29.12.2009
Nguyễn Phan Quang
Phong trào Tây Sơn và AHDT Quang Trung (15)

CHƯƠNG NĂM


 


PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ


            Trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài của chế độ quân chủ chuyên chế, tình hình kinh tế nước ta vào cuối thế kỷ XVIII tiêu điều, xơ xác. Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của tầng lớp địa chủ ngày càng diễn ra khốc liệt. Chính sách thuế khóa, phu dịch nặng nề và bộ máy quan lại thối nát thời Trịnh-Nguyễn càng đẩy nhanh sự phá sản của đông đảo nông dân.


 


            Thêm nữa, trải qua hàng thế kỷ phân liệt, nội chiến, tiếp đến phong trào nông dân rầm rộ suốt thế kỷ XVIII và kháng chiến chống ngoại xâm, ruộng đất trong nước bị bỏ hoang rất nhiều. Nông dân bần cùng, phiêu tán, nhiều xóm làng trở nên hoang vắng. Sử cũ chép: “Khoảng đời Cảnh Hưng [1740-1786], Chiêu Thống [1787-1789] luôn năm mất mùa đói kém, dân gian trôi giạt lưu ly, cha con không thể nuôi nhau, anh em không thể nương nhau”. Riêng vùng Thanh Hóa, năm 1789 “một hạt thóc cũng không có, nhân dân đói khổ; lại sau cuộc binh hỏa, dịch khí thịnh hành, chết không biết bao nhiêu mà kể”. Ở Nghệ An, tình hình cũng diễn ra tương tự.


 


Trong bức thư Nguyễn Thiếp gửi Quang Trung cuối năm 1789 có đoạn: “Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên. Nghệ An đất xấu, dân nghèo… Kẻ cày cấy ít mà kẻ đợi ăn nhiều. Gặp năm mất mùa, dịch tễ, kẻ thì chết đói, người thì xiêu bạt, mười phần chỉ còn lại năm sáu mà thôi. Nay mùa khô khan, đồng ruộng bỏ hoang, ruộng cấy rất ít”(Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn – Sđd, tr.140)..


 


            Sau khi đại phá quân Thanh, Quang Trung nhìn thấy vấn đề cấp thiết trước mắt là phải nhanh chóng giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang, tận dụng sức lao động vào sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở đó mà bước đầu phục hồi nền kinh tế tiểu nông đang bị phá hoại nghiêm trọng.


 


1/  Chiếu khuyến nông


 


            Năm 1789, Quang Trung ban bố Chiếu khuyến nông, đề ra những biện pháp tích cực nhằm giải quyết nạn lưu vong va tình tạng ruộng đất bỏ hoang, với những nội dung chủ yếu như sau:


 


            - Dân phiêu tán đều phải trở về quê quán nhận ruộng cày, ngoại trừ những người ngụ cư đã sinh cơ lập nghiệp ở nơi khác trên ba đời thì cho nhập tịch ở xã ấy. Xã nào chứa chấp người trốn tránh thì bản thân người trốn tránh và cả xã trưởng sở tại đều bị trừng phạt. Bọn lưu manh trốn lao động, ẩn nấp trong các chùa chiền cũng phải “hoàn tục”, trở về quê làm ăn lương thiện.


 


-  Những nông dân lưu tán trở về quê được cấp ruộng đất công cày cấy. Quá thời hạn quy định mà không thanh toán hết diện tích thì ruộng đất công bỏ hoang sẽ phải nộp thuế gấp đôi, ruộng đất tư bỏ hoang sẽ bị tịch thu làm ruộng công.


 


Sau đây là nội dung “Chiếu khuyến nông” chép trong Hàn các anh hoa  của Ngô Thì Nhậm (Hoa Bằng dẫn, Sđd, tr.284):


 


“Từ khi binh lửa luôn năm, lại thêm những nỗi đói kém, nhân dân xiêu dạt, đồng ruộng bỏ hoang, nên thực số đinh điền không bằng bốn, năm phần  mười thuở trước.


