28.10.2010
Lương Văn Hồng
Lãng du trong các nền văn hóa (4-1)

ĐỨC (Phần 1)


Tên nước:  Cộng hòa liên bang Đức


Thuỷ tổ người germanen sống ở Nam Thuỵ Điển, Đan Mạch, vùng Schlewig-Holstein, ở vùng đồng bằng thuộc phương Bắc nước Đức giữa lưu vực sông Weser và cửa sông Ode. Trong số các tộc người germanen có người Franken, người Alamanen, người Sachsen, người Thueringen, người Goten, người Wandalen, người Langobarden... Người germanen được chia thành 3 nhóm theo địa hình cư trú: người germanen  phương Bắc ở bán đảo Skandinavien và Đan Mạch, người germanen phương Tây ở lưu vực giữa các sông Rhein, Elbe, Donau, người germanen phương Đông ở lưu vực sông Elbe và sông Weichsel.Người La Mã gọi vùng đất người germanen sống là Germania. Vùng đất Ostfrankisch dưới triều đại vua Otto I  đại đế (936-973) chính là diện tích nước Cộng hoà liên bang Đức ngày nay. Người Đức coi cây sồi là biểu tượng của sức mạnh và trường tồn, là loại cây linh thiêng.Người Đức cho gấu là chúa sơn lâm. Các  thành phố như Leipzig, Berlin v.v . lấy gấu trong tư thế vồ làm biểu tượng. Người germanen cổ luôn sẵn có bên mình khiên và giáo.


Diện tích:  356.970 km 2


Dân số:    83.251.851 người


Quốc khánh:  3 tháng Mười


Quốc  ca:   Bài ca của người Đức     (Nhạc của Joseph Haydn, 1732-1809. Lời của  August  Heinrich Hoffmann von Fallersleben,  1798-1874. Bản dịch của Lương Văn Hồng)


Giành lấy thống nhất, chủ quyền, tự do  cho Tổ quốc của người Đức!  Chúng ta từ đây nỗ lực hết mình, một lòng gắn kết như anh em. Thống nhất, chủ quyền, tự do là cội nguồn của hạnh phúc. Hào quang của hạnh phúc ngời sáng rạng rỡ, Tổ quốc của người Đức phồn vinh.


Quốc kỳ:


Hình chữ nhật, ba băng ngang đen, đỏ, vàng to bằng nhau. Trong chiến tranh nông dân ở thế kỷ 16,   khi “Hội Huynh đệ tân giáo” vùng Schwaben khởi nghĩa đã dùng lá cờ ba màu đen, đỏ, vàng làm cờ của nghĩa quân. Sau này cờ  trở thành biểu tượng của sự thống nhất nước Đức. Cách mạng dân chủ 1848 lấy lá cờ ba màu này làm quốc kỳ. Cộng hòa Weimar 1918 cũng lấy cờ ba màu đen, đỏ, vàng làm quốc kỳ. Cộng hòa liên bang Đức cũng dùng lá cờ ba màu đen, đỏ, vàng làm quốc kỳ. Cộng hòa dân chủ Đức (1949-1990) cũng dùng lá cờ ba màu đen, đỏ, vàng  (nhưng chính giữa nền cờ là cây búa, com pa, bông lúa mạch) làm quốc kỳ.


Quốc huy:


Là cái khiên nền màu vàng, bên trong là biểu tượng đại bàng đen, mỏ đỏ, vuốt đỏ.


Thủ đô:   Berlin


Ngôn ngữ chính thức:  Tiếng Đức


Tôn giáo: Thiên Chúa giáo, Tin Lành


Tiền tệ:  Euro


 


LÃNG DU TRONG TRIẾT HỌC ĐỨC


Triết gia Đức Immanuel Kant  (1724-1804) là  giáo sư  môn Siêu hình học và lôgic học . Với ba tác phẩm  “Phê phán lý tính thuần túy” (1781),  “Phê phán lý tính thực tiễn” (1788),   “Phê phán năng lực phán đoán” (1790), Kant đã thống trị  tư tưởng khoa học và triết học  tư sản thế kỷ  XIX. Tư tưởng triết học của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà triết học Fichte,   Schelling,  Hegel.


