12.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (3)

+ Nguyễn Huệ thu phục Bắc hà – Bè lũ Lê Chiêu Thống tìm đường bán nước


            Vũ Văn Nhậm vốn là tướng của chúa Nguyễn, bị quân Tây Sơn bắt được năm 1786 ở Gia Định. Nhậm xin hàng và được Nguyễn Nhạc mến tài, gả con gái và phong chức tước. Khi Nguyễn Huệ đánh Phú Xuân, Nhậm được Nguyễn Nhạc cử đi theo; sau đó Nhậm theo luôn Nguyễn Huệ ra Bắc và được Huệ cho ở lại cùng với Nguyễn Văn Duệ giữ đất Nghệ An.


Trong cuộc xung đột giữa Nhạc và Huệ, tuy bề ngoài Nhậm tỏ vẻ trung lập, nhưng trong lòng vẫn nuôi một mưu đồ. Sau khi diệt xong Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm thấy đã đến lúc thực hiện mưu đồ đó: gây dựng riêng cho mình một giang sơn! Càng ngày Nhậm càng hống hách với kẻ dưới quyền, tự ý lập Lê Duy Cẩn làm giám quốc, thực tế chỉ là bù nhìn. Ý đồ đen tối của Nhậm không lọt qua mắt của Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân, những tướng tin cậy của Nguyễn Huệ(9).


Ngô Văn Sở dò ý Nhậm: “Tôi xem mặt mũi Sùng Nhượng công (tức Lê Duy Cẩn) như thế thì sai khiến được ai. Từ xưa đến nay, thiên hạ không phải là vật riêng của nhà nào. Nếu có thể lấy được thì nên lấy đi, cần gì phải mượn một anh bơ vơ trông nom việc nước để làm bù nhìn”. Nhậm nói: “Lòng người Bắc hà còn nhớ nhà Lê, không thể không tạm theo nguyện vọng của mọi người. Các ông chỉ cần biết đánh khoẻ mà thôi, còn việc đó tôi đã có chủ ý”. Ngô Văn Sở im lặng, sau đó nói với Phan Văn Lân: “Tiết chế (tức Nhậm – được Nguyễn Huệ cho giữ chức tiết chế khi ra diệt Chỉnh) khinh người quá lắm. Hắn có tài đức gì mà dám coi ta như bọn lính. Xem từ khi vào thành đến giờ, hắn đã làm được những việc gì? Hắn bắt dân đào hào đắp lũy và phò Lê Duy Cẩn làm giám quốc, đều là sắp sẵn cái mưu làm phản để tranh giành với ta. Hắn không biết lấy giặc Chỉnh làm gương, lại còn định bắt chước, thì cho hắn theo Chỉnh để răn kẻ khác”. Sau đó Ngô Văn Sở gửi mật thư kể hết hành vi của Nhậm cho Nguyễn Huệ biết.     


            Được thư của Ngô Văn Sở, Nguyễn Huệ vội vàng đem quân đi gấp ngày đêm ra đến Thăng Long giữa canh tư, vào thẳng dinh của Vũ Văn Nhậm, sai võ sĩ giết chết ngay tại chỗ (5-1788). Sau đó, Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở lên thay Nhậm và vẫn để Lê Duy Cẩn làm giám quốc, nhưng thực ra chỉ là “viên đề lại trông coi việc nước” như người ta thường nói.


            Nhiều quan lại, sĩ phu tiến bộ ở Bắc hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, nguyễn Thế Lịch, Vũ Huy Tấn v.v… được Nguyễn Huệ trọng dụng, phong cho chưc tước mới. Sau khi giao công việc cho Ngô Văn Sở ở Bắc hà, Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân. Từ đó, Bắc hà được sáp nhập hẳn vào vùng đất cai quản của Nguyễn Huệ.


Trước đây, khi Vũ Văn Nhậm ra chiếm Thăng Long, bè lũ Lê Chiêu Thống trốn sang Kinh Bắc, định nương nhờ trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước, nhưng bị Thước “đóng cửa thành, cáo bệnh không ra đón tiếp”, lại còn tung thủ hạ chặn đường cướp bóc những kẻ đi theo vua, đuổi theo tước áo bào của vua, “vua rơi nước mắt phải cởi áo trao cho chúng”.


Sau khi Chỉnh bị bắt, Chiêu Thống tìm đến sống nhờ bọn thổ hào đang chiêu mộ “quân cần vương” ở vùng Hải Dương. Nhưng quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở chỉ huy đã đánh tan những đám quân “cần vương” yếu ớt này. Lê Chiêu Thống lại trốn chạy vào Sơn Nam, Thanh Hóa, rồi lại trở ra Kinh Bắc ẩn náu ở vùng Từ Sơn, Phượng Nhãn.


            Trong bước đường cùng, Chiêu Thống sai bọn Lê Duy Đản và Trần Danh Án sang cầu cứu nhà Thanh, mưu đồ dựa vào quân cướp nước để bảo vệ quyền lợi của một dòng họ đã mục ruỗng đến tột độ. Trước đó, khi rời khỏi thành Thăng Long, Chiêu Thống đã sai bọn Lê Quýnh đưa mẹ và con lên Cao Bằng rồi vượt biên giới trốn sang Quảng Tây cầu xin quan lại nhà Thanh che chở.


 


            Sau 17 năm (1771-1788) kể từ ngày bùng lên ở Quy Nhơn, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn đã nhanh chóng tiêu diệt các thế lực thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê chia cắt đất nước gây nội chiến tương tàn, thủ tiêu những trở ngại căn bản trên con đường khôi phục quốc gia thống nhất.


