26.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (13)

CHÚ THÍCH (Chương Bốn)


(1)   VỀ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH THỜI QUANG TRUNG


Theo tác giả Hoa Bằng (Sách đã dẫn, tr.279-280): Từ đời Lê, Bắc hà chia làm 11 xứ (trấn): 1/ Xứ Nam (Sơn Nam), 2/ Xứ Đông (Hải Dương), 3/ Xứ Bắc (Kinh Bắc), 4/ Xứ Đoài (Sơn Tây), 5/ Xứ Yên Quảng, 6/ Xứ Lạng (Lạng Sơn), 7/ Xứ Thái (Thái Nguyên), 8/ Xứ Tuyên (Tuyên Quang), 9/ Xứ Hưng ( Hưng Hóa), 10/ Xứ Thanh (Thanh Hóa), 11/ Xứ Nghệ (Nghệ An).


 


Đến triều Quang Trung, ngoài 9 xứ để yên như cũ, năm 1788 có chí lại hai xứ Sơn Nam và Thanh Hóa. Xứ Sơn Nam chia làm hai trấn, phía trên xứ ấy gọi là Nam Thượng hoặc Thượng trấn, phía dưới giáp biển gọi là Nam Hạ hoặc Hạ trấn. Trước kí Phố Hiến là lỵ sở của Sơn Nam, đến bấy giờ lỵ sở là Hạ trấn, đóng ở Vị Hoàng bên sông Nhị, cách dưới Phố Hiến vài dặm, còn lỵ sở Thượng trấn thì đóng ở Châu Cầu (nay thuộc Hà Nam), cách phía dưới kinh đô độ hai mươi dặm, ở ngay bên đường cái quan ăn thông từ Bắc vào Nam hà. Xứ Thanh cũng chia làm hai: về mặt bắc gọi là Thanh Hóa ngoại, về mặt nam gọi là Thanh Hóa nội.


 


Mỗi xứ chia làm nhiều phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện, mỗi huyện chia làm nhiều tổng và mỗi tổng chia làm nhiều xã. Tưu trung có nhiều xã lại chia ra từng thôn. Còn kinh đô mà xưa ta gọi là Ke Chợ thì gồm có một phủ, hai huyện, mười tám phường [dẫn theo Nouvelles lettres édifiantes, tập thứ sáu).


 


Theo bài “Ban bố Bắc thành các điều” chép trong Dụ am văn tập thì Bắc thành dưới triều Tây Sơn có 6 nội trấn và 6 ngoại trấn. Sáu nội trấn là: Thanh Hóa Ngoại, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương và Phụng Thiên. Sáu ngoại trấn là: Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên và Yên Quảng.


 


(2)  VỀ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH THỜI QUANG TRUNG:


 


+ Vẫn theo tư liệu của Hoa Bằng, bộ máy hành chính gồm: Tam Công, Tam Thiếu, Đại Chủng Tể, Đại Tư Đồ, Đại Tư khấu, Đại Tư Mã, Đại Tư Không, Đại Tư Cối, Đại Tư Lệ, Thái Uy, Ngự Uy, Đại Tổng Quản,Đại Đổng Lý, Đại Đô Hộ, Đại Đô Đốc, Đô Đốc, Nội Hầu, Hộ Giá, Điểm Kiểm, Chỉ Huy Sứ, Đô Ty, Đo Uy, Trung Uy, Vệ Uy, Quán Quân, Tham Đốc, Tham Lĩnh, Trung Thư Sảnh, Trung Thư Lệnh, Phụng Chính, Thị Trung Đại Học Sĩ. Hiệp biện Đại học Sĩ, Thị Trung Ngự Sử< Lục Bộ Thượng Thư, Tả, Hữu Đồng Nghi, Tả, Hữu Phụng Nghi, Thị Lang, Tư Vụ, Hàn Lâm v.v…


 


Mỗi trấn đặt một trấn thủ về hàng võ và một hiệp trấn về hàng văn. Mỗi huyện đặt một văn phân tri, một võ phân suất, một tả quản lý, một hữu quản lý. Công việc của quan văn là trưng đốc binh lương, xét xử từ tụng. Phận sự của quan võ là coi quản và thao diễn quân lính từ Đạo đến Cơ, từ Cơ đến Đội.


 


Trong các xã, các thôn thì có xã trưởng, thôn trưởng. Hàng tổng thì đặt tổng trưởng, tức như chánh tổng đời sau, để giữ việc hành chính trong một tổng (Sách đã dẫn, tr.278).


