08.12.2009
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (9)

Công cụ đưa nước vào ruộng phổ biến là cọn nước (lốc, cọn) thường được các tộc người ở Nam Trung Hoa, người Việt ở Nam Trung Bộ và người Chăm sử dụng. Đó là do địa hình vùng chân núi hay thung lũng buộc phải đưa nước của dòng chảy lên cao tới tận 5 - 3 mét. Nếu dòng chảy có lưu lượng nước là 300 lít/giây là có thể làm quay cọn nước. Tuy nhiên thường lưu lượng nước nhỏ hơn mức cần thiết, lại không đều, nên người dân phải đắp một cái phai để mở đường nước cho chảy siết, làm tăng cường độ của dòng chảy. Chính cái phai này được gọi là lái, sau thuật ngữ lái được mở rộng dùng để chỉ những phai phụ của phai chính hay những phai cụt để uốn dòng nước phục vụ không chỉ cho cọn nước, mà cho các cối tự động để gi• gạo...


Cọn được làm hoàn toàn bằng tre, nứa, gỗ, mây. Đó là một chiếc bánh xe đường kính có thể từ 8 – 10 m, ở vùng người Chăm và người Việt Quảng Ng•i có khi lên đến 15 – 18 m. ở vành bánh xe có những cánh quạt cản nước và các ống bương đựng nước. Nước chảy đẩy các cánh quạt làm bánh xe quay đưa nước vào ống bương và khi ống bương được đưa lên phía trên cao, tự đổ nước vào một hệ thống máng rồi chảy vào ruộng. Cọn nước thường chỉ dùng được một mùa thì hỏng. ở miền núi phía Bắc, cọn được chế tác vào mùa đông xuân để lấy nước cày cấy, qua mùa hạ mưa nhiều, lũ về làm hỏng cọn và cũng là lúc không cần lấy nước vào ruộng, ngược lại phải tính việc tháo nước ra. Cọn nước ở Nam Trung Bộ đạt đến trình độ cao hơn ở miền núi phía Bắc. Theo P. Guilleminet, "ở Bắc Kỳ mỗi địa điểm cọn nước chỉ tưới được từ nửa đến 2 hécta; ở Bắc Trung Kỳ là từ 1 đến 3 hécta, còn ở Nam Trung Kỳ và Campuchia là từ 3 đến 8 hécta". ở Nam Trung Quốc, kỹ thuật làm cọn nước cũng rất phát triển, không thua kém ở vùng Chăm, Việt hay Khmer. Có nhiều hệ thống cọn nước có đến hàng chục cái với đường kính 15 m, trông rất hoành tráng, tiếc rằng hiện nay không còn thấy.


Có thể coi cọn nước là sản phẩm của vùng chân núi và thung lũng. Mặc dù cọn còn thấy cả ở Trung Cận Đông, nhưng không vì thế mà có thể kết luận như J. Cuisinier chỉ dựa vào ý kiến của Chassigneux, cho cọn nước là do những nhà buôn người ? Rập du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XIV, truyền từ Nam ra Bắc, rồi lại trở về Nam, cho dù nguyên tắc làm cọn nước là giống nhau. Các tác giả cho rằng người Việt đã học cách làm cọn nước của người Chăm hay ngược lại như C. Robequain lại cho cọn nước là từ Trung Quốc đến. Dù cọn nước là của người Việt, người Thái, người Chăm hay người Hán, nó vẫn hiện diện như một sản phẩm bản địa lâu đời.


 Bằng hệ thống tưới tiêu mương, phai, lái, lín, các tộc người cư trú ở vùng thung lũng đã tạo dòng chảy vào ruộng theo kiểu để nước tràn bờ, thuận tiện cho việc nuôi cá ruộng, nhưng lại làm trôi các loại phân bón. Nước được lấy ở một nguồn nước phía trên, lại đổ về cùng nguồn nước ở phía dưới, theo nguyên tắc vừa tưới, vừa tiêu, khác với cách sử dụng nước ở đồng bằng cũng như ở vùng chân núi (Chăm), là nước tưới được lấy ở một nguồn, nước tiêu không quay trở lại hoặc chảy đi mất hoặc thấm xuống đất. Hệ thống này cũng chỉ thích hợp với việc cấy một vụ phụ thuộc vào mùa mưa, khó có thể trồng trọt quanh năm. Với kỹ thuật thủy lợi hiện nay, các hệ thống tưới tiêu truyền thống đã thay đổi, tập trung vào việc đắp những con đập vững chắc hơn bằng bê tông, xi măng. Tuy nhiên, với địa hình các lòng chảo, ruộng hình thành theo từng bậc lượn theo dòng suối, những hệ thống thủy lợi vẫn phải xây dựng thích hợp với địa hình, không thể áp đặt cách xây dựng ở đồng bằng. Kinh nghiệm việc xây dựng hệ thống đại thủy nông Nậm Rốm ở cánh đồng lòng chảo Điện Biên thành công được là một ví dụ.