            Để có một sự nhìn nhận gần với sự thật hơn về vấn đề chia cắt và khôi phục thống nhất đất nước trước và sau phong trào Tây Sơn, có lẽ cần điểm qua tình hình xã hội Việt Nam ở các thế kỷ XVII-XVIII.


Trải hơn 200 năm, dưới sự thống trị của nhà Mạc rồi Trịnh Nguyễn phân tranh, dân tộc Việt Nam phải sống một thời gian dài trong cảnh phân chia và chiến tranh tàn khốc. Thời Nam-Bắc triều, suốt một vùng Thanh Hóa, Nghệ-Tĩnh và bắc Bình-Trị-Thiên luôn năm là chiến trường, làng xóm mùa màng bị tàn phá nặng nề, nhân dân cơ cực, điêu linh. Chiến tranh Trịnh-Nguyễn càng tăng thêm những thảm họa đó, lãnh thổ thống nhất càng bị phá vỡ nghiêm trọng.


 


Giới hạn sông Gianh được dựng lên một cách giả tạo cản trở mọi hoạt động giao lưu kinh tế đang đòi hỏi được xúc tiến mạnh mẽ. Đàng Ngoài có nhiều mỏ đồng, hàng năm bán cho thuyền buôn nước ngoài, trong khi ở Đàng Trong phải mua đồng của Nhật Bản, Hà Lan. Nhiều sản phẩm dồi dào của Đàng Trong như hạt tiêu, đường, vàng, nhất là lúa gạo không có điều kiện trao đổi với Đàng Ngoài, rút cục làm lợi cho thương nhân ngoại quốc. Những hoạt động trao đổi lén lút giữa thương nhân và nhân dân hai miền phản ánh nhu cầu giao lưu cấp thiết trong phạm vi toàn quốc.


 


 Thực tế đau xót và căm hờn nung nấu ý chí các tầng lớp bị trị đánh đổ các thủ phạm của phân tranh để dập tắt binh lửa, gồm giang sơn về một mối, để lưu thông được dễ dàng, để thành qủa lao động khỏi bị phá hoại. Đó là một yêu cầu khách quan cấp thiết của xã hội Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XVIII, cũng là sứ mạng lịch sử đặt ra cho phong trào Tây Sơn. Nguyễn Huệ, lãnh tụ tiêu biểu của phong trào, đã ý thức sâu sắc nhiệm vụ trọng đại đó.


 


Thắng lợi của phong trào Tây Sơn quật đổ các chính quyền thối nát Nguyễn-Trịnh-Lê đã giải quyết được một trở ngại lớn trên con đường phát triển của xã hội, thực hiện xuất sắc một sứ mạng lịch sử. Tuy trên thực tế, phong trào Tây Sơn chưa lúc nào nắm chắc được toàn bộ đất nước, nhưng hoạt động của nghĩa quân có tác động sâu sắc suốt từ Nam chí Bắc, thể hiện rõ nét vai trò đảm đương vận mệnh dân tộc trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.


 


Trong lúc đó, Nguyễn Ánh sống sót trước cơn bão táp của nhân dân, ra sức tập hợp những lực lượng thù địch với quần chúng, tiến hành cuộc chiến tranh điên cuồng chống lại những thành quả đấu tranh của cả dân tộc.


 


Nhằm cứu vãn quyền lợi của một dòng họ đã hết vai trò lịch sử, Nguyễn Ánh mang quân Xiêm về dày xéo đất nước, tàn hại nhân dân miền Gia Định. Với thất bại nhục nhã của quân Xiêm ở Rạch Gầm-Xoài Mút, Nguyễn Ánh quay sang cầu cứu thực dân Pháp, ký hiệp ước Versailles, mưu toan cắt đất đai và bán rẻ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc cho tư bản Pháp, dấn sâu hơn nữa vào sai lầm và tội lỗi đối với Tổ quốc.


 


 Thậm chí sau đó, giữa lúc quân Thanh kéo sang xâm lược nước ta, Nguyễn Ánh còn sai tướng mang thư và 50 vạn cân gạo dâng cho nhà Thanh, hòng góp phần làm thất bại cuộc kháng chiến của nhân dân.


           


            Rõ ràng là vận mệnh dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XVIII bị đe dọa từ nhiều phía: cả bên trong lẫn bên ngoài, cả phía Bắc lẫn phía Nam, kể cả thực dân tư bản phương Tây đang rình chờ cơ hội. Chính là phong trào Tây Sơn đã dập tắt được mọi nguy cơ đó, phá tan các cuộc ngoại xâm ở Bắc và ở Nam, bảo vệ độc lập dân tộc.


 


            Vậy thì, một khi giải quyết được tình trạng chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài do các tập đoàn Trịnh, Nguyễn gây ra hàng thế kỷ và bảo vệ xuất sắc nền độc lập dân tộc trước mọi nguy cơ ngoại xâm, phong trào Tây Sơn đã tạo được những điều kiện cơ bản cho công cuộc khôi phục thống nhất đất nước. Gọi là “cơ bản”, vì công việc chưa được thực hiện hoàn chỉnh, nhưng những nhiệm vụ bức xúc nhất mà lịch sử đề ra thì phong trào đã hoàn thành. Gọi là “cơ bản” tức là thừa nhận tình trạng chưa trọn vẹn, nhưng không có nghĩa là “chỉ mới bước đầu rồi bỏ dở” hoặc chỉ đơn giản là “dọn đường” cho việc khôi phục thống nhất, như nhận định của một số tác giả (10).