 


(3)   CHÍNH SÁCH CẦU HIỀN CỦA QUANG TRUNG


 


+ Ý kiến Hoàng Phủ Ngọc Tường: Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự, mà còn là một nhà vương đạo mang cái Tâm nhân nghĩa bao trùm cả thời đại ông… Và rốt cuộc, Nguyễn Huệ đã chinh phục được nhân tâm: kẻ sĩ Bắc hà kể đến hàng ngàn người đều về với Tây Sơn “rốt cuộc chỉ còn lại bảy tám người không chịu ra mà thôi” (Hoàng Lê nhất thống chí). Trần Văn Kỷ lo nội chính, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn lo toàn bộ sách lược ngoại giao đối với nhà Thanh. Nguyễn Thiếp và Bùi Dương Lịch xây dựng văn hóa-giáo dục. Nguyễn Gia Phan chăm lo ngành y tế (tiến sĩ Nguyễn Gia Phan là người chỉ đạo công việc chống dịch bệnh ở Thăng Long sau khi quân Thanh rút chạy).


 


Như chính lời cảm khái của từng người trong cuộc, Quang Trung Nguyễn Huệ đã “tái tạo” cho Ngô Thì Nhậm, “gây dựng lại” cho Phan Huy Ích. Trong ánh sáng nhân đạo của Nguyễn Huệ, cả một đẳng cấp kẻ sĩ thời Lê mạt đã tự cải tạo mình thoát ra khỏi số phận tàn lụi để mang tất cả “chất xám” ra cống hiến cho đời, được chia sẻ với toàn dân tộc niềm vinh dự “được sinh làm người nước Nam”, như chính Ngô Thì Nhậm đã nói. “Mà nay áo vải cờ đào, Giúp dân dựng nước xiết bao công trình”: đây là sự đánh giá tuyệt vời dành cho Nguyễn Huệ… “Ai tư vãn” là một bằng chứng tâm huyết về sự tự cải tạo nhận thức lịch sử của kẻ sĩ nhà Lê, bởi vì dù là hoàng hậu, Lê Ngọc Hân vẫn là một công chúa nhà Lê” (Nguyễn Huệ với chiến lược con người – Tạp chí Xưa và Nay, số 97/8-2001).


 


(4)   TRẦN VĂN KỶ


           


+ Tác giả Trần Huy Thanh khảo cứu những người thuộc dòng họ Trần ở Thừa Thiên-Huế đã từng tham gia phong trào Tây Sơn. Ngoài Trần Văn Kỷ giữ chức Trung thư lệnh, văn thần hàng đầu của vua Quang Trung, tác giả còn tìm thấy ở làng Dã Lê Thượng 8 vị họ Trần và ở làng Hạ Lang 3 vị, trong đó có vị giữ chức Đô chỉ huy sứ…


            … Chiến dịch giải phóng Phú Xuân hè 1786 đã mở ra cho nhân dân Phú Xuân một trang sử mới gắn với triều đại Quang Trung, tuy ngắn ngủi nhưng rực rỡ, huy hoàng… đánh dấu bằng cuộc tương phùng không hẹn trước giữa Nguyễn Huệ và bậc danh sĩ nổi tiếng ở Nam hà Trần Văn Kỷ. Bấy giờ Trần Văn Kỷ (hay Trần Chánh Ký) đang sống ở làng Vân Trình bên dòng sông Ô Lâu (nay thuộc xã Phong Bình, huyện Phong Điền). Ong là con thứ 7 trong một gia đình 9 anh chị em. Cha là Trân Văn Hồng (1702-1758), mẹ là Trần Thị Ty (1705-1763). Họ Trần là một trong 4 họ lớn của làng Vân Trình (Lê, Nguyễn, Trần, Trương), nguyên gốc ở tỉnh Thanh Hóa vào đây khai khẩn, định cư, lập nghiệp từ thế kỷ XV. Từ nhỏ, Trần Văn Kỷ sớm bộc lộ tư chất thông minh, siêng năng; năm 1777 dự kỳ thi hương tại trường thi Phú Xuân và đỗ đầu bảng. Ong ra Thăng Long tìm đến các bậc đại khoa, nhân sĩ Bắc hà.


 


            Khi Nguyễn Huệ hỏi chuyện Bắc, Nam, Trần Văn Kỷ “đối đáp rất nhanh và rất hợp ý nên Bắc Bình vương rất trọng, cho ở chỗ màn trướng, việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời” (Hoàng Lê nhất thống chí). Năm 1786, Trần Văn Kỷ thay mặt Nguyễn Huệ, mặc áo trắng theo hầu đám tang vua Lê Hiển Tông đến nơi an táng tại Bàn Thạch (Thanh Hóa).