 


“Phàm những dân nào trước đó kiều ngụ tha phương, trốn tránh dao dịch, hoặc vì có thê hương mẫu quán mà đến ở, hoặc vì đi buôn bán làm ăn mà ngụ cư, hễ được vào làng ở sở tại từ ba đời trở lên thì mới cho ở, còn ngoài ra bắt về bản quán hết thảy, biệt xã không được chứa chấp. Những ruộng công ruộng tư đã trót bỏ hoang, nay đều cho về nhận lấy cày cấy, không được bỏ bê trễ, để đến nỗi số ruộng thực khẩn phải chịu khống thuế mãi.


 


“Các sắc mục, các xã trưởng và các thôn trưởng sở tại phải xét số đinh thực tại có bao nhiêu suất, rồi xem số thực điền đã thực khẩn được bao nhiêu mẫu, số hoang điền mới khai khẩn được bao nhiêu mẫu, đều phải đăng vào sổ bộ, nộp lên các viên phân suất, phân tri ở huyện mình để họ chuyển đệ lên triều đình. Triều đình sẽ phái quan khâm sai đi khám lại cho đúng sự thực, bấy giờ mới sẽ liệu định việc bổ thuế cho công bằng.


 


“Nếu xã nào cứ chứa những người ngụ cư mà không bắt họ phải quay về nguyên quán, nếu những người trốn tránh ấy cứ lần lữa không chịu về, và nếu thấy ai biết chuyện mà cáo tỏ ra thì những sắc mục, xã trưởng sở tại và những kẻ trốn tránh ấy sẽ đều phải trị tội cả.


 


“Xã nào ruộng hoang đã đến hạn mà vẫn chưa nhận lấy khai khẩn thì cứ do viên sắc và hộ hạng xã ấy phải chịu trách nhiệm về việc đóng thuế ruộng công chiếu theo ngạch thuế điền cũ mà nộp gấp đôi. Ruộng tư một khi đã sáp nhập làm ruộng công thì thuế đóng cũng như ngạch thuế công điền” (*).


 


            Việc giải quyết tình trạng phiêu tán và thanh toán ruộng bỏ hoang là hai biện pháp chủ yếu về nông nghiệp liên quan khắng khít với nhau. “Chiếu khuyến nông” của Quang Trung đã giải quyết đúng hai yêu cầu trước mắt đó. Nhờ vậy, trong vòng vài ba năm sản xuất nông nghiệp được phục hồi nhanh chóng. Sử cũ chép: “[năm 1791] mùa màng trở lại phong đăng, nămphần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình”. Bài phú Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng phần nào phản ánh tình hình này:


 


“…Tới Mậu Thân [1788] từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công đãng tịch;


   Qua Canh Tuất [1790] lại tưới cơn thời vũ, cỏ cây đều gội đức chiêm nhu…”(Phụ lục 6) .


 


Ý thức được nỗi đau của dân tộc mình thông minh, quật cường là thế, mà phải sống tủi nhục trong cảnh đói nghèo, Quang Trung quyết không trở lại vết xe cũ khi hoạch định đường lối dựng nước và những cải cách về nông nghiệp và ruộng đất nói riêng.


 


Cho đến nay, những người nghiên cứu đều nhận thấy một sự thực là: trong ngót bốn năm ở ngôi (1789-1792), khi hàng loạt chính sách cải cách được ban hành, thì về vấn đề ruộng đất hình như Quang Trung không chủ trương quay trở lại chế độ “quân điền” đã quá lỗi thời của các triều đại trước kia. Hẳn rằng mục đích cấp bách của Chiếu khuyến nông là nhằm khắc phục nhanh chóng nạn lưu vong và tình trạng ruộng đất bỏ hoang sau hàng thế kỷ loạn lạc kéo dài. Và nội dung Chiếu khuyến nông như chính tên gọi của tờ chiếu, chưa bao hàm một chủ trương “phân định điền sản” với đúng nghĩa của nó.