 


Chỉ dừng lại ở cảm tính


    Mặc dù là một nhà triết học nổi tiếng về phân tích khả năng và giới hạn của lý tính và rất thông hiểu về cuộc sống gia đình, nhưng vì chỉ dừng lại ở cảm tính nên Kant suốt đời sống cô đơn. Sau đây là câu nói nổi tiếng của Kant về các giai đọan của nhận thức:


Mọi tri thức của chúng ta đều bắt đầu từ cảm tính, sau đó chuyển sang lý trí và kết thúc ở lý tính.


  


Người ra sao, chiêm bao như vậy


   Cuộc sống hàng ngày của Kant  diễn tiến theo một chu trình  ổn định như chiếc đồng hồ. Ông thức dậy lúc 5 giờ sáng, 17 giờ đi tản bộ, 22 giờ lên giường đi ngủ. Sống thế nào, nghĩ thế đó,  trong lĩnh vực triết học, ông cũng đưa ra nguyên tắc:


Tôi có thể biết gì ?


Tôi cần phải làm gì ?


Tôi có thể hy vọng vào cái gì ?


Con người là gì ?


Và ông giải thích:


 -     Siêu hình học trả lời cho câu thứ nhất,  đạo đức - cho câu thứ hai,  tôn giáo - cho câu thứ ba,  nhân học - cho câu thứ tư. Về thực chất, có thể  quy tất cả ba câu đầu về nhân học.


 


Chủ nghĩa duy tâm phê phán hay


Thuyết bất khả tri của Kant


Kant cho rằng:


Để hình thành tri thức, tri giác và suy tưởng đều cần thiết. Trong tác phẩm “Phê phán năng lực thuần tuý”, ông viết:


Không có nội dung, tư tưởng trống rỗng; không có khái niệm, nhận thức mù quáng. Lý trí đơn thuần không thể nhận thức, tri giác đơn thuần chẳng thể suy tưởng. Tri thức  là sản phẩm  tổng hợp của hai dạng năng lực ấy (của cảm giác và lý trí).


Con người dùng kinh nghiệm giác quan để nắm bắt thực tại, vì vậy con người vô vọng trước khả năng thâm nhập vào thế giới thực tại vô hình. Theo Kant , Thượng đế là đối tượng “siêu nghiệm”   (transcendental objects) với bản chất  “phi hiện tượng”. Bằng hình thức phi luận lý, ông bảo:


-   Thượng đế không thể chứng nghiệm bằng tri giác mà phải thừa nhận với đức tin.


 Cách lý giải ấy của Kant  giúp con người vượt “các khoảng trống” và “nghi vấn”  trong quá trình kết hợp tri thức thành một khối thống nhất.             


 


  Friedrich Nietzsche (1844-1900) nghiên cứu thần học, triết học. Ông chịu ảnh hưởng của Schopenhauer. Nietzsche đánh giá lại các giá trị của văn hóa cổ truyền. Nietzsche còn tố cáo các thiên kiến về đạo đức  và báo trước một sự chuyển đổi lớn các giá trị.


    Ba người có ảnh hưởng đến tư tưởng nhân loại thế kỷ XX là Marx, Freud, Nietzsche. Những thiên tài này nói về con người, xã hội loài người cùng những mối quan hệ, tương quan phát sinh từ hai nhân tố đó. Triết lý nhân sinh này thiên về tình.