 


            Tháng 6-1801, Nguyễn Anh lấy lại Phú Xuân, Trần Văn Kỷ ẩn náu ở quê nhà rồi bị bắt; ông đã nhảy xuống sông tự tử ở Ngã ba Sình ngày 10-11 năm Tân Dậu [1801]. Lăng mộ Trần Văn Kỷ ở làng Vân Trình được Bộ VHTT quyết định công nhận là di tích quốc gia (11-5-1995).


 


Làng Dã Lê Thượng (xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy có 122 người tham gia chiến đấu trong quân đội Tây Sơn, trong đó có 8 người họ Trần trong các đơn vị quân Tây Sơn đóng ở Thăng Long (chỉ huy sứ Trần Văn Luận, chỉ huy đồng tri Trần Văn Đạo, trung úy Trần Văn Tú, các quản tượng Trần Văn Sửu, Trần Văn An…)


(Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


+ Theo GS.Hoàng Xuân Hãn: “[Quang Trung] biết dùng những người như Ngô Thì Nhậm đã đành, mà gần ông nhất là ông Trần Văn Kỷ, một người mà không mấy ai nói tới. Hiện bây giờ bên nhà đã có người viết cuốn sách về Trần Văn Kỷ. Tôi không được biết nhiều nhưng thấy những dấu tích của ông ấy để lại xung quanh Quang Trung thì biết rằng đấy là một người rất giỏi”  (Đài phát thanh Quốc tế của Pháp [RFI] phỏng vấn Hoàng Xuân Hãn – Tạp chí Xưa và Nay trích đăng trên số 35/1-1997 với tựa đề “Học giả Hoàng Xuân Hãn nói về Hoàng đế Quang Trung”).


 


(5)   NGÔ THI NHẬM


 


+ Cuộc rút lui chiến lược của quân Tây Sơn về Tam Điệp-Biện Sơn được vua Quang Trung khen ngợi: “Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra để chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích tích lòng quân, bên ngoài thi làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã doán la Ngô Thì Nhậm chủ trương, sau hỏi Văn Tuyển thì đúng là như vậy” (Hoàng Lê nhất thống chí).


 


            + Ngô Thì Nhậm ca ngợi Quang Trung: Trong bài “Tận tôn biểu” có đoạn: “Hoàng đế bệ hạ, tuấn kiệt trời cho, thông minh thần giúp. Tây thổ vang lừng “nan đệ” một nhung y gây dựng sơn hà, ngọ thiên hun đúc chân nhân, ba thước gươm quyết trừ loạn tặc… Muốn yên dân nên phải dùng võ, khắp mọi nơi khiếp phục uy phong”.


 


            (6)        +  Thơ ca dân gian:


 


                      … Nguyễn Huệ là đấng anh hào


                        Tận trung dưới trướng biết bao anh hùng


            Văn thời Kỷ, Nhậm tài hoa


                        Lại thêm Phu tử ở ngoài giúp vô


                        Võ thì tư mã họ Ngô


            Quang Diệu, Văn Dũng, nữ đô họ Bùi …


(Tư liệu của Trần Hoàng – Kỷ yếu HTKH


 “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


           


+ Trường hợp Trần Danh An:


 


Trần Danh An thuộc dòng họ Trần Danh, nổi tiếng khoa bảng đất Kinh Bắc, đỗỗ nhị giáp tiến sĩ năm 1787 đời vua Lê Chiêu Thống. Năm 1788, nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ hai. Lê Chiêu Thống bỏ chạy cầu viện quân Thanh. Trần Danh An trên đường hộ giá bị lạc ở đất Bắc Ninh. Để thu phục sĩ phu Bắc hà, Nguyễn Huệ sai Ngô Thì Nhậm gửi thư chiêu vời ông theo Tây Sơn. Trong tủ sách gia đình họ Đàm ở An Trai, Vân Canh, Hoài Đức còn lưu được bản chép tay bằng chữ Hán ghi lại cuộc trao đổi giữa Ngô Thì Nhậm và Trần Danh An. Tác giả Đàm Hưng lược dịch như sau:


 


“Tây Sơn vào thành, Trần Danh An hộ tống vua lên biên ải, lưu lạc ở nơi thôn dã đất Bắc Ninh. Tây sơn biết, có ý tới thu phục, sai Ngô Thì Nhậm biên thư vời ra. Thư rằng: Mạnh Tử nói rằng: “Ta khéo nuôi chí hạo nhiên”, ông (An) cũng làm như vậy. Tôi đâu dám đoạt cái chí ấy. Như nay tôi vẫn cùng ông Thụy Nham Công [Phan Huy Ích] cùng chung một nhà, đàm luận văn chương, không có gì phân biệt (Phan Huy Ích là cựu thần nhà Lê). Vẫn mong được gặp ông mà chưa được”.


