06.03.2010
Đặng Nghiêm Vạn
Văn hóa Việt Nam đa tộc người (48)

Thành bằng đá


Ở Việt Nam, loại thành bằng đá không nhiều lắm. Giới Khảo cổ học vừa phát hiện ra ngôi làng Thiên Xuân thuộc xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi), đây có thể là ngôi làng cổ nhất Việt Nam hiện nay. Toàn bộ ngôi làng này được vây bọc bằng một hệ thống thành (không có hào) bằng đá rất vững chãi. Mặt thành rộng 1m, cao từ 2,5 đến 3m, dọc theo phía bên trong dưới chân của thành được kè bằng một lớp đá rất phẳng, cao chừng 30cm, như thể dành cho lính gác đi tuần tra dễ dàng. Qua khảo sát, nhóm khảo cổ không phát hiện ra bất cứ loại vôi vữa nào gắn kết giữa các tảng đá mà người ta chỉ chồng lên nhau, móc xích mấu của các tảng đá lại tạo thành một khối rất vững chắc.


Toà thành bằng đá tiêu biểu nhất ở Việt Nam chính là thành nhà Hồ. Thành được xây dựng năm 1397, là kinh đô của nước Đại Việt trong 3 năm cuối cùng của triều Trần. Tên chính thức của thành là Tây Đô, để phân biệt với Thăng Long - Đông Đô. Tiếp đó, nó trở thành kinh đô của nước Đại Ngu trong 7 năm, 1400-1407. Thành được xây dựng ở khoảng giữa hai con sông: sông Mã và sông Bưởi, phía bắc có núi Thổ Tượng, phía tây có núi Ngưu Ngọa, phía đông có núi Hắc Khuyển, phía nam còn là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía tây và sông Bưởi chảy tới. Bên ngoài thành được xây bằng đá, còn bên trong chủ yếu là đắp đất. Thành được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông, hai mặt nam và bắc thành dài hơn 900m, đông và tây dài hơn 700m. Độ cao trung bình của thành là 7-8m, có nơi như ở cửa Nam cao đến 10m. Thành được xây bằng những tảng đá xanh được đẽo vuông vức, công phu, ít nhất cũng tạo nên từ 4 đến 5 mặt phẳng, có tấm rất to ở cửa Tây dài tới 5.1m, rộng 1.59m, cao 1.30m, được xếp chồng lên nhau thành hình chữ công. Những phiến đá to và nặng như thế được xếp chồng lên nhau, không cần kết dính mà vẫn đảm bảo độ bền vững. Thành gồm 4 cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi cửa đều được mở ở chính giữa. Kỹ thuật ghép đá đạt đến trình độ cao. Những cổng thành được xếp các phiến đá theo hình múi cam, có kích thước rất lớn. Ba mặt đông, tây, bắc đều được xây một cửa cuốn, vòm giữa xây to và cao hơn hai vòm bên. Một trung tâm quân sự vững chãi như vậy được xây dựng rất nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tháng. Có thể nói thành nhà Hồ là công trình kiến trúc tiêu biểu cho kiểu thành xây bằng đá ở Việt Nam.


Những công trình thành to lớn ở Việt Nam càng đắp muộn về sau thì càng có sự pha trộn về vật liệu nhiều hơn. Thành đầu tiên chỉ là thành đắp bằng đất, sau thì có đá, mà đá cũng có thể là đá ong, và bằng gạch.


 Cung điện bằng gạch


Đến đời Lý, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, tức Thăng Long - Hà Nội ngày nay. Trong Chiếu dời đô, nhà vua nói rõ: "Đô cũ của Cao Vương ở thành Đại La, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuốn, hổ ngồi ở giữa nam bắc, đông tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng... xem khắp đất Việt, chỗ ấy là hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời"[1].... Truyền rằng khi nhà vua dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, có rồng vàng hiện ra, vì thế mới gọi là Thăng Long. Ngay mùa thu năm đó, nhà Lý đã khẩn trương cho xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia. Phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả là điện Tập Hiền, bên hữu là điện Giảng Võ, lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính hướng nam là điện Cao Minh, đều gọi là thềm rồng; bên trong thềm rồng có mái cong, hàng hiên bao quanh bốn mặt. Sau điện Càn Nguyên dựng hai điện Long An và Long Thu, làm nơi nghỉ ngơi; bên tả làm điện Nhật Quang, bên hữu làm điện Nguyệt Minh, đằng sau dựng hai cung Thuý Hoa và Long Thu làm chỗ ở cho cung nữ. Dựng kho tàng, đắp thành, đào hào, bốn mặt thành mở bốn cửa, phía đông gọi là cửa Tương Phù, phía tây gọi là cửa Quảng Phúc, phía nam là cửa Đại Hưng, phía bắc là cửa Diệu Đức. Trong thành có chùa Hưng Thiên và lầu Ngũ Phượng Tinh, ngoài thành làm thành Thắng Nghiêm ở phía nam. Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đã hoàn thành. Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm. Một vòng thành bao quanh các cung điện cùng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành. Đó chính là Hoàng thành theo cách gọi phổ biến về sau này.