 


Vậy thì phải chăng Quang Trung không có ý định trói buộc người nông dân một lần nữa vào cơ chế ruộng đất làng xã kiểu cũ? Và phải chăng do những hạn chế khách quan và chủ quan chưa thể khắc phục ngay một lúc, Quang Trung cũng không thể táo bạo đề ra một chính sách ruộng đất mới khi chưa hội đủ những điều kiện hiện thực bảo đảm hiệu quả?  Chúng ta có cơ sở để suy đoán như vậy, vì thông thường một triều đại quân chủ tập quyền vừa mới thiết lập thì việc trước hết là ban hành quy chế phân chia ruộng đất cho các loại thần dân. Quang Trung có ngót bốn năm ở ngôi, nghĩa là có đủ thời gian cần thiết để thực hiện việc “quân điền” nếu Quang Trung muốn… Nhưng các nguồn tư liệu hiện có không cho thấy Quang Trung “đã ban hành chính sách quân điền”, như một vài người chép sử đã ghi bừa như vậy.


 


Thêm nữa, nhằm tranh thủ mọi nhân tố tích cực trong việc xây dựng bộ máy chính quyền mới, Quang Trung vẫn buộc phải để cho địa chủ, quan lại thời Lê-Trịnh, Nguyễn được bảo tồn nguyên vẹn cơ sở ruộng đất của họ, nếu họ chịu ra làm việc cho chính quyền mới, hoặc ít nhất là không có hành động đối kháng. Và như vậy thì nguồn gốc của nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vẫn chưa được hạn chế, những điều kiện giúp kinh tế tiểu nông phát triển thuận lợi vẫn chưa có bảo đảm vững chắc hơn. (1)


 


1/  Xóa bỏ “bế quan tỏa cảng”


 


            Nếu như những biện pháp “cởi trói” cụ thể hơn của Quang Trung đối với nông dân chưa được lịch sử ghi lại (hoặc chưa phát hiện được tư liệu mới?), thì những biện pháp nhằm đẩy mạnh giao lưu, phát triển kinh tế hàng hóa, “mở cửa” đất nước… lại đã được phản ánh đậm nét trong nhiều nguồn tư liệu, thể hiện rõ chủ trương xóa bỏ hẳn chính sách “ức thương” và “bế quan tỏa cảng” của các triều đại quân chủ trước đó.


 


            Nhờ vậy, tình hình công thương nghiệp bị đình trệ hàng thế kỷ được phục hồi dần. Trong lần hội kiến với Nguyễn Thiếp ở Nghệ An hồi cuối năm 1788 (trên đường ra đánh quân Thanh), Quang Trung nói lên hoài bão xây dựng một nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, có thể bảo đảm mọi nhu cầu thiết yếu cho nhân dân.


 


Quang Trung nói: “Tôi mà dẹp được giặc Tàu xong, thì xin rước Thầy ra dạy học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng mua của nước Tàu”. Nguyễn Thiếp đáp: “Chỉ có thuốc bắc phải dùng của Tàu mà thôi” (dẫn theo Lê Thúc Thông – Nam Phong, số 102).                       


 


Quang Trung không chủ trương cắt đứt quan hệ buôn bán với nước ngoài, nhưng muốn kinh tế trong nước không bị lệ thuộc vào ngoại quốc. Với tinh thần đó, Quang Trung bắt tay thực hiện những biện pháp nhằm phục hồi và phát triển công thương nghiệp trong nước đồng thời với việc mở rộng quan hệ ngoại thuơng.


 


            Như cách nói ngày nay, rõ ràng “tư duy kinh tế” của các thế hệ thời Quang Trung đã được đổi mới mạnh mẽ, thậm chí làm chuyển biến sâu sắc những sĩ phu vốn được nhào nặn bằng học thuyết Khổng Mạnh. Chọn đúng hướng đi phù hợp với thời đại và hoài bão của dân tộc, những sĩ phu này bắt đầu tự giác “kiểm tra lại” những nhận thức giáo điều, xơ cứng về các vấn đề kinh tế- xã hội và về vai trò của công thương nghiệp nói riêng.