 


            Tiếc rằng những hạn chế rất quan trọng về phía Tây Sơn (sự bất hòa giữa anh em Tây Sơn, tiếp đến cái chết đột ngột của Quang Trung rồi sự suy thoái nhanh chóng của triều đình Cảnh Thịnh…) làm cho những điều kiện cơ bản nói trên không tiếp tục phát huy được tác dụng để củng cố sự nghiệp thống nhất đất nước trên một nền tảng kinh tế-xã hội thực sự vững chắc.


*           Xuất phát từ một cuộc đấu tranh chống áp bức cường quyền, từ sau chiến thắng 50.000 quân xâm lược Xiêm đầu năm 1785, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn đã bước đầu mang thêm những nhân tố của một phong trào cứu quốc, do vậy thêm khả năng đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp xã hội chống mọi bè lũ bán nước và cướp nước. Những nhân tố dân tộc đó sẽ được phát huy rực rỡ với cuộc đại phá ngót 30 vạn quân Thanh.


CHÚ THÍCH


(Chương Một)


            (1)  TRƯƠNG PHÚC LOAN


Theo “di chiếu” thì Nguyễn Phúc Luân được nối ngôi. Nhưng Trương Phúc Loan thấy Phúc Luân là người đã lớn tuổi, thông minh và quả quyết, sợ không điêu khiển được, nên mạo chiếu bỏ ông vào ngục và đổi tờ di chiếu, lập người con thứ 16 của chúa Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên ngôi (vì Loan là anh em họ của mẹ Thuần).


            Ngày 20-2 năm At Dậu (1765), Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát qua đời, trước đó đã có di chú truyền ngôi chúa cho Chưởng Vũ (tức Nguyễn Phúc Cổn, con trai thứ hai của Phúc Khoát và là thân phụ của vua Gia Long sau này), vì truởng tử Chương và kế tử Hạo đều chết trẻ. Nhưng viên thái giám (không rõ tên cùng Trương Phúc Loan âm mưu đổi di chúc mà lập Nguyễn Phúc Thuần mới 12 tuổi lên làm vị chúa thứ 9 (Tham khảo Lê Nguyễn Lưu – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


            + Theo thương gia người Pháp Pierre Poivre có mặt tại Đàng Trong bấy giờ: “Vị quyền thần này mỗi năm có thể thu lợi được bốn, năm vạn quan về việc kiểm soát tàu bè… Ong ta giàu đến nỗi sau một vụ nước lụt, vàng của ông đựng trong hòm đem phơi bày ra khắp cả sân mới hết. Bản thân Pierre Poivre cũng đã bị Trương Phúc Loan quỵt một số tiền khá lớn (Phan Thuận An – Mâu thuẫn xã hội ở Thuận Hóa-Phú Xuân trước năm 1786 - Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


            (2)  THỰC TRẠNG XÃ HỘI ĐÀNG TRONG


+ Tờ sớ của Nguyễn Cư Trinh: Năm 1750, Nguyễn Cư Trinh được bổ làm tuần phủ Quảng Ngãi; một năm sau (1751), ông dâng sớ tâu về “tình trạng tật khổ của dân gian”: “Dân là gốc của nước, gốc không bền vững thi nước không yên. Ngày thường chẳng dùng ân huệ mà cố kết lòng dân, đến khi có việc thì nương tựa vào đâu? Trộm nghĩ thói tệ chất chứa trong dân gian đã nhiều, nếu cứ thủ thường theo cũ, không tùy thời thêm bớt, lập ra kỷ cương, thì một ấp cũng chẳng làm được, huống là một nước. Nay có ba việc sinh tệ cho dân là nuôi lính, nuôi voi và nộp tiên án, ngoài ra còn nhiều việc nhũng phí không kể xiết được” (Thực lục tiền biên).


+ Nhận định của GS.Phan Huy Lê: “Nước Đại Việt sau thời kỳ phục hưng dân tộc thành công lập nên kỷ nguyên văn minh Đại Việt thời Lý, Trân, Lê sơ, từ thế kỷ XVI bị phân liệt với những cuộc nội chiến kéo dài giữa Lê-Mạc rồi Trịnh-Nguyễn. Đất nước vẫn tiếp tục phát triển với những thành tựu khai hoang ở Đàng Trong, những bước phát triển của kinh tế hàng hóa và hưng thịnh của đô thị thế kỷ XVII, nhưng tình trạng phân liệt và nội chiến cũng gây ra không ít hậu quả nặng nề cho đời sống của nhân dân. Từ khoảng giữa thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến suy đồi bộc lộ những mâu thuẫn xã hội gay gắt và từ đó bùng lên ngọn lửa chiến tranh nông dân mà đỉnh phát triển cao nhất là phong trào Tây Sơn” (Tác động và ảnh hưởng của Phong trào Tây Sơn trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XVIII – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


            + Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, “có thể nói hơn 200 năm từ thời chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) là thời kỳ các chúa Nguễn gầy dựng được một thế lực vững mạnh ở Đàng Trong va tạo ra được một bộ mặt xã hội tương đối ổn định, ít nhất là ở Phú Xuân. Nhưng cái trật tự của xã hội được tổ chức theo kiểu Nho giáo ấy đã bị xáo trộn, chao đảo ngay sau cái chết của chúa Nguyễn Phúc Khoát vào năm 1765. Tư đó, ngôi nhà của các chúa Nguyễn như bị dột từ trên nóc dột xuống và mối mọt bắt đầu gậm nhắm từ trong ra ngoài…