Trên đây là những điều ghi chép trong sử sách, và nó đang được chứng thực qua cuộc khai quật khảo cổ học lớn ở số 18B Hoàng Diệu, thuộc khu xây dựng nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình. Giới Sử học và nhân dân cả nước đang được tận mắt thấy một phần lớn diện mạo kiến trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý, Trần, thời Lê và nhiều di vật quan trọng khác. Qua bóc tách các lớp đất ở dưới sâu từ 1m trở xuống và dày 2 - 3,5m đã xuất hiện dấu vết các thời đại chồng xếp lên nhau. Qua các hố khai quật trên một diện tích hơn 14.000m2, các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ được gần hết di tích nền móng của một cung điện vững chãi dài 62m, rộng 27m (diện tích 1.674m2 với chân cột nhà) thuộc thời Lý, Trần. Cung điện có một hệ thống 40 trụ móng, cột được xử lý rất kiên cố bằng sỏi và gạch ngói. Hiện vật thu được chủ yếu là gạch ngói và đồ gốm trang trí kiến trúc. Có đến hàng vạn viên gạch xây cung điện, lầu gác ở Thăng Long, trong đó rất đáng chú ý là các viên gạch có khắc chữ Hán Đại Việt quốc quân thành chuyên để nói rõ là gạch xây kiến trúc của nước Đại Việt thời Đinh Lê, gạch Lý gia đệ đế Long Thu, Thái Bình tứ niên tạo là gạch xây cung điện nhà Lý, gạch Vĩnh Ninh Trường xây các cung điện thời Trần, gạch Tam phụ quân, Tráng long quân chỉ dùng xây dựng các kiến trúc quân đội thời Lê Thánh Tông. Các tượng rồng phượng cỡ lớn cũng được tìm thấy với kích thước lớn nhỏ khác nhau, có cái cao gần bằng đầu người, chứng tỏ các kiến trúc thời Lý, Trần, Lê ở đây được xây dựng rất công phu và đẹp đẽ.


Kinh thành thời Lý về đại thể được giới hạn bằng 3 con sông. Phía đông là sông Hồng, phía bắc và phía tây là sông Tô Lịch, phía nam là sông Kim Ngưu và chia làm hai phần Hoàng thành và Kinh thành.


Các triều sau tiếp tục tu sửa và xây dựng thêm. Nhà Trần lại chủ trương xây dựng nhiều chùa tháp hơn cung điện. Cung điện Lý - Trần đến nay không còn gì. Nhờ khai quật một phần thành cổ, gần đây ta mới thấy được di tích 3 lớp thành đời Lý, Trần,
Lê với những điêu khắc rất tinh vi và độc đáo như sử đời trước để


lại([2]). Có thể nói thành Thăng Long đời Lý là một công trình xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến. Nhưng sau cuộc xâm lược của quân Mông - Nguyên, nhất là sau 20 năm bị giặc Minh tàn phá, những công trình kiến trúc quan trọng không còn gì. Tuy nhiên những cuộc khai quật ở khu vực Hoàng thành Hà Nội và ở hành cung Thiên Trường - Nam Định, đã phần nào cho thấy kiến trúc hoành tráng của những cung thành xưa.


Sang đến thời Lê sơ, Nho giáo nổi lên, đưa đạo Phật xuống hàng thứ hai và hòa vào quần chúng. Các nhà vua đã chú ý xây dựng cung điện, lăng tẩm, ít chú ý xây dựng chùa tháp như thời Lý - Trần. Có thể nói, kiến trúc cung đình thời Lê sơ, tập trung vào việc chính là tu bổ cung điện, đền, miếu ở Thăng Long và xây dựng Lam Kinh (Thanh Hóa). Sau khi đại thắng quân Minh, Lê Lợi lo sửa sang lại thành Đông Kinh (Thăng Long), chữa điện Kính Thiên và điện Cần Chánh. Đến đời Lê Thánh Tông, thì xây thêm điện Cần Đức, điện Giảng Võ, nhất là mở rộng nhà Thái Học, dựng đình Quảng Văn để phát triển văn hóa. Lê Thánh Tông còn cho trùng tu lại toàn bộ và phát triển thêm Văn Miếu. Từ đời Lê Thánh Tông về sau, các vua cho xây đắp kinh thành kiên cố, nhưng công việc các vua thời Lê sơ quan tâm nhất là kiến thiết Lam Kinh, quê hương nhà Lê. Cung điện lăng miếu ở đây ngày nay đã sụp đổ, nhưng những dấu vết còn lại cũng cho chúng ta phần nào hình dung ra quy mô của chúng. Sau thời Lê sơ, nhà Lê bước vào giai đoạn suy tàn, xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân. Có cuộc khởi nghĩa như Trần Tuân đánh phá cả cung đình. Tầng lớp quý tộc thất thế cũng không xây dựng được một công trình gì đáng gọi là to lớn. Tuy nhiên, nhà Lê cũng đã cho trùng tu và mở rộng khu Văn miếu (Quốc Tử giám), lập khu Võ miếu,
Y miếu và các lăng tẩm ở Lam Sơn.


