28.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (14)

 (10)   QUAN HỆ VỚI NHÀ THANH    


            + Thư Quang Trung gửi vua Thanh


 nhắc lại thất bại thảm hại của Tôn Sĩ Nghị 


 


“(…) Tôi vốn là kẻ mặc áo vải ở Tây Sơn, nhân thời thế nổi lên làm việc (…). Quân Tôn Sĩ Nghị xông vào đánh trước, vừa mới giao phong đã đổ vỡ, chạy tan bốn ngã, xô đè lẫn nhau mà chết. Thây xác đầy nội nghẽn sông. Còn những quân chạy trốn ra các thôn trang ngoài thành lại bị dân gian đánh giết hầu hết. Ấy vì trước đây Sỹ Nghị đóng đồn ở quanh thành, hắn không biết ngăn cấm quân gia để chúng hiếp gái, cướp chợ, làm cho nhân dân căm giận đến tận xương tủy.


 


“Ngay bữa vào thành, tôi lập tức ngăn cấm trong xứ: hễ thấy bại binh chạy trốn, nhân dân không được phép giết. Bọn tàn binh ấy được đưa đến đô thành còn hơn 800 người tất cả. Tôi đã sai lấy lương thực trong kho mà ban phát cho…” (Dẫn theo Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm – Quang Trung, anh hùng dân tộc 1788-1792 – In lần thứ ba, Nxb VHTT, Hà Nội 1998, tr.216).


 


             +  Đón một sứ bộ nhà Thanh tại Thăng Long năm 1789:


 


            Theo Đại Việt quốc thư(* khoảng tháng 10 và 11-1789, Thăng Long đón một phái bộ hữu nghị của nhà Thanh. Lúc này vua Quang Trung đóng ở Phú Xuân (Huế) nên ủy cho quan doãn Thăng Long là Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Đông lo mọi việc đón sứ. Còn thay mặt vua là hoàng tử Nguyễn Quang Thùy cùng quần thần, đứng đầu hàng võ là Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, đứng đầu hàng văn là Loan Hồi Đại (?), Ngô Thì Nhậm lo giao tiếp.


 


Ngày 13-9 âm lịch, phái bộ nhà Thanh qua cửa Nam quan. Ngày 24 đến Thăng Long. Từ Nam Quan đến Thăng Long có 10 trạm nghỉ, gọi là nhà công quán. Cũng là những trạm dừng chân của sứ phương Bắc sang ta vào đời Lê, trạm cuối cùng là Gia Quất ở bờ bắc sông Hồng. Thời gian nghỉ ngơi ở trạm này lâu hơn các trạm khác, vì đường đất đi đã nhiều, và chỉ mai này là sang đò vào thành Thăng Long.


 


Phái bộ nhà Thanh đi từ Nam Quan đến Gia Quất mất 11 ngày, trung bình mỗi ngày đi 15km. Tại công quán Gia Quất, sứ bộ nhà Thanh được đón tiếp khá chu đáo. Các quan Tây Sơn đã cử một đoàn ca nhi gồm 10 nàng danh ca danh kỹ của Long Thành sang múa hát chào mừng phái bộ. Đó là các cô Phạm Ngọc Đào, Trần Cẩm Liên, Nguyễn Thúy Quyên, Hoàng Cúc Phương, Trần Lan Anh, Trịnh Tú Quyên… Các cô làm lời chúc tạ ơn:


 


            Chúng tôi


Bẩm sinh thân liễu


May dự vườn lê


Cất giọng chưa hay


Múa tay chưa dẻo


Cũng xin


Múa mừng khách như chim thước ca hưởng phúc lành,


Hát để giời quang nghe tiếng chim phượng tạc ghi ân huệ.


 


Các quan còn cử thêm một phụ nữ có tên là Nguyễn Thị Tam sang Gia Quất xướng họa thơ ca với các quan sứ. Hẳn đây là một kỳ nữ Thăng Long nên các quan chánh sứ rất phục, đã ghi trong một công văn: “… Nguyễn Thị Tam là bậc văn học, đến tiếp kiến và tặng thơ. Thơ cấu tứ khéo, tế nhị, âm vận như chuông khánh…”.