3. Hệ thống đê điều châu thổ Bắc Bộ


Đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình là một tam giác châu, rộng đến 16.000 km2 có đỉnh là Việt Trì và đáy kéo dài từ Quảng Ninh đến Ninh Bình. Trên thực tế phù sa sông Hồng còn bồi đắp kéo dài xuống tận vùng Nga Sơn, Thanh Hóa; còn phù sa sông Thái Bình tạo nên một châu thổ hình phễu có đỉnh ở Phả Lại và từ đấy kéo dài từ Quảng Ninh đến phía Nam tỉnh Thái Bình. Toàn bộ đồng bằng được bồi đắp bằng cách lấp dần vũng vịnh trong vòng vài vạn năm sau thời kỳ biển tiến Flandri. Sông Hồng chảy đến Sơn Tây tách ra một nhánh là sông Đáy, xuống Hà Nội tách ra sông Đuống, đến Hưng Yên thì chia nước theo sông Luộc và sông Phủ Lý, xuống Nam Định, Thái Bình thành sông Đào, sông Trà Lý và sông Ninh Cơ. Sông Thái Bình phía dưới Phả Lại do ảnh hưởng của thủy triều, tách thành hai nhánh sông Kinh Thầy và sông Thái Bình, nhưng xuống đến Hải Dương, mạng lưới sông dày đặc đến mức khó lòng xem chúng bắt đầu hay kết thúc từ đâu.


Việc khai thác đồng bằng sông Hồng, theo các nhà Khảo cổ học, có thể bắt đầu từ giai đoạn Phùng Nguyên, tuy rằng cách đây 6.000 năm, theo các nhà địa chất, biển còn đang đi qua Chương Mỹ, Hà Nội, Chí Linh, Đông Triều. Phải đợi đến thời kỳ Đông Sơn, việc khai thác đồng bằng mới thực sự rõ ràng. Trong quá trình dựng nước, do yêu cầu phải thiết lập một nền nông nghiệp định canh vững chắc, dân tộc Việt Nam buộc phải chống chọi với những thử thách thực sự của thiên tai, tạo ra những đồng ruộng đảm bảo đủ lương thực cho dân, cho nước. Giao Châu ngoại vực ký đã cho thấy trước thời Bắc thuộc, ở thời vua Hùng đã có "Ruộng Lạc theo nước thủy triều lên xuống mà làm, dân khẩn ruộng đó gọi là dân Lạc". Như vậy, thời đó, tổ tiên ta đã biết một phương pháp canh tác, nay còn thấy ở vùng ven biển, cũng như ở vùng Khmer ở Campuchia (J. Delvert) và ở Nam Bộ. Ta cũng không loại trừ thời đó đã biết đắp đê để chống lụt. "Huyện Phong Khê có đê để đề phòng nước sông Long Môn". Thời đó, tổ tiên ta đã chịu biết bao cực khổ về nạn lũ lụt, việc đó được thể hiện qua câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh còn truyền tụng đến ngày nay, kết luận cuối cùng phần thắng vẫn thuộc về Sơn Tinh.