            “Ngay từ khi mới vào trấn thủ Thuận Hóa, các chúa Nguyễn đã cố gắng xây dựng một thế lực đủ mạnh để thực hiện chủ trương diệt Trịnh phù Lê. Nhưng sau khi cuộc nội chiến Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài bất phân thắng bại, các chúa Nguyễn có tham vọng thiết lập ở Đàng Trong một chính quyên biệt lập để hùng cứ một phương. Đến giữa thế kỷ XVIII, tham vọng đó đã được bộc lộ rõ hơn qua sự kiện chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương ở Phú Xuân, kiến thiết Thủ phủ ở đây thành ra một Đô thành tráng lệ, tổ chức lại bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, thay đổi phong tục tập quán và y phục của nhân dân cho khác với Đàng Ngoài…”


            “Theo con số thống kê của Lê Qúy Đôn, thì vào năm 1776 ở Thuận Hóa… mỗi dầu người có đến hơn 1,2 mẫu đất đang canh tác trồng trọt. Như vậy, đáng lẽ lúa gạo phải dư thừa trên thị trường, nhưng cũng theo Lê Qúy Đôn, “giá gạo đã thật đắt mà giá ruộng cũng lên cao. Nhân dân ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang vì việc cầm ruộng và chuộc ruộng rồi sinh ra những việc kiện thưa mãi mãi…” (Mâu thuẫn xã hội ở Thuận Hóa-Phú Xuân trước năm 1786 - Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


            “Nhân dân Thuận Hóa-Phú Xuân lâm vào tình trạng khan hiếm lương thực, thực phẩm rất trầm trọng:


                        Cơ hàn cực nỗi muôn dân


Gạo mua bạc nén cá cân tiền đồng


                        Một ngày ví bẵng ba đông


                        Muôn ngàn cũng hết, tay không thế nào


                        Gạo ăn cũng ví trời cao


                        Một tiền một cáp gạo sao cho đầy


                        Nghĩ nào ăn đắng nuốt cay


Năm tiền chưa đặng đơm đầy bát cơm…


Đoái trông thiên hạ mười phần


Cơ hàn hết chín giàu ăn mấy người…


            (Hoàng Quang – “Hoài Nam khúc”)


            (Mâu thuẫn xã hội ở Thuận Hóa-Phú Xuân trước năm 1786 - Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


(3)   TÂY SƠN THƯỢNG ĐẠO


            Tây Sơn ở thế kỷ XVIII bao gồm cả phần đất phía đông và phía tây đèo An Khê (còn gọi là Đèo Mang, tiếng Bana có nghĩa là “cổng”hay “cửa”). Vùng đất phía tây rộng lớn, rừng rậm núi cao hiểm trở được gọi là Tây Sơn Thượng đạo (TSTĐ), bao gồm phần lớn diện tích 3 huyện An Khê, K’Bang và Konchoro của tỉng Gia Lai ngày nay. Căn cứ TSTĐ rộng khoảng 35km và dài khoảng 50km. Từ Quy Nhơn lên TSTĐ chỉ có một con đường duy nhất.


            Theo lời kể của các cụ Huỳnh Ngọc Chương và Bùi Meo (tổ tiên đã lập nghiệp tại An Khê được 6 đời), tại An Khê có 13 di tích về phong trào Tây Sơn: 1/ “An Khê đình” và “An Khê trường”, đến nay nhân dân vẫn tới đây tế lễ Tây Sơn tam kiệt vào ngày 9 và 10-2 âm lịch; 2/ Cách “An Khê trường khoảng 300m là một bãi đất cao có tên “Gò Chợ” với ngọn núi Mò O ở phía trước là nơi dựng chòi canh.; 3/ Dấu vết thành đất hình 7 cạnh ở thôn An Lũy, tường thành dày 3m, chu vi ngót 2000m, 4/ Khu vườn cam ở xã Vĩnh Kim, khoảng 10 ha, hiện còn nhiều cây cam cổ thụ, có gốc to người ôm không hết; 5/ Cánh đồng Cô Hầu (ở xã Tú An ) là vợ lẽ Nguyễn Nhạc, con gái một tộc trưởng người Bana chỉ huy nghĩa quân khai phá sản xuất lương thực; 6/ Hòn Mộ Điểu, có vọng gác theo dõi kẻ địch và thú dữ phá hoại cây trồng, về sau đổi tên là hòn Hoàng Đế; 6/ Chân đèo An Khê có “hòn Yến”, “hòn Lãnh Lương” (nơi phát lương và khao quân) v.v…(Tham khảo: Anh Minh – Cần khôi phục lại Tây Sơn Thượng Đạo – Tạp chí Xưa và Nay, số 100, tháng 9-2001, tr.25).


THIÊN THAI TỰ (THIÊN TÔN TỰ)


Ở thôn Hòa Lạc, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn ngày nay, có lịch sử lâu đời ngót 8 thế kỷ qua… Ngôi chùa tuy âm thầm, tĩnh lặng, nhưng là một trung tâm đào tạo võ nghệ lớn trong vùng. Các trường lớp dạy võ của Thiên Thai Tự mở được khoảng 5 năm thì phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ… Nhiều môn sinh của chùa này về sau trở thành danh tướng trụ cột của nhà Tây Sơn: Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Lê Văn Hưng, Phan Văn Lân…(Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.13).