 


Từ Gia Quất, phái bộ sang sông, trạm đón tiếp đầu tiên trên kinh thành Thăng Long là đình Kiên Nghĩa, sát ngay bờ sông Hồng, ở vị trí đầu nam cầu Chương Dương hiện nay. Đầu thế kỷ XV, khi sang xâm lược nước ta, tướng nhà Minh là Trương Phụ đã cho bắc một cầu phao sang sông Hồng ở vị trí này và đã bị quân ta phục kích đốt cháy, nên còn gọi là “Cầu Cháy”.


 


Tháng 7 năm Kỷ Dậu [1789], được tin sứ thần nhà Thanh sắp sang làm lễ tuyên phong “An Nam quốc vương”. Quang Trung không muốn tự mình phải thân hành ra Thăng Long mà muốn ép sứ giả nhà Thanh phải thân vào Thuận Hóa làm lễ. Sự việc này được phản ánh trong mấy bức thư trao đổi, dàn xếp với tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An (lược trích):


 


“(…) Những nghĩ: khí hậu bản quốc, từ Thanh Hóa ra Bắc hay lụt vào mua hè, từ Thanh Hóa vào Nam hay lụt vào mùa thu Tiểu phiên [vua Quang Trung tự xưng khiêm tốn] định đến hạ tuần tháng tám, thì từ Nghệ An sẽ lên đường ra Thăng Long. Người ngựa đi đến đâu thì cầu cống trên sông bến ở đó tất phải một phen tu bổ sửa sang mới tiện đi lại. Như vậy không khỏi chậm mất ngày giờ một chút. Xin hẹn rằng vào trung tuấn tháng chín mới đến Thăng Long được” (…)


 


Đến một bức thư khác, Quang Trung lại viện cớ được tin có hơn 100 chiếc thuyền “lạ”, trưng cờ Thanh và khí giới Thanh đang cướp bóc cư dân vùng duyên hải nên phải vội quay về Phú Xuân.


 


Đến bức thư dưới đây, Quang Trung lại viện nhiều lý do khác để từ chối việc ra Thăng Long tiếp đón sắc thư và bài thơ do chính Càn Long viết đề tặng:


 


“(…) Tiểu phiên từ khi tiếp được hồi thư của tượng tướng [tướng chỉ huy tượng binh] là Phan Văn Lân và Nguyễn Văn Danh, liền định đến ngày 28 tháng 8 [Kỷ Dậu, 1789] sẽ từ Nghệ An ra đi về đến thành Thăng Long bái nghinh sắc thư và ngự thi, luôn dịp sẽ yết kiến hai vị “đại viên vào việc” nữa. Rồi thành tâm mời họ đi thành Phú Xuân làm lễ tuyên phong…, thế mới thỏa thuê được bản nguyện


 


“Ngặt vì gần nay ứng phó nhọc nhằn, xông pha nắng gió, chợt bị cảm chứng thương hàn! Đến ngày, tôi đã sức tướng sĩ bộ hạ sửa soạn chỉnh tề và đã gượng bệnh ra đi. Nhưng khi đi đến địa phận huyện Đông Thành trấn Nghệ An, cách Nghệ An một ngày đương thì vừa gặp tiết cuối thu, khí lạnh xâm lấn vào da thịt  mình mẩy, chứng cũ lại tăng thêm, không sao đi gượng được nữa! Tôi đành phải quay thuyền về thành Nghệ An để điều trị, trôngngóng thư loan sẽ đến. Chưa thể thân đi bái nghênh, thật có điều áy náy không đành. Xin kính sai thân tử là Nguyễn Quang Thùy, võ thân thần Ngô Văn Sở, văn thân thần Loan Hồi Đại và Ngô Thì  Nhậm kính đến thành Thăng Long, đợi đón hai vị “đại viên vào việc”. Lại sai tướng sĩ trấn thủ thành Thăng Long hộ vệ long đình, nhằm đường Nghệ An tiến phát. Tiểu phiên xin kính cẩn đợi ở trong thành. Khoảng mưới lăm ngày, nếu có khỏi, sẽ xin tiếp đón hai vị “đại viên vào việc” cùng vô thành Phú Xuân để tuyên thị sắc thư và ngự thi…”