 


“Trần Danh An gửi thư phúc đáp: “Thịnh tình của hai ông như vậy, tôi đâu phải là gỗ đá mà không cảm nhận được. Có điều là học vấn của tôi còn sơ sài. Tới nay còn chưa biết ra sao. Nên có thơ rằng: Tôi nay còn sống chỉ mong được gặp vua của tôi. Tâm thần tôi còn gửi ở đám mây Tần, lại đang trong vòng trói buộc. Non sông nay đã thuộc về tay người khác. Hoa hướng dương tuy khô héo rồi vẫn luôn hướng về phía mặt trời. Thân tôi như cây cỏ bồng đã lìa gốc [ý ; mất vua] thì há còn biết xuân là gì nữa. Triều đại mới tuy có ý tốt với tôi, nhưng không phải là phận của tôi. Vận nước vơi đầy, không phải là chân mộng mong mỏi của tôi. Nay nước mất, lìa vua, không cùng theo giúp được, nên phải ở nơi nhà tranh ngõ hẹp này. Vào các buổi sớm hàng ngày, tôi nhìn về thành nhà Lê, tràn đầy nước mắt, nghẹn ngào, còn gì mà cùng hai ông đàm đạo văn chương. Xin đa tạ cố nhân, để cho tôi làm theo chí, mặc áo vải cày ruộng nơi đồng nội trên đất Bắc Giang này, để ngâm câu “Cưu sơn vân y hy thiên đức thụ chi cú”. Mong được thể lượng như vậy. Tôi nay chưa chết, ắt còn có dịp gặp các ông”.


 


            Giới thiệu các bức thư trên, tác giả Đàm Hưng nhận định: “Hai ông [Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích] thấy không khuất dụ được [Trần Danh An] bèn đem lòng nhân nghĩa mà tha, không động tới nữa… Nhà Tây Sơn rất chú trọng thu phục hiền tài, do vậy mà đã được nhiều danh sĩ ra giúp sức, tiêu biểu như La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…, không phân biệt đã có tước vị ở triều đại khác. Đối với Trần Danh An cũng vậy. Phải chăng Trần Danh An ở thời điểm chưa thấy được võ công hiển hách của Hoàng đế Quang  Trung đánh bại quân Mãn Thanh vào xuân Kỷ Dậu (1789), nên chưa hiểu Tây Sơn như thế nào…Còn có điều nữa là lúc đó ông chưa nhận ra được dã tâm của triều đình Mãn Thanh. Lấy nghĩa mà tha tức là thức thời, hợp đạo và nhất quán”.


(Tham khảo: Đàm Hưng – Vời kẻ sĩ – Tạp chí Xưa và Nay, số 26/4-1996)


 


            + Trường hợp Võ Huy Tấn


 


            Sau đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung chỉ dụ tìm người tài lo việc ngoại giao. Có người tiến cử Võ Huy Tấn, người làng Mộ Trạch ở Hải Dương. Năm 20 tuổi thi đỗ giải nguyên khoa Mậu Tý (đời Lê Cảnh Hưng). Khi được vời gọi, lúc đầu ông tìm cách lánh đi nơi khác, nhưng Quang Trung vẫn tiếp tục cho vời. Lần này ông nghe lời cha khuyên, vào kinh bệ kiến và được bổ chức Hàn lâm đãi chiếu, phong tước Bá và liền được cử đi sứ nhà Thanh. Trước sau, Võ Huy Tấn đi sứ Trung Hoa 7 lần, được Quang Trung liệt vào hàng công thần, cùng Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích chuyên lo việc bang giao. Ong mất năm 1818, ở tuổi 52.


 


            Tương truyền mỗi lần vua Quang Trung ngự giá đi đâu, vua cưỡi voi đi trước, Võ Huy Tấn cưỡi voi theo sau. Lúc cao hứng, nhà vua thường vuốt bộ râu dài của ông, tỏ ý quý mến. Ong bèn cảm tác mấy câu thơ chữ Hán, dịch nôm như sau:


 


                                    Thơ thảo nhiều khi làm ứng chế


                        Tiệc xong lại được thưởng thêm chè


                        Văn hay, lời thánh thường khen ngợi


                        Râu tốt, tay vua thích vuốt ve


Lại có chuyện này nên tả rõ


Liền voi, rạng vẻ lúc đi về.