                Đánh giá lại các giá trị truyền thống


    Anh hùng ca Nibelungen đề cao danh dự, lòng trung thành, nghĩa vụ. Người Đức ngày nay vẫn giữ và đề cao những đạo đức ấy. Những cái gì gọi là truyền thống Đức thì nó ổn định và ăn sâu trong tâm trí người Đức từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo. Nietzsche là người đặt vấn đề  đánh giá lại tất cả các giá trị của đạo đức học cổ truyền, của giáo lý Thiên chúa giáo. Vì vậy ông bị coi là người   “ trái với tất cả đạo đức Đức”.


Karl Marx (1818-1883) là nhà triết học, kinh tế học, nhà chính trị Đức gốc Do Thái. Ông là lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản quốc tế.


Nhưng Marx lại thích…


  Karl Marx sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 trong một gia đình Đức gốc Do Thái ở thành phố Trier. Năm 17 tuổi, Marx tha thiết yêu Jenny von Westphalen, bạn thân của chị ruột mình. Jenny xinh đẹp, thuộc giới thượng lưu và hơn Marx 4 tuổi.


   Những hiểu biết của Marx  về tư bản chủ nghĩa được viết trong bộ  “Tư bản” (3 tập). Đó là tác phẩm có giá trị lớn mà Marx  đã hoàn thành trong cảnh nghèo túng ở London nước Anh. Khi bộ sách ra đời, Jenny rất vui và nói:


-    Nếu như Marx chịu khó gom góp thì cũng có thể trở thành nhà tư bản, nhưng Marx lại thích bỏ công ra viết bộ “Tư bản” hơn.


Bản tự bạch của Karl Marx


(Tự bạch là trò chơi mang tính trí tuệ và rất tế nhị. Người hỏi và người trả lời đều thông qua câu hỏi và câu trả lời để nói ý mình. Các câu hỏi gắn liền với nhau buộc người trả lời phải có suy nghĩ, nếu không các câu trả lời sẽ mâu thuẫn với nhau. Bản tự bạch này Marx viết trả lời con gái cưng Jenny năm 1865)


Đức tính nào cha quý nhất?                                      Giản dị


Đức tính nào cha quý nhất ở người đàn ông?          Nghị lực


Đức tính nào cha thấy quý nhất ở người đàn bà?   Thông minh, dễ thương


Đặc điểm chủ yếu của cha?                                     Kiên nhẫn


Quan niệm của cha về hạnh phúc?                          Phải chiến đấu


Quan niệm của cha về bất hạnh?                            Đành khuất phục


Tính xấu mà cha dễ tha thứ nhất?                           Nhẹ dạ


Tính xấu mà cha ghét nhất?                                    Qụy lụy


Người mà cha ghét?                                                 Martin Tuppler


Công việc mà cha yêu thích?                                  Lục lọi sách


Nhà thơ mà mà cha yêu thích?                          Shakespaere, Goethe, Eschyle                            


Nhà văn mà mà cha yêu thích?                              Diderot


Nhân vật nammà cha yêu thích?                            Spactakus, Kepler


Nhân vật nữ mà cha yêu thích?                              Gretchen


Thứ hoa  mà cha yêu thích?                                    Nguyệt quế


Mầu mà cha yêu thích?                                           Đỏ


Tên người mà cha yêu thích?                                 Jenny, Laura


Món ăn mà cha thích?                                             Cá


Câu cách ngôn mà cha thích?                         Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi  (tôi hiểu bản chất con người- Nguyên văn tiếng La Tinh).   


20.Câu châm ngôn mà cha thích?                      Phải hoài nghi tất cả (tiếp thu có chọn lọc, có phê phán- Nguyên văn tiếng La Tinh).


 


Kim chỉ nam thời chúng tôi


      Thế hệ chúng tôi sống trọn 10 năm hoà bình  (1954-1964). Thời ấy, Karl Marx là thần tượng vĩ đại duy nhất của chúng tôi. Học sinh nào cũng chép câu danh ngôn sau của Karl Marx:


-   Trong khoa học không có con đường nào rộng rãi thênh thang. Chỉ có người nào  không sợ gian khổ dám leo theo những con đường núi độc đạo dựng đứng, người đó mới mong vươn tới được đỉnh cao chói lọi của khoa học.