 


            + Sứ bộ Giả vương Quang Trung:


 


+ Tác giả Lê Nguyễn Lưu, qua xác minh chủ nhân bia mộ bà Hoàng Thị Nghĩa ở Phò Ninh, huyện Quảng Điền, đã làm sáng tỏ nhân vật Trị An hầu ghi trên bia chính là nhân vật Phạm Công Trị, vị giả vương Quang Trung đi sứ Trung Quốc vào năm 1790 và là con của thái úy Phạm Công Hưng, một trọng thần của triều Tây Sơn, là anh em ruột với bà Phạm Thị Liên (chánh cung hoàng hậu, mẹ của vua Cảnh Thịnh.


            Cụ thể hơn: theo Liệt truyện chính biên, Phạm Công Trị là cháu bên vợ của vua Quang Trung (“Huệ bèn lấy cớ bị ốm, dần dà mãi rồi mới sai cháu là Phạm Công Trị đóng giả mà đi”), càng minh chứng “Trị An hầu” được khắc trên bia mộ chính là Phạm Công Trị (khác với “giả vương” Nguyễn Quang Thực đóng vai Quang Trung tiếp chiếu phong vương tại Thăng Long cuối năm 1789 được chép trong Hoàng Lê nhất thống chí [?]) (Văn khắc thời Tây Sơn ở Huế – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


+ “Sứ bộ của Việt Nam năm 1790 gồm 250 người đã có mặt nhân dịp Càn Long mừng thọ 80 tuổi, được đón tiếp long trọng ở Bắc Kinh và ở đây 4 tháng. Trong thời gian này, nhà Thanh đã chi phí cho việc đón tiếp “An Nam quốc vương” mất 800 ngàn lạng bạc, một trường hợp chưa từng có trong lịch sử quan hệ giữa hai nước” (G.F.Murasêva – Khởi nghĩa Tây Sơn ở Việt Nam và lập trường của nhà Thanh (1771-1802) - Phong trào nông dân Tây Sơn dưới mắt người nước ngoài (trích dịch) – Nxb Tổng Hợp Nghĩa Bình 1988, tr.77).


 


+  Quang Trung “đòi lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây”? 


 


“Trongsách sử Việt Nam hiện nay, người ta cho rằng sự kiện Nguyễn Huệ đòi chiếm hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây là đáng tin… Sự kiện này liên quan đến sứ bộ Vũ Văn Dũng được Nguyễn Huệ cử sang Trung Hoa tháng 4-1891. Hình như vấn đề này được sứ bộ đặt ra trước hoàng đế. Hơn nữa, Văn Tân chẳng hạn, cho rằng hình như Càn Long đồng ý cắt đất Quảng Tây với tư cách của hồi môn cho công chúa Trung Hoa sẽ gả cho Nguyễn Huệ. Nhưng sứ bộ Vũ Văn Dũng đang còn ở trên đất Trung Hoa thì được tin Nguyễn Huệ từ trần ở Phú Xuân tháng 7-1892. Mưu toan về lãnh thổ của Nguyễn Huệ không trở thành sự thật.


 


            “Hiện nay không có điều kiện để xem xét tính đáng tin cậy của sự kiện đó, vì chỉ có một quyển sách duy nhất về đề tài này với dẫn liệu trong nguồn sử liệu ở Hà Nội, trong Thư viện quốc gia. Các nguồn sử liệu Trung Hoa không nói gì đến vấn đề này”  (G.F.Murasêva – Khởi nghĩa Tây Sơn ở Việt Nam và lập trưòng của nhà Thanh (1771-1802) - Phong trào nông dân Tây Sơn dưới mắt người nước ngoài (trích dịch) – Nxb Tổng Hợp Nghĩa Bình 1988, tr.78).