(Tham khảo: Hồ Mậu Đường –


Tạp chí Xưa và Nay, số 110, tháng 2-2002, tr.30).


 


 


            (7)  Nhận xét về chính sách cầu hiền của Quang Trung, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Quang Trung qúy trọng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ, dùng người đúng tài, đúng chỗ, đúng lúc. Cuộc chiến đấu đã đào luyện cho quân Tây Sơn một đội ngũ tướng soái tài ba dũng lược. Quang Trung đã biết phát huy đến cao độ cống hiến của mỗi người như đại tư mã Ngô Văn Sở, đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, đô đốc Nguyễn Văn Lộc, đô đốc Bùi Thị Xuân, thiếu phó Trần Quang Diệu, đại tư đồ Vũ Văn Dũng… Quang Trung còn thu phục và trọng dụng nhiều sĩ phu quan lại của chính quyền cũ như đô đốc Đặng Tiến Đông, tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, tiến sĩ Phan Huy Ích, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, giải nguyên Trần Văn Kỷ, nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn, nhà thơ Vũ Huy Tấn… Quang Trung đã tập hợp được quanh mình nhiều người tài giỏi về quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hóa, tạo thành một bộ tham mưu tài giỏi, mưu trí” (Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải cờ đào – Thiên anh hùng ca và Việt Nam ngày nay – Ban KHXH Thành ủy Tp.HCM, 1999, tr.22).


 


      (8)    VỀ PHƯỢNG HOÀNG TRUNG ĐÔ:


 


Theo GS.Hoàng Xuân Hãn (La Sơn Phu tư – Sđd), Phượng Hoàng cũng là tên của núi Dũng Quyết, hay núi Quyết. Quang Trung định đóng đô ở Nghệ An, nhưng chỗ đóng đô đổi đến ba lần: lần đầu ở núi Lam Thành, lần thứ hai ở Yên Trướng (cách Lam Thành chừng 10km về phía bắc), lần thứ ba ở Dũng Quyết (cách YênTrường khoảng 2km về phía đông-nam và cách Lam Thành khoảng 8km).


 


Căn cứ vào nhiều sử liệu (Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện…) và kết qủa khảo sát tại thực địa, GS. Hoàng Xuân Hãn cho rằng:


 


“Có thể tin chắc rằng Phượng-hoàng trung đô ở khoảng giữa núi Mèo và núi Quyết. Trong thành ấy có xây lầu ba từng, xung quanh có các đồn, trên núi có kho lúa. Cuối đời Tây Sơn, lầu đổ, trấn thủ Thận phá lấy gỗ đóng chiến thuyền (HLNTC). Ngày nay, khoảng giữa núi Quyết và núi Mèo còn thấy dấu tích một thành cũ hình gần tam giác. Dấu thành và hào đương còn rõ, nhất là trong bức ảnh chụp từ trên cao. Cửa tiền ở phía Nam. Núi Mèo (núi Kỳ-lân) làm nền cho đồn gác, thành phía nam chắp vào núi ấy. Mặt đông-bắc lấy núi Quyết (Phượng-hoàng) làm thành.


 


Địa thế thành rất dễ giữ. Phía trước có sông Cồn-mộc và sông Lam, phía bên có núi Quyết, đều là hào và thành thiên nhiên. Ở giữa thành còn dấu thành trong và nền nhà. Nhất là có nền cao ba bậc ở phần bắc, mà ngày sau đời Nguyễn dùng làm nền xã tắc. Chắc đó là chỗ Quang Trung ngự triều trong khi tạm nghỉ ở Nghệ-an. Tuy gọi là Trung-đô, nhưng thành Phụng-hoàng nhỏ, thành nam chỉ dài chừng 300 mét, bức thành tây dài 450 mét, và cái nền cao thì ngang dọc cũng chỉ có 20 mét mà thôi. Ấy vì Quang Trung mất sớm, chưa kịp đổi hành cung ra cung điện…” (Sđd, tr.126-128).