(4)  QUÊ HƯƠNG VÀ TỔ TIÊN ANH EM TÂY SƠN


+ Theo Tây Sơn thủy mạt khảo: “Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ trước là người xã Thái Lão thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông tổ hai người vào năm Thịnh Đức vua Thần Tông nhà Lê bị quân chúa Nguyễn bắt được đưa về an trí ở ấp Nhất, xã Tây Sơn thuộc Quy Nhơn. Thân sinh của hai người là Phúc lại dời về ấp Kiên Thành, sinh được ba con trai Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Nguyễn Văn Nhạc làm nghề buôn bán trâu không…”


+ Theo Thông báo của Bảo tàng Quang Trung ở Bình Định: qua hai đợt khảo sát các năm 1990 và 1999, đã phát hiện khu lăng mộ và đền thờ ông bà Hồ Phi Phúc (song thân của anh em Tây Sơn) ở xã Bình Thành, huyện Tây Sơn (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 + Về quê mẹ nhà Tây Sơn -Theo tư liệu của Bảo tàng Quang Trung: đến đời Hồ Phi Phúc lấy vợ là Nguyễn Thị Đồng rồi chuyển cư về quê vợ ở làng Phúc Lạc thuộcTây Sơn hạ đạo “ký ngụ tại quê vợ, quê mẹ” (nay là Phú Lạc, Bình Thành, Tây Sơn, Bình Định). Dấu vết vườn, nhà bà Nguyễn Thị Đồng nay không còn , chỉ còn lưu truyền những ký ức về địa danh “Gò Lăng” (?) (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


+ Tham khảo Vũ Ngọc Liễn (“Lăng mộ cổ dòng họ Nguyễn Tây Sơn” – Tạp chí Xưa và Nay, số 38B/4-1997): Cuối tháng 4-1990, ở Phú Lạc tìm được một tấm bia lạ… Tấm bia mộ nặng khoảng 2 tạ. Bề mặt tấm bia có 3 dòng chữ:


     Chính giữa tấm bia chạm chìm một hàng gồm 15 chữ lớn “Việt Cố Hoàng Hiển Tổ Khảo Cang Nghị Mưu Lược Minh Triết Công Chi Lăng” (dịch nghĩa: Lăng mộ ông nội đã qua đời của nhà vua nước Việt; ông là một vị minh triết, mưu lược, cương nghị [từ ngữ của nhà vua phong tặng].


     Dòng chữ nhỏ chạm chìm phía phải: “Tuế Thứ  Kỷ Hợi Trọng Xuân Cốc Nhật” (Ngày lành tháng hai năm Kỷ Hợi).


     Dòng chữ nhỏ chạm chìm phía trái: “Ngự Chế” (Nhà vua lập bia).


Ở Tây Sơn còn tương truyền một địa danh là “Gò Lăng”. Phạm vi của khu vực Gò Lăng rất rộng, không chỉ ở địa phận Phú Lạc mà bao gồm nhiều nơi khác trong xã Bình Thành, mặc dầu không ai biết lăng mộ hoặc lăng tẩm ở đâu, ngoại trừ cái miếu cổ nhỏ bé gọi là “miếu Gò Lăng”.


Khảo chứng gia hệ nhà Tây Sơn, cho thấy: Ong Hồ Phi Long người đầu tiên từ xứ Nghệ vào Bằng Châu (Bình Định) hôn phối với bà họ Đinh (người Bằng Châu). Ong bà sinh hạ được một trai là Hồ Phi Tiễn, ông Hồ Phi Tiễn khôn lớn, lên Phú Lạc buôn trầu hôn phối với bà Nguyễn Thị Đồng (con một của gia đình giàu có ở Phú Lạc) rồi cất nhà ở luôn bên vợ. Ong Hồ Phi Tiễn và bà Nguyễn Thị Đồng cũng chỉ sinh hạ được một trai là Hồ Phi Phúc, về sau đổi thành Nguyễn Phi Phúc (theo họ mẹ – căn cứ tài liệu của Quách Tấn). Ong Nguyễn Phi Phúc hôn phối với bà Mai thị Hạnh (tức bà tổ cô của Mai Xuân Thưởng) vẫn tiếp tục nghề buôn trầu, làm nhà ở Kiên Mỹ (tức khu vực Bảo tàng Quang Trung ngày nay), sinh hạ được ba trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ….


Khảo chứng niên đại sự kiện nhà Tây Sơn về năm Kỷ Hợi (1779): Sau khi lên ngôi, Nguyễn Nhạc lo việc đền ơn đáp nghĩa, tặng phong tướng sĩ, Nguyễn Huệ được phong Long Nhương tướng quân; đồng thời lo xây đắp mồ mả cho tổ tiên phía nội và phía ngoại (lúc này Nguyễn Nhạc chừng 35, 36 tuổi)….