           


            (11)   QUAN HỆ VỚI MIẾN ĐIỆN VÀ CHÂN LẠP


 


            +  Vua Miến Điện đã hai lần cử sứ giả đến giao hiếu với vương triều Quang Trung. Phan Huy Ích được giao nhiệm vụ đón tiếp sứ giả đã ghi lại sự kiện ngoại giao này trong hai bài thơ được chép lại trong “Dụ am thi tập”. Lời tiểu dẫn của bài thơ cho biết bức thư của vua Miến Điện phải qua bốn lần phiên dịch mới chuyển được sang tiếng Việt.  Quốc thư có đoạn: “Ngày đầu năm đã sai sứ thần đi qua các xứ Tôn, Lão Lễ hỏi thăm đường sang An Nam để giao thiệp. Bên mặt trời lặn, bên mặt trời mọc, cũng là một trời, chẳng lấy gì làm xa lắm. Từ nay bắc cầu vàng, cầu bạc đi lại với nhau thì càng thêm bền chặt, tươi đẹp” (dẫn theo Phan Huy Lê – Tác động và ảnh hưởng của Phong trào Tây Sơn trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XVIII – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


+ “Chân Lạp là nạn nhân của sự can thiệp và xâm lấn của phong kiến Xiêm, Nguyễn nên cuộc kháng chiến chống Xiêm của Tây Sơn đã nhận được sự đồng tình va ủng hộ của nhiều người dân yêu nước Chân Lạp.


Năm 1782, khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Anh phái Nguyễn Hữu Thụy và Trần Xuân Trạch sang cầu cứu vua Xiêm. Trên đường qua đất Chân Lạp, phái đoàn sứ giả của Nguyễn Anh đã bị người Khmer giết chết. Sử triều Nguyễn ghi nhận hiện tượng này và cho rằng do “Chân Lạp ngầm giúp Tây Sơn” (Thực lục).


 


Một ngươi Khmer được Nguyễn Huệ dùng làm sứ giả: Trong trận Rạch Gầm-Xoài mút, “một số người Chân Lạp yêu nước chống Xiêm đã ủng hộ quân Tây Sơn mà tiêu biểu là một người Khmer được Nguyễn Huệ dùng làm sứ giả đến “giảng hòa” với tướng Xiêm để thăm dò lực lượng và dử địch vào cạm bẫy ở trận địa Rạch Gầm-Xoài Mút (Mạc Thế Doanh – Mạc thị gia pha ) (dẫn theo Phan Huy Lê – Tác động và ảnh hưởng của Phong trào Tây Sơn trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XVIII – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


 (12)   KẾ HOẠCH ĐÁNH NGUYỄN ÁNH Ở GIA ĐỊNH 


 


+ Thư của giáo sĩ Le Labousse: “Tháng 2 năm 1792, chúng tôi phải rời bỏ con chiên để tránh quân Tây Sơn. Họ sẽ kéo đến vài chục ngàn người, do đường Lào tiến vào Cao Miên. Người Cao Miên cũng dự tính theo họ nữa. Nguyễn Huệ sẽ đem hải quân ngăn chặn các cửa biển Nam Kỳ. Nếu dự định này được thi hành thì nhà vua [Nguyễn Anh] và chúng tôi chỉ còn chờ chết. Nhưng nhờ ơn trên, dự định này không thấy thi hành. Chắc quân Tây Sơn e ngại các chiến hạm của người Au châu đóng đầy sông Sài Gòn do việc buôn bán” (Tham khảo: Quách Tấn-Quách Giao – Nhà Tây Sơn – Nxb Trẻ, 2000, tr.161).