 


            Chúng ta hãy nghe Ngô Thì Nhậm phát biểu quan điểm “đổi mới” của mình. Trong một bài phú nhan đề Làm hay đi, Ngô Thì Nhậm viết:


 


            “… Vậy thì ta nên làm gì?


  …  Mưa thuận thời, ruộng đồng dào dạt, chỉ một cái cày là xong nghìn khoảnh ruộng,


      Gió hòa thổi, sóng biển êm đềm, chỉ một cánh buồm là hàng chở đầy thuyền,


      Gỗ lạt đã sẵn, gọi thợ đến, rìu búa giơ lên, thành xà thành cột,


      Việc nên làm, đó là việc nông công thương, há nhà nho ta không nghĩ đến hay sao?”.


 


(Trích “Kim mã hành dư” – Bản dịch của Nguyễn Văn Tư, Tạp chí Triết học, số 1-1973, tr.216).


 


                 Mấy năm dưới triều Quang Trung, hoạt động công thương trong nước - nhất là ở Thăng Long – có nhiều khởi sắc. Các trung tâm thủ công nghiệp cũng dần dần được phục hồi. Nhà thơ Cao Huy Diệu tuy không thích chế độ Tây Sơn, cũng đã ghi nhận sư phát đạt ở trung tâm đồ gốm Bát Tràng bấy giờ với “chợ phố đông đúc, hàng bày đầy ắp, mái chèo đi lại tới tấp…”(*) (1).


 


Cảnh hoang tàn của Thăng Long thời Lê mạt “buổi ấy cũng góp phần tang hải; sáu thu trời bao xiết nỗi hoang khô” đã biến mất để nhường chỗ cho những hoạt động công thương rộn rịp. Thăng Long sống lại với “lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngút”, với “thoi oanh nọ ghẹo hai phường dệt gấm; lửa đóm nhen năm xã gây lò”, với “chày Yên Thái nện trong sương chuểnh choảng; lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co”, với cảnh buôn bán tấp nập “khách Ngô, Sở chợ Tây ngồi san sát, “rập rềnh cuối bãi đuôi nheo; thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm” v.v…


 


            Quang Trung chủ động đặt quan hệ ngoại thương, trước hết với nhà Thanh, đấu tranh yêu cầu nhà Thanh “mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngưng đọng, để làm lợi cho sự tiêu dùng của dân” (*). Cuối cùng nhà Thanh phải đồng ý cho dân hai nước được qua lại buôn bán ở một số cửa ải dọc biên giới. Các thương nhân có thể qua ải Bình Nhi và Thủy Khẩu đến buôn bán ở phố Mục Mã (Cao Bằng), Hoa Sơn (Lạng Sơn), hoặc qua ải Du Thôn đến buôn bán ở phố Kỳ Lừa (Lạng Sơn).


 


Về các cửa ải ở biên giới Việt-Trung hồi cuối thế kỷ XVIII-đầu thế kỷ XIX, sách Đại Nam nhất thống chí (bản dịch của Viện Sử học, Tập IV, tr.367-368) chép:


 


“Ải Du Thôn cách tỉnh thành {Lạng Sơn] 30 dặm về phía bắc, ở địa phận Du Thôn, xã Bảo Lâm, châu Văn Uyên, phía bắc giáp thôn Điếu Sách, châu Thượng Thạch nước Thanh; từ ải này đến trấn Nam Quan đi theo đường núi, ước hết hai trống canh rưỡi, phàm công việc giao tống công văn và khách buôn qua lại, đều do cửa ải này.