Tóm lại, có thể khẳng định: Ngôi mộ cổ ở Phú Lạc là lăng mộ cụ Nguyễn Phi Tiễn – ông nội của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Lăng mộ này do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc xây dựng vào năm 1779, sau khi lên ngôi hoàng đế chừng mấy tháng…


THẦY GIÁO HIẾN: 


+  Vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh, tại Thanh Hóa có một gia đình họ Trương, một thổ hào giàu có nhất vùng. Trương Văn Hạnh (dòng dõi họ Trương, cùng họ với Trương Phúc Loan) phản đối kịch liệt sự lộng quyền của Phúc Loan. Là người giao du rộng, trọng nghĩa khinh tài, ông tập hợp được nhiều môn khách, trong đó có Lý Nguyên Hiến là người thông minh uyên bác, võ nghệ siêu quần nên được ông Hạnh qúy trọng, mời làm gia sư, coi nhau như anh em ruột thịt. Sau đo Trương Văn Hạnh bị Trương Phúc Loan giết chết, ông Hiến trốn vào phương Nam, đến làng An Thái (huyện An Nhơn, Bình Định), đào tạo được nhiều môn sinh, trong đó có ba anh em Tây Sơn.


Trong dân gian vùng Kiên Mỹ truyền rằng: nhờ sự giúp đỡ của một gia đình họ Phan giàu có (buôn trầu), ông Hiến có được một ngôi trường nhỏ ở Thắng Công (gần Bến Trường Trầu), từ đó có tên Giáo Hiến. Nguyễn Huệ là người xuất sắc trong số môn đệ tài giỏi của Giáo Hiến (Tham khảo Trần Đình Thân – Huyền thoại về thầy giáo Hiến – Tạp chí Xưa và Nay, số 104/11-2001).


 


+ Trương Văn Hiến là anh em thúc bá với Trương Văn Hạnh, nguyên quán châu Hoan (Hà Tĩnh), vào Phú Xuân từ thời các chúa Nguyễn lập nghiệp ở Đàng Trong. Học vấn uyên bác, giỏi chính sự, được chúa Nguyễn Phúc Khoát tin dùng. Trương Phúc Loan chuyên quyền, Văn Hạnh chống lại và bị giết. Trương Văn Hiến bị truy lùng, trốn chạy vào Quy Nhơn, giấu tên họ, mở trường dạy học và có dịp gặp anh em Nguyễn Nhạc. Thấy ba anh em Nhạc, Huệ, Lữ tài trí hơn người, tướng mạo khôi ngô nên dốc lòng dạy bảo, khuyên nắm lấy thời cơ…(Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.34  ).


(5)  CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN THAM GIA KHỞi NGHĨA TÂY SƠN


            + Ban đầu anh em Tây Sơn lặn lội vào rừng sâu để buôn bán trầu nguồn. Sau đó, Nguyễn Nhạc lấy vợ tên là Ya Đố, con gái một tộc trưởng người Ba Na ở làng Cổ Yêm (nay thuộc xã Nghĩa An, huyện Khang, tỉnh Gia Lai). Nguyễn Nhạc đi đến các làng Sít (xã Nam, huyện Khang) và làng Dung (xã Đông, huyện Khang), làng Đê Chơ-găng (huyện An Khê) kết giao để mở rộng thêm căn cứ. Theo truyền thuyết ở làng Đê Chơ-găng: “Bok Nhạc thường xuyên về đây và nhiều lần dừng chân trên một hòn đá lớn bên bờ suối Chơ Ngao. Khi Bok Nhạc về xuôi, dân làng không quên ông, và đến nay hòn đá vẫn được gọi là “hòn đá Bok Nhạc”…


            + Nguyễn Nhạc và vợ kết giao với một số tù trưởng ngừi Xơ-đăng. Ja-rai, Ba-na ở Cheo Rao, Pleiku, KonTum và người H’rê ở phía tây Quảng Ngãi. Bản thân bà Yă Đố đã cầm đầu một số dân binh người miền núi khai hoang vỡ hóa, lập nên cánh đồng Cổ Yêm để trồng hoa màu (ngày nay gọi là đồng Cô Hầu) rộng hơn vài chục mẫu tây, là vùng đất màu mỡ, nằm lọt giữa lòng Trường Sơn, có đường thông lên Kon Tum, thông xuống đồng bằng Bình Định qua ngã đèo Vân Tuế (nay thuộc huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định). Đồng bào các dân tộc tôn kính Nguyễn Nhạc (“Vua Trời”). Nhiều chuyện kể về Bok Nhạc được đồng bào ghi nhớ với các địa danh “hồ ông Nhạc”, “vườn cam Tây Sơn”, “hòn đá ông Nhạc”, “núi Chà Diêm”, “núi Hảnh Hót”, “hòn Kong”, “Giếng Vuông”, “Miếu Xà”, “hòn ông Bình, ông Nhạc”, “kho Binh lương đồ trận” (đèo An Khê), hoặc chuyện kể Bok Nhạc phát muối cho dân, cấp lúa giống, phát trâu cày… vẫn còn được đồng bào Tây Nguyên truyền tụng…


            + Đồng bào Tây Nguyên cung cấp nhiều voi chiến, ngựa chiến và các quản tượng tài ba lập thành binh chủng “tượng binh” nổi tiếng. Tại hậu cứ An Khê, Nguyễn Nhạc tuyển chọn những thanh niên dũng cảm, mạnh khỏe, tổ chức thành đạo quân người miền núi, cử Võ Đình Tú và Nguyễn Văn Tuyết (tức đô đốc Tuyết sau này) phụ trách huấn luyện. Trong đạo trung quân do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy có đơn vị người dân tộc gồm 2000 chiến mã, đã từng hành quân thần tốc ra Bắc vào Nam. Những tư liệu phong phú trên đây – có thể chưa hoàn toàn xác thực – chỉ được phản ánh mờ nhạt trong sử sách triều Nguyễn, đại đề “Nguyễn Nhạc vào trong đám dân Mọi ở vùng núi Tây Sơn thượng đạo” (Tây Sơn thủy mạt khảo), hoặc: “Nguyễn Nhạc đem quân Man xuống đánh phủ thành Quy Nhơn”… (Tham khảo: Nguyễn Nhân Thống – Đồng bào Tây Nguyên trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn – Tạp chí Xưa và Nay, số 79/9-2000).