Thời các chúa Nguyễn, kiến trúc đáng chú ý là hoàng cung, các lăng tẩm của các nhà vua. Mới đầu Nguyễn Hoàng đóng đô ở Ái Tử, huyện Vũ Xương. Đến đời chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Trân) (1687-1691) phủ dời cách đó hơn trăm dặm, trồng cây, đắp nền, xây tường, sửa đường, cung vàng, gác báu rất lộng lẫy. Đến đời Võ Vương (Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), "lại làm thêm đình đài, đổi tên cung điện đề vào biển treo như: điện Kim Hoa và Quang Hoa, các toà Tựu Lực, Chính Quan... đài Sướng Xuân, gác Kinh Trì, Tiêu Dương, Quang Thiên, đình Thuỵ Văn, hiên Đồng Lạc. Ở thượng lưu bên bờ phía nam, lại có phủ Dương Xuân, điện Trường Lạc, hiên Thuyết Vũ; nhà lớn nguy nga, mái đao rực rỡ, tường xây và hành lang bao bọc xung quanh, cửa thông bốn mặt, nhiều chỗ chạm khắc rất tinh xảo. Có trồng xen vào những cây lớn, vườn sau xếp núi non bộ, có đào ao vuông, ao cong, cầu nối, nhà thủy tạ. Tường trong, tường ngoài đều xây dày vài tấc, lấy vôi và những mảnh bát đĩa đắp thành những con long, hổ, lân, phụng và hình các hoa cỏ. Mạn dưới sông là chính dinh, đều có quân trại đóng la liệt như bàn cờ. Các phố xá liền nối nhau, đường cái to, chia ra từng khu, nhà nọ tiếp nhà kia, toàn là nhà ngói. Cây cao bóng mát hai bên Hoàng thành. Thuyền dọc, đò ngang đi lại như mắc cửi, coi rất đẹp". Đó là kinh thành Huế, mà Lịch triều hiến chương loại chí([3]) miêu tả. Cuối thời Lê, quân Trịnh đánh chiếm Phú Xuân (1774), chúa Nguyễn bỏ chạy. Họ Trịnh hạ triều đình xuống thành trấn nha... Phú Xuân trở nên hoang tàn. Khi Tây Sơn lên ngôi, chọn Huế làm kinh đô, đã dựng lại các cung điện. Đến khi Gia Long thống nhất đất nước từ Nam ra Bắc (1802), đã có chủ trương xây dựng thành đẹp như trước. Năm 1804, kinh thành Huế được xây dựng lại, có xê dịch so với chỗ cũ vài trăm mét([4]). Thành kết hợp cách xây vòng ngoài theo kiến trúc Vôbăng (Vauban) của Pháp, với việc rập khuôn kiến trúc nhà Thanh ở phía trong. Tuy nhiên, nhìn chung ta vẫn thấy có nét độc đáo, khiêm nhường đầy sắc thái Việt Nam. Hoàng thành có bốn cửa, nổi nhất là cửa chính - cửa Ngọ Môn, được Minh Mạng sửa đổi kiến trúc giống hiện nay, không khác gì so với cố cung Bắc Kinh. Nhưng Ngọ Môn vẫn xinh xắn, diễm lệ, tự nhiên trở thành một biểu tượng của Việt Nam. Huế còn có điện Cần Chánh hay Thái Hòa, có đàn Nam Giao không đặc sắc lắm về kiến trúc, nhưng có ý nghĩa về văn hóa. Đàn tự nó là một nhạc cụ, nay bị phá, muốn xây dựng lại cũng khó.