 


  Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) sinh ngày 27.8.1770 ở Stuttgart. Trong những năm học ở Tuebingen (1788- 1793) ông kết bạn với nhà thơ Hoelderlin và nhà triết học Schelling.


   Hegel đã từng dạy học ở Bern (Thụy Sĩ), Frankfurt am Main, Jena, Nuermberg, Berlin, Heidelberg. Sau khi Hegel qua đời, môn đệ của ông cho xuất bản những bài giảng của thầy:


- Những bài giảng về lịch sử triết học (1833- 1836)


- Những bài giảng về mỹ học (1836- 1838)


- Những bài giảng về triết học lịch sử (1837)


      Hegel là đại diện cho nền triết học cổ điển Đức. Biện chứng pháp của Hegel (Hegelian Dialectic) có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và văn nghệ ở châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX, đến các nhà triết học hiện đại như Husserl,  Heiddegger, Sarte. Chính vì thế  tháng 4.1930 tại Hague, Hà Lan, người ta đã thành lập Hội nghiên cứu Hegel quốc tế, cứ 2 năm họp mặt một lần.


 


Thật là tồi tệ...


     Georg Wilhelm Friedrich Hegel là nhà triết học đại diện xuất sắc của triết học cổ điển Đức thế kỷ XIX, cha đẻ của phép biện chứng. Tác phẩm quan trọng nhất của Hegel là "Khoa học Logic"(3 tập, 1812- 1816)


Từ năm 1821. Hegel giảng triết học ở Đại học tổng hợp Berlin. Có lần, một sinh viên thắc mắc hỏi Hegel:


-  Thưa giáo sư, trong lúc giảng bài, giáo sư đã rút ra kết luận từ những sự việc  mà chính nó không có trong thực tế.


Hegel đáp:


- Chà, tất nhiên điều đó là tồi tệ với những sự việc đó.


… như những người khác!


     Chủ nghĩa Hegel là triết học duy tâm khách quan hay tuyệt đối. Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Karl Marx hình thành trên cơ sở Biện chứng pháp của Hegel.


     Có người hỏi Hegel, liệu ông có tin rằng, lúc nào đó sẽ có người có khả năng làm thay đổi những định kiến trong xã hội. Hegel trả lời:


-   Cho dù người ấy tranh luận rất nhiều về thế giới, anh ta bị đưa đi đẩy lại, nhưng cuối cùng thì anh ta cũng có một cô gái để yêu, cũng phàm phu tục tử như những người khác.


Nguyên tắc phủ nhận bằng  “luận đề – phản đề”


Biện chứng pháp của Hegel   có khả năng khám phá ý nghĩa của thực tại theo một tiến trình với:  luận đề- phản đề- hợp đề  (thesis-antithesis-synthesis). Với một luận đề ta có một phản đề (một luận đề đối nghịch). Mâu thuẫn giữa chúng kết thúc bằng hợp  đề (một luận đề mới). Mối bất đồng quan điểm giữa  chủ nghĩa duy lý của châu Âu lục địa (luận đề) và chủ nghĩa kinh nghiệm  của Anh (phản đề) tạo nên chủ nghĩa duy tâm Đức (hợp đề) cũng giống như sự dung hoà giữa hydrogen (luận đề)  và oxygen (phản đề) tạo ra nước (hợp đề).


Triết lý pháp quyền


Hegel được thừa nhận là nhà triết học hàng đầu của thời đại. Năm 1820-1821 ông giảng Triết học pháp quyền (Philosophie des Rechts)  ở ĐHTH Berlin. Ông nói:


-   Luật pháp thấm nhập và nuôi dưỡng toàn bộ đời sống quốc gia, thể hiện các quy tắc và ý thức đạo đức của người dân trong một đất nước. Chỉ ở trong quốc gia, cá nhân mới cóthể  hoàn tất quá trình tự nhận thức của mình.