(6)   CHỦ TRƯƠNG CỦA TÂY SƠN ĐỐI VỚI MIỀN GIA ĐỊNH


Từ năm 1776 đến năm 1784, trong khoảng 8-9 năm, trước sau quân Tây Sơn đã  năm sáu lần vào đánh Gia Định, nhưng mỗi lần đuổi được Nguyễn Ánh bỏ chạy đều rút quân về – kể cả lần đánh tan quân Xiêm – và chỉ để lại một ít tướng tá cắt đặt việc kiểm soát(*).


Tại sao anh em Tây Sơn không giải quyết triệt để hơn vấn đề Gia Định để tránh được mối họa lớn về sau này? Có những ý kiến cho rằng hoặc vì quân Tây Sơn ngại đi quá xa căn cứ, hoặc vì đang cần chuẩn bị lực lượng để đối phó với họ Trịnh ở phía bắc. Lại có ý kiến cho rằng vì tầng lớp địa chủ mới ở Gia Định còn lôi kéo được nông dân theo họ.


Theo chúng tôi, nếu cho rằng quân Tây Sơn ngại đi xa căn cứ thì trên thực tế họ đã đi xa căn cứ vào đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định hầu như liên tiếp trong mấy năm liền (1776, 1777, 1778, 1779, 1783, 1784) và lần nào họ cũng thắng lợi tương đối dễ dàng, nhanh chóng. Như vậy thì không phải là quân Tây Sơn quản ngại đi xa. Vấn đề là tại sao sau khi thắng lợi lại không nắm lấy đất Gia Định cho chắc chắn hơn, mà cứ để lỏng lẻo rồi rút quân về?


Bảo rằng  anh em Tây Sơn đang cần chuẩn bị lực lượng để đối phó với Trịnh thì cũng chưa phải là lý do rõ rệt. Căn cứ vào sử liệu, chúng ta thấy suốt thời gian này, phía Trịnh chưa có biểu hiện gì tỏ ra muốn tấn công Tây Sơn. Trái lại, tình hình khủng hoảng ở Bắc hà cũng như thái độ chúa Trịnh từ sau khi chiếm được Phú Xuân (1775) cho thấy họ Trịnh bấy giờ chưa có điều kiện tập trung chú ý họ Nguyễn và Tây Sơn. Tác giả Văn Tân đã có lý khi cho rằng: “Năm 1777, Nguyễn Nhạc sai sứ ra Bắc xin chúa Trịnh Sâm cho Nhạc cai trị tỉnh Quảng Nam. Sâm bấy giờ đang chán việc binh, liền phong cho Nhạc làm trấn thủ tuyên úy đại sứ, tước Cung quận công” (Cách mạng Tây Sơn – Sđd, tr.57).


Trong lúc ấy, Nguyễn Ánh sống sót ở phía Nam liên tục mưu đồ chiếm lại Gia Định. Sau mấy lần bị đánh bạt ra biển, Nguyễn Ánh lại trở về được ngay. Vậy thì kẻ thù trước mắt mà quân Tây Sơn cần phải đối phó chính là Nguyễn Ánh chứ chưa phải là họ Trịnh ở Bắc hà.


Về ý kiến cho rằng tầng lớp địa chủ mới ở Gia Định đã lôi kéo được nông dân thì cung cần có thêm tư liệu cụ thể hơn. Trước hết, cần thừa nhận rằng Gia Định là vùng đất mới khai thác, do vậy sự bóc lột của quan lại địa chủ chưa dẫn đến mâu thuẫn xã hội trầm trọng. Nhưng thực tế này chưa đủ để khẳng định rằng nông dân và các tầng lớp bị trị ở Gia Định hững hờ với phong trào Tây Sơn. Nếu không có sự ủng hộ của nông dân Gia Định thì làm sao Tây Sơn lại có thể năm, sáu lần đánh bật được Nguyễn Ánh dễ dàng đến thế!


Sử liệu cho biết trong cuộc đánh Gia Định lần thứ nhất, khi Nguyễn Lữ mang thủy binh vào, nhờ sự ủng hộ của dân chúng nên đã chiếm dược Gia Định rất dễ dàng và kiểm soát cả một vùng miền đông Nam Bộ. Rõ rệt hơn là trong lần thứ 5 – cũng là lần đánh tan quân can thiệp Xiêm – đại đa số dân Gia Định càng căm thù quân cướp nước và đã bảo vệ bí mật cho trận đánh quân Xiêm của Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm-Xoài Mút thắng lợi to lớn.


Chúng tôi nghĩ rằng: sở dĩ không giải quyết triệt để cái mầm họa ở Gia Định, chủ yếu là do anh em Tây Sơn nhận định chưa sát tình hình của hai kẻ thù Trịnh và Nguyễn bấy giờ. Nếu như trước kia, trong chiến lược tạm hàng Trịnh để diệt Nguyễn, Nguyễn Nhạc đã tỏ ra rất khôn khéo, thì ở đây trong vấn đề Gia Định, sự sáng suốt đó đã bị hạn chế; mà Nguyễn Huệ lúc này vẫn còn phải phục tùng mệnh lệnh của anh.


