27.04.2011
Lê Sơn Phương Ngọc
Tổng đốc Võ Duy Ninh (2)

Tế Xuân Thu


*Trích từ “Tộc phả Võ tộc Đại An của Vũ Nguyên


Bầu trời Nam nước Việt


Toàn Võ tộc Đại An


Cháu con cả một làng


Nay dâng hương giỗ Tổ


Kiệt hiệt dòng họ Võ


Với tất cả lòng thành


Xin kính bái tiên linh


Cao cửu huyền thất Tổ


 


Kính viết,


Ngày xưa ấy


Phát sinh từ Nghệ An


 Mạch nguồn ngài Thỉ Tổ


Tại đất Bắc văn vật ngàn năm


Tiến vào Nam khai nguyên một thuở


*Dẹp Chiêm Thành theo chúa Nguyễn lập công hiển hách, được tưởng thưởng phong Thần, Ngài Cao Tổ định cư.


*San rừng núi thuận lòng trời, dựng trại khang trang rồi nối đời kế thế, làng Đại An mở ngõ.


Khai cơ đấng tiền hiền ra công xây dựng nên tiền đồ,


Lập nhiệp chư Hiển Tổ dốc sức bảo trì bởi gian khó.


Nhớ chư tiên linh,


*Công sáng tạo lao đao vất vả, xới bãi hoang, rừng rậm, lấp ao cả đầm sâu, bao chìm nổi đổ mồ hôi xây đắp một cõi tốt tươi.


 *Sức an dân lận đận nhọc nhằn, vỡ gò đá ruộng lầy, dựng làng trên xóm dưới, mấy thăng trầm đem máu xương giữ gìn làng quê rực rỡ.


Đúng là,


Bến tốt, thuyền tựu về


Cây lành, chim làm tổ


Trời bể, công Cao Tổ kiến tạo cam go


     Núi sông, đức tiền nhân thủ thành lao khổ


Cung duy,


*Ngày trước, đời nối đời với đồng sâu rẫy sỏi, Hiển tổ ra sức cấy cày, Tiền nhân gắng công hái lượm, nhà nhà có áo mặc cơm ăn, lại Khổng Nho lặn lội để rồng mây gặp vận mừng chức trọng quan to.


*Đến nay, hệ liền hệ có mái ấm nhà êm, gái trai dốc lòng làm lụng, già trẻ một dạ thuần lương, chốn chốn thêm học hành đỗ đạt, gìn nền nếp thống truyền cho hương sắc thăng hoa vui con bầy cháu đủ.


Cho nên,


Đời truyền đời, bồi đắp cho dòng họ vẻ vang,


Thế kế thế điểm tô, khiến quê hương rạng rỡ


Trộm nghĩ,


Uống nước ngon, thường nhớ chỗ nguồn ngọn trong lành,


Ăn cơm trắng, đoái thương hoài công cấy cày


lam lũ.


*Xưa tiên linh đã cần kiệm, gầy nên cơ nghiệp, đắp đập xây đình, dồi mài kinh sử cho đẹp chữ trung hậu thanh cao.


*Nay con cháu phải kiên trì gìn giữ nếp gia phong, tu thân tích đức học tập tiền nhân chỉ vì câu tiền đồ hậu bổ.


Lạy tiên tổ muôn thuở hiển vinh,


Cầu con cháu nhiều bề tiến bộ


Để hôm nay,


Nhân ngày xuân tế Tổ,


Cháu con nội ngoại Võ


Lễ mọn với lòng thành


Kính bái chư tiên linh,


Bằng hương thơm, đèn tỏ


Xin nghiêng mình ngưỡng mộ.


Nguyện cầu chữ phước lành


Cho tất cả an bình


Cháu con trong dòng họ


Tắm gội nhuần phước Tổ


Được bảo hộ phù trì,


Trong công đức danh uy


Đẹp tươi dòng họ Võ


Phục duy thượng hưởng


Vũ Nguyên Võ Duy Chúc cẩn bút


VÕ DUY NINH, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP


Võ Duy Ninh thi đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ năm 1834 tại trường thi Thừa Thiên.


Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn Cao Xuân Dục, cho biết:


“Khoa thi năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15 [1834]. Từ khoa này định lệ sĩ tử từ Quảng Bình tới Phú Yên thi chung trường Thừa Thiên, sĩ tử các tỉnh từ Khánh Hòa vào Nam thi chung trường Gia Định đều thi vào tháng 7.