 


“Bắc Thành dư địa chí của Lê Đại Cương chép: bên tả Nam Quan có 5 cửa ải, theo thể lệ không được giao thông đi lại: 1/ ải Bình Nhi ở địa giới Long Châu nước Thanh, 2/ ải Cảm Môn ở địa giới châu Hạ Đống nước Thanh và địa phận thôn Cự Khánh, huyện Thất Khê {Lạng Sơn], 3 / ải Cổ Thành ở địa phận châu Hạ Đống giáp giới xã Nghĩa Thầm, huyện Thất Khê, 4/ ải Nguyệt Hoa ở địa giới châu Hạ Đống, giáp địa phận xã Bình Lăng, huyện Thất Khê cùng đồn Na Lạn, châu Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng.


 


“Lại bên hữu Nam Quan có 6 cửa ải: 1/ ải Du Thôn (đã chép ở trên, 2/ ải La, theo thể lệ không giao thông đi lại (hai cửa ải dưới đây cũng thế); ải La ở địa phận châu Ninh Minh, giáp địa phận xã Trừ Trị, châu Thoát Lãng, 3/ ải Khấu Sơn ở địa giới châu Ninh Minh, giáp địa phận xã Suất Lễ, châu Lộc Bình, 4/ Mã Ải ở địa giới châu Tư Lăng, giáp địa phận xã Suất Lễ, châu Lộc Bình, 5/ Tiệm Ải ở địa phận châu Tư Lăng, giáp địa phận thôn Trị Mã, xã An Khoái, châu Lộc Bình, 6/ ải Na Thôn, ở địa giới châu Tư Lăng, giáp địa phận xã Tĩnh Gia, châu Lộc Bình và giáp đồn Định Lập, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên”.


 


Năm 1790, Quang Trung lại đề nghị với nhà Thanh cho lập một cửa hàng ở Nam Ninh (Quảng Tây) làm cơ quan giới thiệu và trao đổi hàng hóa. Nhờ vậy, quan hệ buôn bán giữa hai nước ở vùng biên giới từng bị gián đoạn hoặc suy tàn trong một thời gian dài lại được phục hồi dần.


 


            Đối với thuyền buôn của các nước tư bản phương Tây, Quang Trung tỏ ra rộng rãi, dành cho họ những điều kiện dễ dàng, muốn họ tăng cường buôn bán với nước ta. Một số thư từ, hồi ký của giáo sĩ, thương nhân phương Tây đương thời cho thấy thái độ thiện cảm của họ đối với Tây Sơn và triều Quang Trung nói riêng(*).


 


Trong bức thư của thừa sai Sérard viết từ Bố Chính gửi Blandin ở Paris hồi tháng 5-1792 có đoạn:


 


“Ong Girard được cử làm thầy thuốc cho Tiếm vương [ý nói: Quang Trung] ở Phú Xuân… Có lẽ tôi phải yêu cầu ông ấy đích thân mang thư, nếu Tiếm vương bắt ông ấy đi Quảng Châu mời người Au châu đến kinh đô buôn bán, như ông đã dự định năm ngoái….


 


“Năm ngoái, ông ta [Quang Trung] muốn gửi tôi đi Ma Cao kêu gọi người châu Au đến buôn bán tại vương quốc của ông… Năm nay có cơ hội, một chiếc tàu từ Ao Môn tới và một chiếc tàu khác từ Ma-Ni qua, vì bất bình với việc làm ăn ở Đồng Nai, nên đến đất Tiếm vương nơi tôi ở và bán cho ông ta 100.000 cân lưu huỳnh…”.


 


Trong một thư khác gửi Boiret, thừa sai Sérard cho biết: “Họ [ý nói: Tây Sơn] muốn nhiều tàu bè Au châu đến hải cảng của họ với những hàng hóa mà họ đòi hỏi… Một chiếc từ Ma Cao đến đã được tiếp đãi tử tế. Tôi tin rằng tàu này chở nhiều hàng hóa cho Tiếm vương [Quang Trung] và triều đình ông ta”.