Vậy Tây Sơn nhận định chưa sát tình hình ở chỗ nào? Ý định của Tây Sơn là muốn thâu gồm đất Bắc của nhà Lê, và để thực hiện điều đó thì phải diệt Trịnh. Do vậy, Tây Sơn hướng lực lượng của mình về phía Bắc mà coi nhẹ phía Nam (kẻ cả việc coi nhẹ và đánh giá chưa sát thực lực của Nguyễn Ánh). Sự coi nhẹ này càng rõ rệt khi Nguyễn Nhạc thấy Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Ánh giết thì vội mừng mà bảo rằng: “Hữu phương [tức Đỗ Thành Nhơn] chết đi, các tướng khác ta không lo gì nữa”. Thực là nguy hiểm khi Nguyễn Nhạc cho rằng kẻ thù ở phía Nam chỉ là cá nhân Nguyễn Ánh và một số tướng ta, mà không thấy rằng mầm tai họa chính là cả một tầng lớp địa chủ đông đảo ở Gia Định làm chỗ dựa cho Ánh.


Thực ra, mấy lần quân Tây Sơn kéo vào chỉ là đánh quân lính của Nguyễn Ánh và những tay chân trực tiếp, sau đó không hề động chạm đến tình hình kinh tế, xã hội ở Gia Định. Do vậy, hễ túng thế thì Nguyễn Ánh bỏ chạy, nhưng tạm yên thì ông ta lại trở về Gia Định như về nhà của mình vậy.


Có người nghĩ rằng: sau mỗi lần rút về, Tây Sơn chỉ để lại Gia Định những tướng tầm thường, không đủ sức chống cự với Nguyễn Ánh. Có lẽ thực tế cũng chưa hẳn hoàn toàn như vậy. Đành rằng có lần Tây Sơn chỉ giao việc kiểm soát Gia Định cho những viên tướng “tầm thường”, có khi là một hàng tướng như Đỗ Nhàn. Nhưng lại có những lần nhiệm vụ này đã được giao cho cả một nhóm có năng lực như tổng đốc Chu, hỗ tướng Hãn, tư khấu Oai v.v… Nhất là trong lần thứ tư, Tây Sơn để lại phò mã Trương Văn Đa, người đã đuổi riết Nguyễn Ánh trong vịnh Xiêm và suýt bắt sống được thì gặp bão nên Nguyễn Ánh thoát nạn.


Nếu vậy thì không hẳn là tướng kém, mà vì một nhóm quân tướng của Tây Sơn lọt thỏm vào một tầng lớp địa chủ đông đảo – cũng là cơ sở xã hội của Nguyễn Ánh – nên họ đã rơi vào thế cô lập. Số quân tướng này gọi là kiểm soát đất Gia Định nhưng lại không nắm được tầng lớp địa chủ, do vậy các tầng lớp bị trị ở Gia Định dễ dàng bị họ lung lạc; và điều này sẽ trở thành hiện thực tàn nhẫn đối với Tây Sơn khi ý chí thống nhất hành động trong nội bộ anh em Tây Sơn bắt đầu bộc lộ những nhược điểm, thậm chí những rạn nứt.


Mãi về sau này, khi đã đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ mới thực sự chú ý đến kẻ thù còn lại ở phía Nam, thì Nguyễn Ánh đã có một cơ sở vững chắc ở đó rồi. Vấn đề đặt ra đã khá muộn. Bấy giờ Nguyễn Huệ mới tìm cách tiêu diệt Nguyễn Ánh thì hoàn cảnh mới đã phức tạp hơn. Trước khi nhắm mắt, Nguyễn Huệ nhìn thấy đây là điều ân hận lớn nhất trong sự nghiệp của mình: “Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải táng cho xong.Việc tang làm qua loa thôi. Các ngươi nên giúp thái tử sớm dời đô ra Nghệ An để khống chế thiên hạ. Nếu không thế thì quân Gia Định tới, các ngươi sẽ không có chỗ mà chôn”.


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 







(*)  Cũng có ý kiến cho rằng: “Với việc chiếm đóng Gia Định, Long Nhương {Nguyễn Huệ] đã hoàn toàn làm chủ cả Đàng Trong. Ông này không phải chỉ là một người cầm quân mà còn là một nhà cai trị rất giỏi; và khác với những tướng lĩnh mà Nguyễn Nhạc đã cử vào lần đầu, ông nắm được cả miền Gia Định trong tay, bằng những đồn binh vững vàng ở khắp các đường bộ, đường sông, cửa biển và bằng một kỷ luật nghiêm minh, đồng thời lại nhân từ với nhân dân” (Legrand de la Lirraye – Notes historiques sur la nation annamite – Saigon, 1865, p.95).


Sau lần Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Sài Gòn đánh Nguyễn Ánh năm 1783, trên thực tế, Tây Sơn đã làm chủ Sài Gòn trong hơn 5 năm. Năm 1786, tướng Tây Sơn Đặng Văn Trấn đã cho “dựng dinh trại trên nổng cao, nơi gò bằng thì lập phố chợ, dời cả dân buôn Sài Gòn đến ở tại Cầu Sơn [Bình Thạnh]” (Gia Định thành thông chí, tập Hạ). Công việc xây dựng lại đô thị trên quy mô mới bị dở dang, vì từ năm 1788 Nguyễn Ánh đã lấy lại được Sài Gòn (Tham khảo: Đô thị cổ Việt Nam – Sđd, tr.342).



trieuxuan.info