Thời Bắc thuộc, việc đê điều tuy ít được sử sách nhắc đến, nhưng chắc cũng đã được tiến hành. Đến tận thế kỷ IX, Đường thư có chép: Cao Biền bắt dân đắp đê bao quanh thành Đại La, đê dài 2125 trượng 8 thước (khoảng 8,5 km), cao 1,5 trượng (khoảng 6 m), chân đê rộng 2 trượng (khoảng 8 m). Đến thời Lý, thấy kinh thành Thăng Long bị nhiều lần ngập lụt, năm 1077, Lý Nhân Tông chủ trương đắp đê Như Nguyệt (Sông Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30 km). Năm 1073 và 1108, nhà vua cho đắp đê Cơ Xá nhằm ngăn nước lụt vào thành Thăng Long và ra chiếu toàn dân đắp đê ngăn nước lũ. Như vậy, thời Lý, việc đê điều chỉ dừng lại ở việc bảo vệ kinh thành và người dân thấy cần đâu đắp đấy để tránh lụt. M•i đến đời Trần, năm 1218, Trần Thái Tông mới xuống chiếu các lộ đắp đê Đỉnh Nhĩ, suốt từ đầu nguồn cho đến cửa biển; lại cũng năm ấy, đặt chức Hà đê chánh phó sứ coi sóc việc đê điều. Năm 1255, nhà vua lại sai bồi đắp đê vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Sách An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng mô tả: "ở bên kia sông Phú Lương (sông Hồng) đều có đê ngăn nước. Một con đê chạy từ sông Đáy (sông Phó Đáy) đến sông Hải Triều (Khoái Châu); một đê chạy dài từ sông Bạch Hạc (Việt Trì) đến các sông Lô, sông Đại Lũng, đến Cửa Mạch, Cửa Ninh (Ninh Cơ) thì dứt, mỗi bên đều cao 3 thước, rộng 4 trượng (16 mét). Nhà Trần lại còn chủ trương đắp đê ngăn nước mặn, lấn biển”.    


Nếu đời Trần chỉ đắp đê ở các dòng chính, thì đến triều Lê bắt đầu đắp thêm đê ở một số sông nhánh: Đê sông Tô Lịch, đê Chân Kim ở Hải Dương, đê sông Đáy... đặc biệt chú ý đắp đê ngăn nước mặn ở vùng ven biển còn gọi là Duyên hải đê ngoại hay đê Hồng Đức. Sang đến triều Nguyễn, công việc đê điều ngoài Bắc được lưu ý vì đê điều bị hư hỏng ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân dân, hơn nữa vua Nguyễn cũng muốn lấy lòng, củng cố uy tín bởi lòng dân vẫn còn nặng tình với nhà Lê. Năm 1803, vua Gia Long sai đắp thêm 7 đoạn đê mới và sửa sang các đê cũ cho vững chắc. Năm 1806, lại cho đắp 12 đoạn, năm 1808, 10 đoạn, năm 1810 cho khơi đào lại cửa sông Đuống. Đến thời Minh Mệnh, việc đắp đê lại được tiến hành nhiều hơn bất cứ triều đại nào. Có thể không năm nào, không có những đoạn đê được đắp mới ở khắp các trấn. Tính đến năm 1829, toàn Bắc Bộ có khoảng 238.660 trượng (khoảng 954 km) đê công tức đê lớn và đê ngăn mặn, trong số đó, triều Nguyễn trong 27 năm đã đắp 36.127 trượng (khoảng 180 km), tức là trên 15% chiều dài đê công đắp được trong vòng 800 năm. Đó là chưa kể những đoạn đê tư là loại đê nhỏ, đê đầu nguồn hay đê ngăn mặn khai hoang do dân địa phương tự làm, hoặc được Nhà nước giúp đỡ, trong 30 năm tính đến năm 1829, đã đắp được 99.069 trượng (khoảng 400 km). Các vị vua về sau lại càng chú ý công tác trị thủy không chỉ đắp đê, mà còn lưu ý việc thóat nước.


 Tuy nhiên, với trình độ kỹ thuật thời đó, việc đắp đê cơ bản là dựa trên sức lao động cơ bắp, thiếu một kế hoạch tổng thể, bao quát. Những đê tư được đắp vì lợi ích địa phương, có khi làm hại địa phương khác; những đê công thì các quan chức tham nhũng, bớt xén, nên nạn lũ lụt thời Nguyễn vẫn thường xuyên xảy ra. Hơn nữa, đắp đê không phải là một phương pháp tối ưu, có nhiều điều hại: nước sông không vào được ruộng, mà châu thổ đồng bằng Bắc Bộ địa hình khác nhau, nên có nơi khát nước, nơi úng thủy, nước chảy bên lở, bên bồi, lòng sông bị phù sa bồi phải nạo vét... Năm 1852, đã từng xảy ra một cuộc tranh luận là nên giữ đê hay phá đê, song không có được kết luận xác đáng. Phải đợi đến những thập niên đầu của thế kỷ XX mới có kết luận về việc giữ đê các con sông ở đồng bằng Bắc Bộ. Công việc đó đến nay vẫn còn phải hoàn chỉnh sau những cố gắng lớn lao của Đảng và Nhà nước ta với việc xây những đập lớn (Thác Bà, Hòa Bình và sắp tới là đập ở Sơn La...), với một hệ thống đê được tôn cao với mức lũ tối đa, những kè, cống, đập vững chắc, đảm bảo cho các tỉnh đồng bằng đủ tưới nước cho 604.000 hécta, hầu hết là cấy lúa và hoa màu.