 


+ “Sau khi bài hịch phát ra 19 ngày, kế hoạch tiến công chắc chắn đã được chuẩn bị chu đáo nhưng chưa kịp thực hiện thì Quang Trung từ trần đột ngột ngày 29-7 năm Nhâm Tý tức ngày 15-9-1792. Trước khi mất, Quang Trung còn trăn trối về mối “quốc thù Gia Định”. Đây là một tổn thất vô cùng to lớn, tạo cơ hội cho Nguyễn Anh và tư bản Pháp thoát đòn trừng phạt và tiêu diệt của quân đội Tây Sơn do Quang Trung đích thân chỉ huy và sau đó có thể phát triển để cuối cùng do sự suy yếu của vương triều Tây Sơn, đánh bại vương triều này lập ra vương triều Nguyễn” (Phan Huy Lê – Tác động và ảnh hưởng của Phong trào Tây Sơn trong bối cảnh khu vực cuối thế kỷ XVIII – Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


+ Chỉ Nguyễn Huệ mới có được một nhãn quan chính trị bên cạnh thiên tài quân sự của ông. Chỉ có ông mới tổ chức được vương quốc của mình và đẩy nền kinh tế tiến lên. Ông thấy hiểm họa ở con người Nguyễn Anh và tự mình chuẩn bị cuộc tấn công, nhưng bất ngờ ông chết. Cái chết sớm đó phải chăng là một sự ngẫu nhiên của lịch sử đã làm thay đổi bộ mặt của sự vật? Chỉ Nguyễn Huệ mới có khả năng đánh bại Nguyễn Anh như ông đã đánh bại họ Trịnh, nhà Lê và quân Trung Hoa” (Lê Thành Khôi – Histoire du Viet Nam des origines à 1858 – Paris 1981)


 


(13)  VỀ CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT CỦA QUANG TRUNG


           


+ Theo Sử triều Nguyễn: “Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm?, Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng…”


.


            Có người bảo nhà vua bị “thượng mã phong”. Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân công chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu.


 


            Thiết tưởng vua Quang Trung chết chỉ vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu, dân gian gọi là “trúng gió”. (Tham khảo: Quách Tấn-Quách Giao – Nhà Tây Sơn – Nxb Trẻ, 2000, tr.152).


 


            + Bài thơ của Phan Huy Ích:


      


                        Mộng thành xuy cữu vị thi ai,


                        Cảm trọng di cung thất phụng bồi


                        Quốc kế gia tình đa củ kết,


                        Phong thần nguyệt tịch độc bồi hồi.


                        Trần hoàn bào ánh phù sinh ảo (huyễn),


                        Hải điện bình bồng lữ mộng thôi.


                        Sắc ngộ tự tàm khuê phận nghị


                        Cô tung yếu hướng cố sơn lai


      “Thu phụng quốc tang cảm thuật” [1892]


 


            Dịch nghĩa:


                        Mùa thu gặp Quốc tang, cảm động thuật lại


                        Giấc mộng thấy vợ chết (1) còn xót thương chưa nguôi,


            Thì đã cảm động việc vua mất (2) không được hầu hạ nữa.


                        Việc nước tình nhà trăm mối bên lòng bận bịu,


            Đêm trăng ngày gió tấc riêng luống những bồi hồi!


                        Kiếp người ta khác nào bọt nước và bóng sáng,


                        Giấc mộng nơi đất khách làm cho ta cảm thấy


                                                cảnh bình bồng trôi giạt trên mặt nước.


                        Gặp gỡ không may, riêng hổ thẹn trái với tình nghĩa vua tôi.


                        Gót chân cô đơn muốn trở lại nơi núi cũ (3)


 


Theo lời chua của tác giả thì ngày 6 tháng 6 năm ấy, vâng lệnh triệu tập của triều đình, ông ở Bắc lên đường đi vào Nam (Huế). Vợ ông lúc ấy đang ốm nặng, ông phải dứt tình ra đi, đến nơi được vua Quang Trung thân mật yên ủi. Trung tuần tháng 7, được tin vợ chết, ông đang buồn rầu thì vua Quang Trung cũng qua đời.


 


---------------


Vợ chết: dịch ý bốn chữ “Mộng thành xuy cữu” nghĩa là mộng thấy lấy cối nấu cơm. Ngày xưa Trương Chiêm đi xa nhà đã lâu ngày, sắp trở về bỗng nằm mơ thấy lấy cối nấu cơm, vì không có nồi (phủ). Tiếng Trung Hoa “phủ” là nồi, đọc giống “phụ” là vợ, nên có người đoán: vợ ông ở nhà đã chết. Khi Trương Chiêm về đến nhà thì quả vợ đã mất. Tác giả mượn điển này để nói vợ ông vừa mới mất trong lúc ông xa nhà.