 


Tác giả Phạm Văn Kính cung cấp thêm một số chi tiết:


 


“Phượng Hoàng trung đô” hay “Trung Kinh Phượng Hoàng thành” lần đầu tiên thấy xuất hiện trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Sách viết: “Vua Quang Trung cho rằng Nghệ An ở vào chính giữa nước, đường sá từ nam ra, từ bắc vào đều vừa bằng nhau, quê tổ tiên mình cũng ở đây, bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền chuyên chở gỗ đá gạch ngói để xây dựng cung phủ lâu dài. Đắp thành đất xung quanh và sai quân lính đào đá ong ở các địa phương để xây dựng thành trong. Dựng tòa lầu Rồng ba tầng cùng điện Thái Hòa hai dãy hành lang để phòng dùng đến khi có lễ triều hạ. Thành này được gọi là Phượng Hoàng trung đô hay Trung Kinh Phượng Hoàng thành” (…)


 


Kiểm tra khảo sát tại thực địa thấy: vị trí của tòa thành đúng như Hoàng Xuân Hãn đã vẽ trong sách La Sơn phu tư. Thành được xây dựng ở phía sườn tây-bắc núi Dũng Quyết và ôm lấy núi Kỳ Lân. Dựa theo địa thế núi sông để xây cất, nên thành không có hình dáng nhất định. Tòa thành có hai vòng: thành Ngoại và thành Nội. Thành Ngoại trông tựa như hình bán nguyệt mà đường kính là sườn núi Quyết, hay giống một hình thang mà đáy lớn là sườn núi Quyết. Chắp nối các đoạn thành từ mỏm Dầu Rồng – đầu tận cùng phía tây bắc núi Quyết, chạy xuống sát sông Cồn Mộc rồi men theo dòng sông chạy về đông đến mỏm Đá Dựng, tổng cộng khoảng 1700m, mặt thành rộng trung bình 1,2m, cao 1,7m, chân thành rộng 1,7m.


 


Thành Nội gần giống như hình chữ nhật, hai cạnh dài là sườn núi Quyết (cũng là bờ thành ngoài tự nhiên) và núi Con Mèo (tức núi Kỳ Lân). Hai cạnh ngắn là hai đoạn nối núi Quyết với núi Kỳ Lân. Riêng đoạn nối đầu phía nam núi Kỳ Lân với núi Quyết lại có vẻ như gấp khúc. Các đoạn thành đắp của thành trong tổng cộng hơn 1000m, chân rộng 2m, cao hơn 1m. Bên trong của vòng thành Nội còn có dấu vết nền nhà, những mảnh vỡ của những viên gạch cỡ lớn (30cm x 20cm x 15cm) và nhiều đá ong. Hẳn rằng đây là những di vật còn lại của lầu Rồng, điện Thái Hòa trong Trung Kinh Phượng Hoàng thành. (Đô thị cổ Viêt Nam – Viện Sử học xuất bản, Hà Nội 1989, tr.287-289).


 


Theo tác giả Trần Minh Siêu: cũng trong tờ chiếu ngày 3-5 Mậu Thân [1-10-1788], Nguyễn Huệ giao cho trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận cùng La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp xây dựng Phượng Hoàng trung đô. Công việc xây dựng đang được khẩn trương tiến hành thì ở Nghệ An gặp hạn hán, mất mùa. Quang Trung xuống chiếu: “Những công việc to tạm thời hoãn lại. Nhưng sở Ngũ Hành thì không thể lưỡng lự được, cần phải hoàn thành sớm”.


 


Sau khi đại phá quân Thanh, ý định dời kinh đô từ Phú Xuân ra Nghệ An càng thôi thúc, Quang Trung giao cho Trần Quang Diệu là trấn thủ Nghệ An tiếp tục trưng dụng thợ thuyền chở gỗ, đá, gạch, ngói xây dựng cung phủ, lâu đài.  Từ Bắc hà về, tháng 10 năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung đã hồi giá nghỉ ngơi ở Phượng Hoàng trung đô. Tháng 5-1791, từ đây Quang Trung kéo quân lên vùng thượng du Nghệ An để tiêu diệt lực lượng phản nghịch. Tháng 1-1792, khi từ thượng du Nghệ An trở về, Quang Trung cũng dừng chân ở đây.