 Nhìn lại suốt theo chiều dài lịch sử, người dân đồng bằng châu thổ Bắc Bộ phải đánh vật với nạn lũ lụt vất vả bao nhiêu, mới thấy được công lao đến ngày hôm nay. Câu chuyện Sơn tinh đánh thắng Thủy tinh là biểu tượng cho công cuộc đắp đê chống lũ của nhân dân ta từ thời vua Hùng dựng nước. Dựa vào những sự kiện được ghi trong các cuốn sử biên niên, nhóm Phan Khánh đã thống kê (tất nhiên là chưa đầy đủ), từ cuối thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, có 188 năm có thủy tai, lũ lụt, vỡ đê, mất mùa, 171 năm hạn hán, đã cho thấy tính thường xuyên của nạn lũ lụt và hạn hán. Đặc biệt trong 82 năm của thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn trị vì (1802 - 1884) có đến 52 năm thủy tai và 49 năm hạn hán. Các nhà biên niên sử cũng ghi lại những trận lụt lớn vào những năm 1076, 1121, 1236, 1270, 1491, 1630 nước ngập cả kinh thành Thăng Long, có lần tràn vào cả điện Kính Thiên sâu hơn 1 mét. Những trận lụt đó đã gây bao tai họa cho người dân, nhà trôi, mùa màng bị quét sạch, tài sản bị mất, người đói, chết, dân cư ly tán. Từ năm 1863 đến năm 1886, 18 năm liền đê vỡ, dân cư phiêu bạt, xóm làng trở thành đầm lầy.


Đến thời Pháp thuộc, tính từ năm 1900 đến 1945 có 15 năm lụt lớn ở đồng bằng sông Hồng, đặc biệt những năm 1902, 1903, 1904, 1905, 1911, 1913, 1915, 1917, 1918, 1923, 1924, 1926 lụt rất lớn, trong đó trận lũ năm 1915 đặc biệt nghiêm trọng.


Hạn hán thường xảy ra vào đầu vụ mùa và cả vụ chiêm, thiệt hại về mùa màng thường lớn, trên diện tích rộng, cũng lại không có phương tiện gì hữu hiệu ngoài việc cầu đảo, dân cư nhiều người chết đói. Các tác giả nhóm Phan Khánh dẫn báo Tương Lai Bắc Kỳ ngày 14-8-1895 ghi rõ: "Vùng phụ cận Hà Nội, các làng, các chợ, các đường đầy những người nghèo khổ, những ăn mày. Họ không còn gì để ăn, thôi thúc vì cái đói, rất nhiều người đã bỏ nhà cửa ra đi sau khi đã bán hết và đi ăn xin nhờ may rủi, đến kiệt sức, họ ng• xuống một góc đường vì đói". Bài báo còn mô tả nhiều cảnh thê thảm: bán con, bán đồ thờ và chết đói. Cùng với sự tàn ác của giặc Nhật - Pháp, với nạn lụt 1945, hai triệu người dân đồng bằng Bắc Bộ đã chết đói.