 


 


 


 


 


 


 


 




 Kiến trúc tôn giáo Chùa: Chùa là nơi thờ Phật. Về mặt từ nguyên, từ "chùa" thiên về gốc Việt. Lúc đầu chùa là am hay lều làm bằng cỏ như của Khâu Đà La, có khi có hình tháp như các chùa ở Lào. Ở Tây Bắc có tháp Mường Và (vạt Mường Và). Trải hơn 2000 năm tính từ ngày đạo Phật được truyền bá vào nước ta, kiến trúc chùa đã thay đổi rất nhiều. Chùa là nơi thờ Phật, thuộc về một cộng đồng nhất định, thường là của làng, đúng như câu "đất của vua, chùa của làng". Các chùa lớn thường do nhà nước đứng ra xây dựng, nhưng số này không nhiều. Các chùa tuy cùng phái Đại thừa, từ Nam ra Bắc có kiến trúc không giống nhau, và các chùa thuộc phái Tiểu thừa, như Biểu Sơn Kỳ Hương hay phái Khất sĩ, thì kiến trúc còn khác nữa. Còn chùa ở các tộc người thiểu số, không những khác về kiến trúc mà còn khác cả về nội dung thờ như : chùa Hoa, chùa Thái (ở Vạt Hồng - Mộc Châu), vạt Mường Và (Sông Mã). Tuy vậy, ta cũng có thể thấy một số đặc điểm chung của các chùa người Việt([5]).


Đất dựng chùa là nơi cao ráo, có cảnh đẹp tự nhiên, thường được chọn theo quan niệm phong thủy, cho rằng đất dựng chùa xấu hay tốt đều ảnh hưởng đến số mệnh các tín đồ hoặc những người có cảm tình với đạo Phật. Vì chùa liên quan đến dân làng, nên đất chùa thường được chọn nơi gần dân, song không gần quá, mà cũng không xa quá. Nhà sư Pháp Loa (1284-1330) chép theo Thiền đạo yếu lược trong Tam tổ thực lục có đoạn: "Lại cũng cần biết cách không gần nhân gian mà cũng không xa nhân gian, vì gần thì ồn ào, mà xa thì không ai giúp đỡ cho. Cảnh có thể phải là chỗ yên nghiệp, dễ dưỡng thần, nuôi tính, tâm linh sáng suốt, trường dưỡng thánh thai, để được chứng đạo, ấy là cứu cánh"([6]).


Chùa ở làng quê được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc với xứ nhiệt đới: tre, tranh, lá dừa, gạch, ngói... Chùa thường được dựng từ những vật liệu tốt nhất có thể có được và thường do trích tiền quyên góp từ dân. Những người đóng góp tiền xây dựng chùa được ghi tên lại trong tấm bia đá để lưu danh đời sau. Chùa thường là một quần thể gồm nhiều gian với các chức năng khác nhau: gian thờ Phật, gian thờ Mẫu, gian để cho sư và các vãi sinh họat... Chùa thường được mở rộng theo thời gian, do đối tượng được thờ tăng lên, do dân đông, do người viếng thăm cảnh chùa nhiều.... Kiến trúc chùa từ đơn giản (kiểu chữ nhất), dần mở rộng (kiểu chữ đinh) rồi đến phức tạp (kiểu "nội công ngoại quốc").


(còn tiếp)


Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.


 







([1])  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, 1967, tr.190.




([2]) Phan Huy Chú: Sđd, tập 1, tr.131.




([3]) Phan Huy Chú, Sđd, tập 1, tr.131.




([4]) L. Cadière: La merveilleuse  capitale, BAVH, Hà Nội, 1916, lấy lại trong Croyances et prariques... Sđd, EFEO, Paris 1993, tr.303-328.




([5]) Hiện nay, thờ Phật chỉ có người Việt, người Hoa, người  Khmer, người Lào. Người Thái  trước có thờ, nhưng nay không thờ nữa. Theo chân người Việt, chùa đã lên các miền núi, như Lâm Đồng, chùa được xây dựng đáp ứng nhu cầu của người Việt di cư. Chùa ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam được xây dựng nhiều nhất vào những năm sau 1954 (chiếm 2/3 số chùa hiện có) và đặc biệt là những chùa xây sau năm 1964 chiếm đến 1/2. Vì vậy ta cũng cần hiểu một điều là đạo Phật phát triển mạnh trong những năm chiến tranh chống Mỹ và sau ngày thống nhất. Chùa ở thành phố Hồ Chí Minh rất khang trang, đội ngũ nhà sư đều có học. Chùa ở Huế cũng phát triển mạnh, nhất là sau năm 1954. Ở các tỉnh miền núi phía bắc và khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, chùa phát triển rất yếu ớt. Cư dân ở vùng này rất ít theo đạo Phật, và có nhiều chùa bỏ hoang như chùa Trăm Gian (Quỳ Châu), chùa Mộc Châu, chùa Điện Biên. Số tỉnh có nhiều chùa nhất hiện nay là Hà Tây (1.054 chùa), thành phố Hồ Chí Minh (1.052), Hải Dương (705), Thái Bình (597)…




([6]) Dẫn theo Hà Văn Tấn, Sđd, 1993, tr.17.



trieuxuan.info