời kỳ đồ đá có một hệ thống thủy lợi đơn giản, lâu đời ở vùng chân núi, mà chủ nhân của nó có thể có quan hệ với những tộc người đã và đang sinh sống ở miền núi Đông Dương, những người bản địa, chứ không phải tổ tiên người Chăm. Họ đã gắng tìm ra hay tạo nên một nguồn nước từ nguồn nước tự nhiên, được đào rộng thành một vũng chứa nước mà J.E. Spencer gọi là ao, đầm địa phương vì cho rằng hệ thống này có tính bản địa, như kiểu các nguồn nước thường gặp ở Tây Nguyên trong các buôn làng, có thể là một giếng khơi từ mạch nước nguồn. Nước được điều chỉnh bằng một đập kè bằng đá, từ đấy được dẫn vào các mảnh ruộng trồng trọt.


Nguyên tắc hệ thống tạo dựng hồ chứa nước này lại được áp dụng rộng khắp, không phụ thuộc vào kỹ thuật nông nghiệp dùng tay, dùng cuốc hay dùng cày, thậm chí máy cày, cũng không phụ thuộc nguồn năng lượng được sử dụng. Hệ thống này xuất phát từ miền chân núi, lợi dụng độ nghiêng, tạo hồ chứa nước, dẫn nước vào một diện tích canh tác nhất định, nhỏ thì như ở chân núi Ngọc Linh, lớn thì cả một đồng bằng rộng hàng vạn cây số vuông. ở xã hội cổ truyền Việt Nam, hệ thống này chiếm một vị trí không quan trọng bằng hệ thống đê điều, mương phai hay kênh rạch thời trước. Nhưng hiện nay, với việc xây dựng hệ thống nhà máy thủy điện, nó lại chiếm một vị trí quan trọng, vượt ra khỏi phạm vi nông nghiệp.


a) Hệ thống thủy lợi Ngọc Linh


Đó là hệ thống tạo dựng hồ chứa nước giản đơn nhất còn thấy được ở nhóm Mơ Nâm, Ca Dong (Xơ Đăng), ở vùng chân núi Ngọc Linh thuộc các xã Mường Hoong, (Đak Glây), xã Hiếu, Măng Búc, Măng Cành (Kon Plong), Ngọc Lay, Măng Xang, (Đak Tô), Trà Linh, Trà Nam, Trà Cang (Nam Trà My)...


Từ dòng nước đầu nguồn, hay có thể từ một chỗ trũng tự nhiên có mạch nước ngầm phong phú…, cư dân đã biết đắp đập (knung, knong) để có nước liên tục chảy vào các con mương (hno, chuông) từ đấy chảy vào các mảnh ruộng được khai phá trên các sườn núi hay vùng chân núi (ruộng bậc thang như ở Đắc Min). Mương là những khe, rạch tự nhiên, không đắp bờ, có khi dài đến hai, ba cây số, được nối bởi những máng (kleng, knang) bằng tre, bương hay thân cây cọ đục rỗng bắc qua các khe hai sườn núi. Nước chảy từ trên cao xuống vướng vào các sườn dốc mấp mô, nên không chảy thẳng mà ngoằn ngoèo. Muốn có ruộng phải cải tạo một vũng đất trũng, be bờ, người sục (chua, klác) hay trâu quần (rô pô), tiếp sau lấy cuốc (nếc luông) (lưỡi có khi bằng xương bả vai trâu, có khi bằng gỗ), vạc các góc ruộng cho vuông góc. Tiếp đó với hai người cầm hai đầu một chiếc bàn san làm bằng một đoạn cây hay một khúc gỗ thẳng (loong char) để san bằng mặt ruộng. Các thửa ruộng (klâng) không rộng lắm, thường 5 - 7 mét, có thửa chỉ rộng chừng một mét. Nước được chảy từ mảnh ruộng trên xuống mảnh ruộng dưới qua những ống nước (chaur) hoặc tràn bờ.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info