Vua mất: dịch nghĩa hai chữ “di cung”, bỏ mất cung – lấy điển vua Hoàng Đề cỡi rồng ở Dỉnh Hồ, các bầy tôi muốn theo mà không kịp. Ở đây tác giả muốn nói vua Quang Trung mất.


Núi cũ: tức Sài Sơn, tác giả có nhà ở gần núi ấy. Lần này ông chưa được về, còn phải giúp vua Quang Toản mãi đến năm 1802, dưới triều Gia long ông mới được trở về cố sơn, làm nghề dạy học.


(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Tập III - Thề kỷ XVIII-Giữa thế kỷ XIX – NXB Văn Hóa, 1963)


           


            +  VÊ LĂNG MỘ QUANG TRUNG


 


Tác giả Nguyễn Đắc Xuân đã công phu sưu tầm nghiên cứu về lăng mộ Hoàng đế Quang Trung và đưa ra giả thiết: Phủ Dương Xuân trên gò Dương Xuân là nơi trú tất của các chúa Nguyễn vào những tháng mùa đông. Nhà Tây Sơn đã chiếm phủ Dương Xuân để làm hành cung, về sau chuyển thành cung điện rồi xây lăng Đan Dương của vua Quang Trung. Triều Nguyễn cho đập phá và chôn sâu lăng Đan Dương xuống đất, số phận của phủ Dương Xuân cũng bị chôn vùi theo (Kỷ yếu HTKH “Phú Xuân-Thuận Hoá thời Tây Sơn” – Huế, tháng 12-2001).


 


Trong bài viết nhan đề “Những giả thiết trên đường đi tìm lăng mộ vua Quang Trung”, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang An điểm lại quá trình tìm hiểu vấn đề này của giới sử học cả nước trong hơn nửa thế kỷ qua. Xin trích lược như sau:


 


            Sau khi vua Gia Long lên ngôi, lăng mộ Tây Sơn không chỉ bị phá, mà mọi dấu tích cũng không còn. Vậy vị trí lăng mộ vua Quang Trung ở đâu? Huế, Hà Nội, Nghệ An hay Bình Định? Người đầu tiên khơi dậy vấn đề đi tìm lăng mộ vua Quang Trung là L.Cadìere, rồi Nguyễn Thiệu Lâu, Bửu Kế, Lê Văn Hoàng, Phan Huy Lê, Đỗ Bang, Phan Thuận An, Nguyễn Hữu Đính, Nguyễn Đắc Xuân v.v…


 


            1/ Mộ cổ Linh Đường (Hà Nội)?  Kết quả khai quật năm 1989 xác định chủ nhân của ngôi mộ không phải là vua Quang Trung, mà là của một phụ nữ ngoài 60 tuổi (căn cứ số đo nhân học của tử thi).


 


            2/ Lăng Ba Vành (Huế)?  Theo Thực lục, sau khi chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Anh đã ra lệnh “phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ”. Lại theo Liệt truyện, mùa đông năm 1802 “đào phá mộ Nhạc, mộ Huệ, đem giã hài cốt vứt đi, giam đầu lâu vào nhà ngục…”. Nhưng qua nghiên cứu toàn văn tấm bia dựng trước lăng Ba Vành, tác giả Trần Đại Vinh khẳng định đó là lăng mộ của Lê Quang Đại, Hộ bộ kiêm Binh bộ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1745.