Ông cho rằng:


-   Quốc gia là một thực thể bao quát, là môi trường tổng hợp nên toàn bộ tính cách, nếp sống và xu hướng nhận thức của con người.     


Ông kết luận:


-   Hiến pháp thể hiện sự phát triển xuyên suốt dòng lịch sử của một quốc gia. Hiến pháp có tính hợp lý và có giá trị bất diệt.     


Thực tại là một hệ thống lý tính


Không có gì tồn tại riêng rẽ. Mỗi sự vật đều liên kết và bị ảnh hưởng bởi các sự vật khác. Hegel bảo:


-   Lý giải ý nghĩa của một sự vật là tìm kiếm mối liên kết giữa nó và các sự vật khác, giữa nó và các phản đề của nó. Thế giới này là gì nếu không phải là bóng dáng của lý lẽ…!?


Khác với quan điểm của Kant  về thế giới thực tại   bất khả tri, Hegel cho rằng:


-  Con người có khả năng và thực sự nhận thức được thế giới siêu hình bằng cách chúng ta hiểu nó, tư duy về nó và suy luận để xác định bản chất của nó.


(Không ai cảm nhận đựơc tia X, nhưng do tia X có bản chất lý tính và vận hành theo lý tính nên con người tích lũy thông tin về nó và suy luận về nó).    


 


LỜI BÌNH: Nước Đức là nước sản sinh ra những nhà triết học nổi tiếng thế giới. Truyền thống triết học Đức thậm chí có tầm ảnh hưởng tới sự phát triển của triết học châu Âu. Kant đã thống trị  tư tưởng khoa học và triết học  tư sản thế kỷ 19. Tư tưởng triết học của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới các nhà triết học Fichte,   Schelling,  Hegel.


Hegel là đại diện cho nền triết học cổ điển Đức. Biện chứng pháp của Hegel (Hegelian Dialectic) có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng và văn nghệ ở châu Âu nửa đầu thế kỷ 19, đến các nhà triết học hiện đại như Husserl,  Heiddegger, Sarte. Chính vì thế  tháng 4.1930 tại Hague, Hà Lan, người ta đã thành lập Hội nghiên cứu Hegel quốc tế, cứ 2 năm họp mặt một lần.


Trong “Các bài về triết học  lịch sử”, Hegel  cho ta thấy,  bản chất  của tư duy được  điều kiện hóa theo lịch sử, ông bảo:


-    Những sự kiện lịch sử chỉ là những nguyên vật liệu thô sơ, bổn phận của triết gia là đưa ý nghĩa vào trong  các nguyên vật liệu đó.


Rồi ông kết luận:


-   Lịch sử thế giới không là gì hết ngòai sự tiến bộ của ý thức về tự do.


Tư tưởng của  Hegel độc đáo, khai sáng cho rất nhiều vấn đề triết học, xã hội và chính trị.


 Trong ba người có ảnh hưởng tới đời sống tinh thần của nhân loại (Marx, Freud, Nietzsche) ở  nửa cuối thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20 thì có hai người là người Đức (Marx, Nietzsche).


Người Đức rất ngưỡng mộ thần tượng của mình, nhưng cũng sẵn sàng  „nổi loạn“ đập bỏ đi để tạo nên những cách nhìn khác trước, những giá trị mới. Người đại diện cho typ người Đức ấy là Nietzsche. Marx là người tìm ra quy luật riêng biệt về sự vận động của phương thức sản xuất  tư bản chủ nghĩa  và xã hội tư bản  do phương thức đó đẻ ra. Ông còn là người phát hiện  ra quy luật phát triển lịch sử loài người.


(còn tiếp)


Nguồn: Lãng du trong các nền văn hóa. Biên soạn: Lương Văn Hồng. NXB Văn học sắp xuất bản.

trieuxuan.info