Phải nói rằng, việc trị thủy và làm thủy nông là việc hàng đầu mà mọi người, mọi chính quyền phải quan tâm. Hiện nay, những tư liệu về việc thủy lợi tiến hành trước thiên niên kỷ II khi nước nhà giành được độc lập tự chủ còn thiếu, nên ta chỉ biết rõ được một vài ghi chép lẻ tẻ qua các bộ sử Trung Hoa. Các triều đại từ Ngô, Đinh, Tiền Lê đến Lý, Trần, Lê, Nguyễn, công tác thủy lợi đều được triều đình chú ý và được phác thảo trong cuốn sách kể trên. Công trình đê điều được các tác giả Pháp đánh giá rất cao, P. Gourou đã viết khi nhìn hệ thống đê điều “Làm ta nhớ lại những công trình tập thể to lớn mà con người đã thực hiện được, như những Kim tự tháp Ai Cập, đền tháp Angkor, và lại là công việc chính của người nông dân". Cho đến ngày hôm nay, hệ thống đê điều ở đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là một trong những hệ thống ngăn lũ to lớn nhất trên thế giới. Các đê được đắp trên nền những gờ sông tự nhiên được cấu tạo dọc hai bên bờ, đến nay có chiều dài 1665 km . Mặt cắt của đê có hình thang, chân đê rộng từ 30 – 50 m, mặt đê từ 6 – 10 m. ở Việt Trì, đê được tôn cao đến 18 m, ở Hà Nội trên dưới 14 m, càng ra phía biển đê càng thấp đi, nhưng cũng có nơi cao đến 2.5 m. Khối lượng đất, đá dùng để đắp đê có thể lên đến hàng trăm triệu mét khối  và qua nhiều thế hệ trải hàng ngàn năm xây đắp nên. Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa rất quan tâm đến việc đê điều, đã xây dựng được những công trình thủy lợi có quy mô vùng như Bắc Hưng Hải, những công trình quy mô quốc gia (đập Thác Bà, đập Hòa Bình, sắp đến đập Sơn La), cũng như luôn tu bổ nâng cao đê, nên lũ lụt tuy vẫn còn là mối đe dọa thường xuyên, nhưng không còn hiện tượng vỡ đê như trước (trừ vụ sạt lở đê ở Gia Lâm năm 1971). Cho đến nay châu thổ Bắc Bộ đã có 30 hệ thống tưới tiêu chính đảm bảo cho 7 tỉnh đồng bằng có được 604.060 hécta, được cung cấp nước đến tận các thửa ruộng ngày càng manh mún, tổng số lên đến hàng chục triệu.


Từ chỗ sinh sống trong vùng đồng bằng còn lầy lội, gần cạnh vùng chân núi, con người đã mở rộng dần các vùng đất cao bằng cách phát quang rừng rậm, san lấp các chỗ trũng, tạo nên nơi cư trú và những mảnh đất trồng trọt mới. Họ đắp những con đê quây quanh bảo vệ ruộng đồng, sau nối dần và mở rộng đất canh tác bằng cách tạo nên những con đê dọc hai bên bờ sông kéo dài từ vùng đỉnh châu thổ về đến biển. Con sông, như Lê Bá Thảo viết, hình như bị đóng đai giữa các con đê. Một phần khá lớn phù sa bồi lên tạo thành những b•i, những doi chạy dài thành những dải ven sông ở ngoài đê, có chỗ rộng đến 2 km. L•nh thổ bên trong đê chiếm phần lớn đồng bằng, từ lâu đã không được bồi tụ phù sa theo chiều cao và chiều ngang nữa. Nên ở đây, địa hình thấp và có nhiều ô trũng nghiêng từ tây bắc (phía đỉnh châu thổ Việt Trì) xuống đông nam (phía biển), rõ rệt nhất là vùng Hưng Yên và vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Có thể nói, cho đến ngày nay, đồng bằng châu thổ sông Hồng vẫn còn đang được hoàn chỉnh. Nói như P. Gourou là "Nó đã chết trong tuổi thanh xuân của nó". Điều đó giải thích tại sao vùng đồng bằng sông Hồng có nhiều chỗ cao, chỗ trũng.


Hệ thống đê điều dọc sông Hồng và các nhánh của nó khá hoàn chỉnh, nhưng đối với hệ thống đê điều dọc sông Thái Bình thì không hoàn chỉnh bằng. ở vùng ven biển, từ Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, do lượng phù sa hằng năm chảy ra biển rất lớn làm cho rìa đông nam của châu thổ Bắc Bộ tiến ra biển mỗi năm được đến 100 m. Người dân trợ lực vào quá trình này thêm bằng cách quai thêm các đê biển ngay trên các phần đất còn ngập mặn. Công việc đắp đê lấn biển đã được Nhà nước lưu ý từ thời Hồng Đức. Con đê chạy từ Yên Mô đến Phụng Công đắp năm 1471, cho thấy cách đây 500 năm, bờ biển còn ở sâu trong đất liền 25 km. Thời Nguyễn công trình lấn biển và cải tạo tự nhiên của Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Tiền Hải thật đáng khâm phục. Đó cũng là việc đang được Nhà nước ta chú ý với việc đắp đê lấn biển ở vùng đông nam châu thổ nằm giữa sông Hồng và sông Thái Bình. Trong vòng 50 năm qua, con người đã lấn biển được 5,7 km theo một chiều dài từ Hải Phòng đến Ninh Bình, đã cải tạo đất mặn không những bằng cách lợi dụng nước thủy triều để đưa nước ngọt vào các con kênh mương rửa mặn cho đồng ruộng, mà còn biết lựa chọn các cây trồng thích hợp để cải tạo đất. Những con đê biển thường thấp hơn đê ven sông, nhưng phải đắp rất chắc để ngăn được sóng biển nhiều khi rất mạnh trong những ngày giông b•o. ở đây, việc nuôi tôm cá nước lợ, đánh cá cũng góp phần nuôi sống con người.


