21.12.2009
Lương Văn Hồng
Nobel văn học (19)

 NOBEL Văn học 1948: THOMAS  STEARNS  ELIOT (1888-1965)


Thomas Stearn Eliot là nhà thơ, nhà viết kịch, nhà phê bình Anh gốc Mỹ. Ông sinh ở Saint Louis, Boston nước  Mỹ  trong một gia đình đại tư bản và được giáo dục theo tinh thần Thanh giáo khắt khe. Ông học triết học, tâm lý học, Phương Đông học ở Trường Đại học Harvard, sau đó ở Paris. Ông thích văn học cổ điển, chống lãng mạn, chú trọng đến triết học, nhưng chính ông bỏ bảo vệ luận án tiến sĩ chuyển hướng từ triết học sang thơ văn. Từ 1914, ông sống ở Anh, dạy học, làm cho một ngân hàng, hoạt động báo chí, xuất bản. Sáng tác của Eliot gắn  chủ nghĩa hiện đại mang tính chất chiết trung với thế giới chủ nghĩa và truyền thống, sáng tác của ông có ảnh hưởng đến văn học tư sản.


Những tập thơ đầu là Những bản tình ca của J. Alfred Prufrock (The love song of J. Alfred Prufrock,  1911); Prufrock và những bài thơ khác (Prufrock and other poems, 1917); Prufrock và những quan sát khác (Prufrock and other observation, 1917); Thơ (Poems, 1920). Thomas Eliot nổi tiếng với Đất hoang (The waste land, 1922), nó phản ánh trạng thái bế tắc, hoang mang, trống rỗng của đời sống tinh thần châu Âu sau đại chiến thế giới I,  sự khô cằn của nền văn minh hiện đại qua những hình tượng và trích dẫn (thần thoại  và tác phẩm Âu-Á). Trường ca Những kẻ trống rỗng (The hollow men, 1925) diễn tả cuộc sống và cảm xúc. Năm 1927, Eliot nhập quốc tịch Anh và cải sang Anh giáo. Từ đây trong các tác phẩm của ông thường có sự hiện diện của tư tưởng tôn giáo. Ngày thứ tư sám hối  (Ash Wednesday, 1930) là một bài thơ tôn giáo ca ngợi đức xả thân, là tác phẩm siêu hình về cuộc sống và thời gian. Bốn bài tứ tấu (Four Quartets, 1943) nói lên những suy nghĩ  về quan hệ thần bí giữa thời gian  và vĩnh cửu. Eliot xét tội lỗi dưới ánh sáng của tôn giáo và phân tâm học trong những kịch thơ như trong kịch  Vụ ám sát ở nhà thờ (Murder in the cathedral, 1935) về vụ giết Tổng giám mục Thomas Becket ở thế kỷ XII.  Những vở kịch khác là    Xum họp gia đình  (The family reunion, 1939); Bữa tiệc rượu (The cocktail party, 1949); Người thư ký riêng (The confidential clerk, 1953). Eliot còn viết luận văn về các nhà thơ siêu hình Anh thế kỷ XVII, về Baudelaire, về Dante, về phương Tây thiên chúa giáo  với Tính thống nhất của văn hóa châu Âu ( The unity of European culture, 1964).


Thomas Eliot là một trong những nhà cách tân thơ có ảnh hưởng trong văn học Anh-Mỹ, ông nhận giải thưởng Nobel văn học năm 1948 vì ông là một trong những người đầu tiên nhận ra nguy cơ “đại chúng hóa”  văn hóa và nghệ thuật. Những sáng tác của ông phản ánh tình trạng bế tắc , tha hóa của nền văn minh hiện đại, đồng thời nói lên niềm tin trong cuộc đấu tranh chống lại những cái giả.


              Giá trị siêu quốc gia của thơ ca


Trong diễn từ khi nhận giải thưởng Nobel văn học, Thomas Eliot nói đến tính chủ quan cá nhân:


-   Thơ ca thường được xem là loại hình nghệ thuật mang tính cục bộ cao nhất. Bất cứ ai có khả năng nhìn và nghe đều có thể thưởng thức hội họa điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc. Nhưng ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thơ ca , là một chuyện khác. Dường như thơ ca ngăn cách con người hơn là gắn kết họ với nhau…  Ngôn ngữ là một rào cản, chính thơ ca cho ta một lý do để cố gắng vượt qua rào cản đó.


Rồi ông nói tới thú vui khi đọc thơ và tính tác động lan tỏa của thơ – tính siêu quốc gia của thơ:


-   Thưởng thức thơ ca của một ngôn ngữ khác cũng chính là thưởng thức thú vui được hiểu biết về dân tộc của ngôn ngữ đó… Ta phải nhớ rằng các nhà thơ chịu ảnh hưởng của những nhà thơ lớn không cùng ngôn ngữ nhiều hơn là ảnh hưởng  của những nhà thơ cùng ngôn ngữ  với họ… Sự hiểu biết lẫn nhau là hết sức cần thiết. Giải thưởng  Nobel văn học mà tôi nhận được với tư cách nhà thơ là bằng chứng khẳng định giá trị siêu quốc gia của thơ ca.


Nguồn: Tác giả đoạt giải Nobel Văn học (từ 1901 đến 2007), tiểu sử và giai thoại. Lương Văn Hồng biên soạn. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


 

trieuxuan.info