 


Vua Quang Trung đang có những dự định to lớn để cung cố, xây dựng, phát triển đất nước thì đột ngột lâm bệnh nặng. Khi tỉnh dậy, Quang Trung cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Nghệ An. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình đã nguy kịch…” (“Phượng Hoàng trung đô-Tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ” – Tạp chí Xưa và Nay, số 56 (10-1998), tr.21-22):


 


            (9)   QUÂN ĐỘI TÂY SƠN


 


            + Tác giả Trần Đại Vinh thống kê được một số tên gọi trong hệ thống tổ chức quân đội thời Tây Sơn:


            Các đạo quân: Đạo Tả quân Thị nội, Đạo Hữu quân, Đạo Hữu quân Thị nội, Đạo Hữu bật Thị nội, Đạo Tây Kỳ, Đạo Hòa Nghĩa, Đạo Oai Hùng, Đạo Võ Thành, Đạo Trung Thành. Mỗi “Đạo” gồm nhiều “Vệ” với những tên gọi khác nhau. Lại có các “Dinh”, như Dinh Trung quân, Dinh Hậu quân, Dinh Tiên phong.


            Thủy quân có các “Cơ”: Cơ Thiêm Thủy, Cơ Tả Dực, Cơ Trí Thành, Cơ Vĩnh Khánh, Cơ Vĩnh Thạnh, Cơ Hậu Thủy


            Tượng quân có 10 hệ cơ Trung Tượng.


            Lính hầu cận có: Tây Long điện thị tra, Tây Long điện thị học, Tây Long điện Vũ điệu vệ tứ, Tây Long điện vũ điệu vệ nhì.


            Các đội dệt vải trắng,


Các Ty thợ (Ty thợ gạch, Ty thợ đồi mồi, Ty thợ thuyền, Ty chài ngư, Đội can thủy (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


           


+ TƯỢNG BINH TÂY SƠN:


 


Dưới sự chỉ huy tài ba của nhà quân sự kiệt xuất Nguyễn Huệ, tượng binh đã được sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. Đó là việc biến voi chiến thành một lực lượng hỏa lực mạnh mẽ khi voi được kéo theo pháo hoặc được trang bị pháo trên lưng hoặc chở các chiến sĩ, và từ trên lưng voi họ sẽ ném hỏa cầu lưu hoàng – có công dụng như lựu đạn ngày nay – nhằm sát thương đối phương… Trong trận đánh đồn Ngọc Hồi (1-2-1789), hơn 100 con voi chiến của Tây Sơn xông vào tiến công. Đội kỵ binh thiện chiến của quân Thanh ra nghênh chiến. Lúc đó, “trên lưng mỗi con voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp nơi, đốt cháy cả người, ngựa”… Ngày 3-2-1789, Quang Trung Nguyễn Huệ trong bộ áo bào xạm đen thuốc súng dẫn đầu đội quân chiến thắng và hơn 80 thớt voi tiến vào thành Thăng Long trong sự hân hoan của dân chúng kinh đô… (Tham khảo Nguyễn Phúc Nghiệp – Voi trong lịch sử Việt Nam – Tạp chí Xưa và Nay, số 104/11-2001).


 


+ VÕ TÂY SƠN


 


            Theo tác giả Vũ Ngọc Liễn: cuôc khởi nghĩa Tây Sơn là môi trường, là điều kiện thúc đẩy võ Bình Định phải nâng cao chất lượng, phải hoàn thiện cái vốn có của mình để phát huy tác dụng trong bối cảnh lịch sử khắc nghiệt hơn, hình thành một diện mạo mới của võ Bình Định. Khá nhiều nguồn sử liệu cho thấy: trước khi là vua, là tướng, lực lượng cốt cán của phong trào Tây Sơn đều là những võ sĩ, tráng sĩ, hiệp sĩ võ nghệ cao cường, mỗi người một hoàn cảnh, một thân phận khác nhau đến với nhà Tây Sơn…


            Năm 1998-1999, Sở TTTD Bình Định sưu tầm được 3 văn bản Hán Nôm về võ cổ truyền Bình Định. Bản thứ nhất tìm được ở võ đường Phan Thọ, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn, gồm 25 bài võ. Bản thứ hai tìm được ở từ đường họ Trương, xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, chép 17 bài võ. Bản thứ ba tìm được ở võ đường Thanh Long, thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, chép 16 bài võ với 197 hình vẽ minh họa các thế võ (siêu, roi, bộ, đao, kiếm) (Bình Định, cái nôi của võ truyền thống – Tạp chí Xưa và Nay, số 102/10-2001).


 


            Theo các tác giả Lê Thi, Kim Đính: võ Bình Định đã ra đời sớm, quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo. Quang Trung-Nguyễn Huệ là người đã tinh lọc những tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác, sáng tạo nên dòng võ Tây Sơn-Bình Định với những đặc điểm:


            + Tính dân tộc: được tích lũy và sàng lọc kinh qua thực tiễn chiến tranh giữ nước, thế võ hiểm hóc… Cấu tạo một bài quyền, bài tháo rất đơn giản nhưng chặt chẽ và sắc bén, vận động toàn thân, mang màu sắc dân tộc, không pha tạp, lai căng (ví như bài “Hùng kê quyền” của Nguyễn Lữ, bài “Song phượng kiếm” của Bùi Thị Xuân v.v…).