 


Năm 1796, một giáo sĩ Pháp viết: “Lúc bấy giờ chúng tôi được hưởng sự yên ổn ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Các quan lại đều chăm lo công việc. Họ suy tôn ba người lên cầm chính quyền…, những người yêu hòa bình, can đảm và được dân yêu mến”.


 


 Một người Anh tên là Crawfurd đến Việt Nam năm 1822 (triều Minh Mạng) viết: “Tôi đã gặp những thương nhân người Hoa ở Huế và nói chuyện với họ. Họ đã sống dưới cả hai chế độ Tây Sơn và chế độ nhà Nguyễn. Họ nói một cách khẳng định rằng anh em Tây Sơn cai trị công bằng và ôn hòa hơn nhà vua hiện nay [Minh Mạng] hay cha của ông ta [Gia Long]” (2).


 


            Nhưng bấy giờ các công ty tư bản phương Tâylại giao thiệp với Nguyễn Anh ở Gia Định nhiều hơn, vì họ muốn giúp Nguyễn Anh lật đổ Tây Sơn để thực hiện từng bước mưu đồ can thiệp và xâm lược. Nhiều thương nhân, giáo sĩ Anh, Bồ, Pháp… yêu cầu được viện trợ cho Nguyễn Anh đều không nằm ngoài mục đích ấy.


 


Trong vòng 5 năm ở ngôi, Quang Trung cho đúc tiền “Quang Trung thông bảo” gồm mấy chục loại khác nhau. Theo tác giả Đỗ Văn Ninh: “Tiền Quang Trung được lưu hành rộng rãi trên khắp nơi trong nước, kể cả miền biên viễn và hải đảo xa xôi. Về số lượng, tiền Quang Trung áp đảo tất cả mọi loại tiền Việt Nam và cả Trung Quốc được lưu hành đồng thời; địa bàn lưu hành chủ yếu là từ Bình Trị Thiên trở ra Bắc, nhưng ở các tỉnh phía Nam cũng lưu hành rất nhiều (3).


 


Vẫn theo Đỗ Văn Ninh: “sau khi kết thúc chiến tranh, đánh đuổi quân Thanh…, Nguyễn Huệ mở rộng việc buôn bán trong nước…, đề nghị nhà Thanh “mở cửa ải, thông chợ búa…”, mà một trong những khâu quan trọng của chính sách kinh tế mới là việc đúc tiền và lưu hành tiền”.


 


“Nếu tính chung triều đại Tây Sơn, với 25 năm ngắn ngủi (1778-1802), nhà Tây Sơn đã đúc 37 kiểu tiền [kể cả “Thái Đức thông bảo” của Nguyễn Nhạc và “Cảnh Thịnh thông bảo” của Quang Toản]. Kiểu tiền là 37, song loại tiền có số lượng lớn hơn. Nếu chỉ tính mỗi loại tiền là một lần đúc (thực ra mỗi loại tiền thường được đúc lại nhiều lần), tiền Tây Sơn đã được đúc trên 37 lần trong vòng 25 năm. Xem thế đủ biết nhà Tây Sơn đã cho lưu hành một số lượng tiền không nhỏ trong thời gian tồn tại của triều đại mình…


 


“Nhà Tây Sơn đã làm được một việc lớn mà từ đầu thời độc lập tự chủ của lịch sử nước ta hồi thế kỷ X chưa làm được, đó là dùng tiền Việt Nam để thay thế tiền Trung Quóc trên thị trường khắp nước. Đúc nhiều tiền mới chỉ là một việc, phát hành được tiền đó trong nhân dân, được dân tín nhiệm tiêu dùng lại là việc quan trọng hơn… Tiền Tây Sơn không những được nhân dân trong nước tín nhiệm tiêu dùng mãi hàng nửa thế kỷ sau khi triều Tây Sơn mất, mà còn lưu hành ra cả nước ngoài… Sách Trung Quốc hóa tệ sử của Bành Tín Uy do Nhà xuất bản nhân dân Thượng Hải xuất bản năm 1965 đã ghi việc “cấm dùng tiền ngoại Quang Trung” trong bảng “Niên biểu những sự kiện lớn về lịch sử tiền tệ Trung Quốc”… Từ trước chưa thấy có hiện tượng tiền Việt Nam lưu hành trên đất Trung Quốc”(*).