 


            3/ Giả thuyết mới của Nguyễn Đắc Xuân:


 


     + Có một cung điện mang tên “Đan Đương” qua một bài thơ của Ngô Thì Nhậm  có câu “Đan Dương cung điện nhật tam thu” với chú thích: “Cung điện Đan Dương là Sơn Lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta”; và một bài thơ của Phan Huy Ích có câu “Khúc Đan Dương ở trước mặt, muôn nỗi cảm hoài”. Từ những tín hiệu trên về “Đan Dương”, Nguyễn Đắc Xuân cho rằng: vua Quang Trung có một cung điện mang tên Đan Dương ở vùng núi. Sau khi ông mất, cung điện này được chuyển làm lăng của vua với các tên gọi “Đan Lăng”, “Đan Dương Lăng” hay “Sơn Lăng”, nhưng chưa rõ địa điểm cụ thể ở đâu.


 


     + Vẫn theo Liệt truyện, Nguyễn Huệ chết “táng vu Hương Giang chi nam”, Nguyễn Đaắc Xuân suy ra 3 điều: 1. Lăng mộ Quang Trung ở Huế; 2. Lăng mộ gần bờ sông, lấy sông Hương làm chuẩn; 3. địa điểm mộ táng phải ở một vị trí cao trên địa bàn phía nam sông Hương thường bị ngập lụt.


 


            Từ những suy xét trên, Nguyễn Đắc Xuân tập trung khảo sát một địa điểm của phủ Dương Xuân cũ và nêu giả thuyết: Do cung phủ ở Kim Long hay ở Phú Xuân thường bị ngập lụt, năm 1680 chúa Nguyễn Phúc Tần dựng một hành cung trên gò Dương Xuân để ở vào những tháng thu đông, về sau có tên gọi là phủ Dương Xuân. Năm 1786, Nguyễn Huệ cho xây thành xung quanh phủ Dương Xuân làm dinh riêng và năm 1788 được sửa chữa thành cung điện Đan Dương. Năm 1792, Nguyễn Huệ mất; để giữ bí mật, thi hài ông được táng ngay trong khu vực Đan Dương, từ đó gọi là lăng Đan Dương. Năm 1801, lăng Đan Dương bị đào phá chôn sâu xuống đất nhằm xóa mọi dấu tích của Tây Sơn (Tham khảo: Nguyễn Đắc Xuân – Đi tìm lăng mộ vua Quang Trung – Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội 1992).


 


+  CÁC BÀ VỢ VÀ CÁC CON CỦA VUA QUANG TRUNG


 


            Vua Quang Trung vốn có 3 bà vợ:


            + Bà vợ thứ nhất người họ Phạm ở thôn Phú Phong, huyện Tuy Viễn, sinh được hai người con trai Nguyễn Quang Thùy,Nguyễn Quang Bàn rồi mất sớm.


            + Bà họ Phạm mất rồi, nhà vua mới kết duyên với bà họ Bùi ở thôn Xuân Hòa, huyện Tuy Viễn. Bà này sinh ra: Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thiệu, Nguyễn Quang Khanh và hai người con gái.


            + Công chúa Ngọc Hân là bà thứ ba, sinh được một người con trai là Nguyễn Văn Đức và một người con gái là Nguyễn Thị Ngọc.


 


            Sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung lập Nguyễn Quang Toản làm Thái tử, phong cho Nguyễn Quang Thùy làm Khanh Công Lĩnh Bắc Thành, phong cho Nguyễn Quang Bàn làm Tuyên Công Lĩnh Thanh Hóa Đốc trấn. Khi vua Quang Trung mất, Quang Thùy đã 18 tuổi, Quang Bàn 17 tuổi, Quang Toản mới lên 10. (Nguyễn Xuân Nhân – Các ngôi sao Tây Sơn – Nxb Văn Nghệ Tp.HCM 2001, tr.158).


 


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 


 







(*)  Đại Việt quốc thư là một tập tư liệu, hồ sơ gồm các bức thư, công văn giao thiệp giữa nhà Tây Sơn và nhà Thanh trong năm 1789, cách đây hơn 210 năm. Sách do Hoàng Văn Hòe dịch; năm 1994 Nhà xuất bản Thuận Hóa in lại có sửa chữa bổ sung. Xin đọc thêm bài viết của Nguyễn Vinh Phúc:“Đón một sứ bộ nhà Thanh cách đây 210 năm”(Tạp chí Thế Giới Mới, số 365, 6-12-1999).



trieuxuan.info