            + Tính truyền thống: trải qua một quá trình hệ thống hoá. Hầu hết dân Bình Định đều biết võ, thể hiện rõ nét tính quần chúng. Truyền cho nhau trong cha con, chồng vợ, anh em, người thân trong thôn xóm, bản ấp. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ truyền thống võ đạo xưa. Những điều nên làm, những điều cấm đối với môn sinh vẫn giữ nguyên. Kính tổ, trọng thầy, mến bạn là 3 điều tâm niệm chính.


            + Tính đa dạng và liên hoàn: thể hiện trong việc sử dụng 18 ban binh khí. Mỗi đòn thế đều có sự liên hoàn, trước sau và kết thúc trọn vẹn, kết hợp hài hòa giữa yếu và mạnh, nhanh và chậm, tấn và thủ…


 


            Tóm lại, đến với Võ Tây Sơn-Bình Định là đến với dòng võ mang tính dân tộc thuần túy…, trải qua nhiều biến đông lịch sử vẫn giữ nguyên truyền thống, giá trị và bản sắc của nó… (Tham khảo: Võ Tây Sơn-Bình Định –  Tạp chí Xưa và Nay, số 48B/2-1998).


 


+ TRỐNG VÕ TÂY SƠN


 


            Theo PGS.Nhạc sĩ Hà Sâm – qua nghiên cứu âm nhạc và trống võ Tây Sơn – cho rằng: nhạc võ Tây Sơn chủ yếu là trống võ, một đóng góp đặc sắc của thời Tây Sơn vào lịch sử âm nhạc và truyền thống thượng võ Việt Nam. Nhạc võ Tây Sơn có 4 bài (luyện quân, xuất quân, công thành, khải hoàn). Đó là các bài nhạc võ đánh theo bộ trống gồm 12 chiếc gọi là “trống võ Tây Sơn” hay “trống trận Quang Trung”. Nhạc võ Tây Sơn vừa là phương háp luyện quân vừa là một nghi thức âm nhạc để điều binh khiển tướng trong các cuộc hành quân và dùng trong các đại lễ của triều đình Tây Sơn (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


            Nhạc võ Tây Sơn gắn với lò võ nổi tiếng của người Việt ở Bình Định. Tương truyền loại nhạc này do ba anh em Tây Sơn đặt ra cho quân sĩ luyện võ. Với một bộ trống 17 chiếc, người tập võ dùng hai tay để đánh 12 chiếc, còn lại 5 chiếc đánh bằng đầu 2 gót chân và 2 khủy tay. Người tập võ đánh được 17 trống được xem là “võ thuật như thần”. Nhạc võ Tây Sơn gồm 4 bài (Xuất quân, Hành quân, Hãm quân, Khải hoàn) và trở thành một loại nhạc lễ trong di sản nghệ thuật Việt Nam (Tham khảo: Tạp chí Xưa và Nay, số 92/6-2001, tr.41).


 


+ Theo các tác giả Quách Tấn-Quách Giao: Thời Tây Sơn, võ nghệ rất thịnh. Có 4 môn nổi tiếng là côn, quyền, kiếm, cổ (trống). Trống lớn như trống chầu. Khi tập luyện thì đứng trên hai khối gỗ tròn lớn gấp đôi quả bưởi. Đôi chân phải điều khiển hai khối gỗ tròn đó một cách lanh lẹ. Còn cùi chỏ, bàn tay, vai, đầu đều phải dùng để đánh và đỡ mấy cái trống, theo từng bài luyện võ. Khi thì dùng hai trống, khi thì dùng bốn, khi thì dùng tám, khi thì dùng mười hai, tùy trình độ và sức vóc của võ sĩ. Trống treo ở trước mặt. Biểu diễn một lần từ 1 đến 6 người, mỗi người 2 trống. Không phải người nào đứng chỗ nấy mà luôn luôn đổi chỗ lẫn nhau. Khi ra trận thì dùng 2 trống, đặt trên xe đẩy và dùng dùi trống thay tay. Dùi trống không phải chỉ dùng để đánh trống thúc quân mà còn dùng làm khí giới giết địch.(Tham khảo: Quách Tấn-Quách Giao – Nhà Tây Sơn – Nxb Trẻ, 2000, tr.202).


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info