 


3/   Cải cách tài chính:


 


            Về mặt tài chính, Quang Trung thi hành một chế độ thuế khóa đơn giản, bãi bỏ nhiều thứ thuế phức tạp trước đó(*). Thuế ruộng có hai loại: thuế ruộng công và thuế ruộng tư, nộp bằng lúa  với mức thuế khác nhau.


 



















Loại ruộng (*)



Hạng nhất



Hạng nhì



Hạng ba



Ruông công


Ruộng tư



150 bát / mẫu


40 bát / mẫu



80 bát / mẫu


30 bát / mẫu



30 bát / mẫu


20 bát / mẫu




 


    (*) Mỗi mẫu ruộng công phải nộp thêm 1 tiền (thập vật) và 50 đồng (khoán khố). Mỗi mẫu ruộng tư nộp thêm 1 tiền (thập vật) và 30 đồng (khoán khố). Mọi khoản phụ thu phiền phức khác đều bãi bỏ. Theo một số nhà nghiên cứu, một “bát” ở thời Quang Trung tương đương 0,5 lít.


 


           


            Ngạch thuế ruộng đất công, tư được thi hành thống nhất trong tất cả các vùng thuộc quyền cai trị của Quang Trung, kể cả vùng Thanh, Nghệ trước đây được họ Trịnh miễn thuế nhân đinh, miễn thuế ruộng tư và giảm một nửa tô tuế ruộng công, vì Thanh Nghệ phải cung cấp lính túc vệ cho họ Trịnh.


 


Theo An Hội thôn chí của Bùi Dương Lịch (có chép rõ diện tích và thuế ruộng đất ở thôn An Hội, huyện La Sơn) thì tổng số ruộng đất tư của thôn là 44 mẫu, hàng năm phải nộp thuế 975 bát lúa, tính ra trung bình là 22 bát / mẫu, tương đương với mức thuế quy định ở bảng trên.


 


            Theo tinh thần “bớt thuế, thương dân” (Ban bố Bắc thành các điều), các loại thuế nhân đinh, thuế thổ sản, thuế công thương đều được giảm nhẹ hay bãi bỏ. Vẫn theo An Hội thôn chí, mỗi suất đinh hàng năm nộp 1 quan 2 tiền, trong khi ở thời Trịnh, ngoài khoản nói trên, còn phải nộp thêm 4 bát gạo và 6 tiền thuế điệu(*).


 


            Về thuế thổ sản và thuế công thương nghiệp, Quang Trung cũng bãi bỏ một số sắc thuế nặng nề trước kia, nhằm tạo điều kiện sản xuất và kinh doanh dễ dàng cho giới công thương. Riêng việc thông thương với Trung Hoa qua vùng biên giới thì được miễn thuế hoàn toàn.


           


(còn tiếp)


Nguồn: Phong trào Tây Sơn và Anh hùng dân tộc Quang Trung. Tác giả: Giáo sư sử học Nguyễn Phan Quang.


www.trieuxuan.info


 


 







(*) Đối với những làng xã nào đó, ruộng đất bỏ hoang nhiều không thể bảo đảm khai khẩn hết trong thời hạn quy định thì Quang Trung cho hoãn hay miễn thuế, không bắt chịu thuế khống. Theo tờ sắc của Quang Trung đề ngày 15-5 âm lịch (1790) được phát hiện ở làng Vĩnh Ninh, xã Đại Hưng, huyện Thanh Trì (Hà Nội) thì chỉ có ruộng đất cày cấy mới phải nạp thuế, còn ruộng bỏ hoang (phế canh) thì được hoãn thu thuế và ruộng bỏ hoang đã lâu cũng như ruộng đất không sản xuất được đều được miễn thuế (Tham khảo: Phan Huy Lê – Tìm về cội nguồn, Tập I – Sách đã dẫn, tr.634).