Nhờ hệ thống đê điều cùng với việc cải tạo giống cây trồng, phân bón... châu thổ đồng bằng Bắc Bộ đã nuôi sống khoảng 20 triệu người và từ năm 1992 còn có thể xuất khẩu lúa. Tuy nhiên, trước đây do trình độ khoa học công nghệ chưa phát triển, nên cũng có những hạn chế của nó, đặc biệt là một vùng rộng lớn trong đê không được phù sa bồi đắp, dòng sông phải nạo vét. Nhờ nghề trồng lúa nước, với việc dùng phân xanh và phân chuồng, trong đó có phân người, đã cho ta một loại đất khác hẳn vùng đất b•i ngoài đê. Lại thêm, việc chống hạn khá gay gắt, lũ lụt thường cướp trắng công sức con người, thường xuyên năm nào cũng có dưới thời phong kiến, vài năm một lần dưới thời Pháp thuộc và chỉ hạn chế được từ những năm chống Mỹ cứu nước đến nay.


Với việc phát triển thủy nông: đào sông, mương kênh, đắp đập, xây cống, nạo vét lòng sông v.v... với hệ thống đê điều ở đồng bằng Bắc Bộ, công trình thủy lợi đã được giải quyết cơ bản trong tinh thần cảnh giác với lũ lụt và hạn hán. Thành công ngày nay có được là nhờ truyền thống đắp đê điều của cha ông mà theo các tác giả người Pháp, đến thời Tự Đức đã hoàn chỉnh được đến 80% và có thể nói là tiếp tục được hoàn chỉnh trong thời đại chúng ta ngày nay.


Hệ thống đê điều nhằm mục đích chủ yếu là trị thủy, ngăn lũ lụt. Việc phát triển thủy nông, tức việc đưa nước, giữ nước ở ruộng lại là việc cần thiết bậc nhất với việc trồng trọt cây lúa nước. Nếu so với miền chân núi hay thung lũng, ta thấy ở đáy dòng nước chảy từ từ với một độ nghiêng không lớn, khoảng cách giữa thửa ruộng trên và thửa ruộng dưới không nhiều. ở đây không có hiện tượng nước chảy tràn bờ từ mương qua các mảnh ruộng bậc thang xuống suối, mà nước dường như đứng im hay chảy chậm. Vào mùa mưa, diện tích được tưới nước rộng hơn so với mùa khô, nhưng lượng nước cũng không nhiều vì để tràn bờ.


Lượng nước được điều chỉnh bằng hệ thống sông đào, mương rạch từ các con sông lớn. Sông đào thường thấy nhiều ở vùng phía đông bắc và phía tây nam của đồng bằng được tiến hành từ thời xa xưa, rất có thể từ thời vua Hùng dựng nước như Hậu Hán thư đã mô tả. Đến thời kỳ độc lập tự chủ, việc đào sông, kênh rạch được các triều đình lưu ý không chỉ ở đồng bằng Bắc Bộ, mà còn tập trung đào sông, kênh, rạch ở miền Thanh Hóa, Nghệ An, các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ và dưới thời Nguyễn là đồng bằng sông Cửu Long. Theo như nhóm Phan Khánh, suốt thời kỳ từ Lý, Trần đến Lê, Nguyễn, triều đình tập trung khai thông sông Tô Lịch để thuận tiện cho việc tưới tiêu cho khu vực trồng lúa xung quanh thành Thăng Long. Ngoài ra còn cho đào sông Bình Lỗ (Thái Nguyên), vét sông Đông Ngàn (sông Đuống) và sông Cà Lồ v.v... Điều đặc biệt đáng chú ý là các triều đình đều chú ý đến việc quy hoạch thủy nông các xã và hướng dẫn cách chế và điều hành xe nước vào năm 1759.


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info