(*)  Bát Tràng là một trung tâm đồ gốm có truyền thống lâu đời, đến thời Lê mạt thì suy đốn. Bài thơ của Cao Huy Diệu nhan đề “Buổi trưa đậu thuyền ở Bát Tràng”:


 


                                “Sông lớn dừng thuyền giữa bến ngang


                                Bến đầy lò bát chốn quê hương


                                Sờ sờ đất mới làn roi nổi


                                Thăm thẳm nương dâu bãi bạt ngàn


                                Đi lại lối quen nơi phát đạt


                                Bán buôn tấp nập khách giàu sang


                                Đậu thuyền muốn hỏi ai ngâm ngắm


                                Chẳng phải nhà buôn, chẳng phải quan”


                                                                     (Bản dịch của Chu Thiên)




(*)  Việc buôn bán ở biên giới Trung-Việt đã có từ lâu. Dưới triều Thanh, tuy bị nghiêm cấm, nhiều người Trung Hoa vẫn vượt ải sang buôn bán vụng trộm với người nước ta. Sau thất bại của Tôn Sĩ Nghị, việc nghiêm cấm thông thương của nhà Thanh lại càng chặt chẽ hơn. Nhà Thanh ra lệnh: “Việc biên phòng phải rất cẩn mật. Những người vượt ải vụng trộm đi buôn bán lén lút đều phải nhất thiết ngăn cấm”.




(*)  Theo bức thư của một thừa sai Thiên Chúa giáo hồi tháng 10-1777, Nguyễn Nhạc đã có lần tiếp xúc với Chapman (đại diện Công ty Đông An của Anh) và đề xuất một thuế biểu: 1 vạn quan cho một chiếc tàu 3 cột buồm, 7 ngàn quan cho tàu 2 cột buồm, 4 ngàn quan cho những chiếc tàu nhỏ hơn. Sau đó, Nguyễn Nhạc hạ thấp thuế biểu xuống còn 7 ngàn, 4 ngàn và 2 ngàn quan cho ba loại tàu nói trên. Nguyễn Nhạc cũng đã cấp cho Chapman một giấy phép buôn bán và ra lệnh cho mọi người mua hàng của ông phải trả tiền đầy đủ, cấm nhân viên thừa hành không được ức hiếp, ngược đãi ông cũng như khách hàng của ông.




(*)  Đỗ Văn Ninh – Tiền cổ Việt Nam – Nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tr.121-140).




(*)  Trong Chiếu lên ngôi [1788] , Quang Trung quyết định đồng loạt  miễn giảm các khoản thuế vụ đông năm đó: “Mười ba đạo các xứ địa phương, vụ đông năm nay, các khoản “tô, dung, điệu” chỉ thu năm phần mười; nơi nào bị nạn binh hỏa, cho phép các quan chức đến nơi xét thực, tha miễn tất cả”.




(*) Theo tác giả Hoa Bằng (Sách đã dẫn, tr.283), “Hồi còn nhà Lê, nhân dân phải đóng một thứ xâu dịch gọi là “điệu tiền”. Vì nhà Lê phỏng theo cái phép cố dịch đời Đường (618-906) có đánh thứ thuế ấy. Rồi hễ có những việc xâu dịch công tác thì lấy tiền “điệu” đã thu của dân mà thuê mộ người làm (dẫn theo Cương mục). Đến triều Quang Trung, nhà vua thấy quốc gia mới khai sáng, muốn rút bớt xâu thuế để nới nhẹ cho dân, bèn bãi bỏ phép đánh thuế “điệu tiền” đó (theo Ban bố Bắc thành các điều, đã dẫn).



trieuxuan.info