Thượng thư bộ Lại Nguyễn Kim Bảng làm chủ khảo, Bố chánh Bình Định Phạm Thế Lịch làm Phó Chủ khảo trường Thừa Thiên.


Kỳ thi này trường Thừa Thiên lấy đậu 31 người, trong đó có Tú tài Nguyễn Thế Trị chỉ đậu Tú tài được duyệt lấy thêm vào hạng Cử nhân, thi Hội, thi Đình đỗ iến sĩ.


       (Cao Xuân Dục, Quốc triều hương


                  khoa lục, các tr. từ 176-180).


Trong số 31 Cử nhân, có những người về sau nổi tiếng trong lịch sử nước ta như là:


Vũ Trọng Bình: làm tới chức Hiệp biện Đại học sĩ (tòng Nhất phẩm), làm quan có tiếng liêm khiết.


Võ Duy Ninh: làm quan tới chức Hộ đốc (Chánh nhị phẩm) Định- Biên, tuẫn tiết.


Nguyễn Xuân Bảng: làm tới chức Phủ doãn (Chánh Tam phẩm) phủ Thừa Thiên.


Phạm Văn Huy:  thi đậu Tiến sĩ khoa At Mùi [1835], làm quan tới chức Thị lang (Chánh Tam phẩm) bộ Binh.


Nguyễn Thế Trị: thi đậu Tiến sĩ khoa At Mùi [1835], làm quan tới chức An sát (Chánh Tứ phẩm).


 


Các Tiến sĩ, Cử nhân thường có thời gian vinh quy bái tổ, tức là được về thăm quê nhà thời gian vài ba tháng để bái tạ vị Thành hoàng nơi đình làng mình, bái tạ tổ tiên ông bà họ tộc và thăm hỏi tạ ơn bà con chòm xóm láng giềng đã giúp đỡ gia đình mình thuở hàn vi. Làng tổ chức lễ hội linh đình.


Thông thường khi đã thi đỗ thì được làm quan. Tuy triều đình ngày xưa cấm người địa phương làm quan tại quê mình, có lẽ là một quy định chống nạn bè cánh rất có hiệu quả, nhưng dù làm việc ở bất cứ nơi nào thì một ông quan tương lai cũng rất có giá trị trong xã hội Nho Phật như nước ta. Thế nên người ta chỉ chăm chỉ học hành cho tốt, thi đỗ làm vinh danh cho gia đình họ tộc và xóm làng. Gia đình họ tộc thì khỏi phải nói, có con thi đỗ là một bước lên tới trời, còn bà con xóm làng được dịp chứng minh địa phương mình là một nơi địa linh nhân kiệt, tô đắp niềm hy vọng nơi con cháu nhà mình. Các cá nhân có thế lực tại địa phương, những người muốn kết thân với vị tân quan… cũng vui vẻ tham gia đóng góp vào lễ khao này. Quỹ làng cũng có, là chút ít quỹ khuyến học, góp phần gây men để người làng hưởng ứng. Làng có người thi đỗ được vinh dự lắm. Ngày xưa có người sinh đẻ tại một nơi, cư ngụ tại một nơi khác, khi thi đỗ thì xảy ra tranh chấp giữa hai làng. Làng nào cũng viện đủ lý lẽ để giành vị tân khoa về cho làng mình.


Các vị Tiến sĩ, Phó bảng được tỉnh huyện đón rước từ nơi đầu tỉnh là trạm Nước Mặn, một trạm địa đầu của tỉnh Quảng Ngãi, tính từ Huế vô, nằm phía bắc Quảng Ngãi, ở ranh giới hai tỉnh Quảng Ngãi - Quảng Nam, tức là phía đón tân Tiến sĩ từ Huế về.


Phó bảng Võ Duy Thành được đón tại đây.


Các tân Cử nhân thì chỉ được đón rước tại nơi đầu huyện.


Các Tú tài thì chỉ được đón rước từ đầu làng mà thôi.


Từ khoa Nhâm Tý- 1852, Triều đình mở thêm trường thi Bình Định, thì huyện và làng đón các tân Cử nhân về hướng Nam. Các Cử nhân Quảng Ngãi chỉ được đón tại  nơi huyện nhà giáp với huyện kế cận, tính từ Bình Định trở ra.


Tân Cử nhân Võ Duy Ninh đỗ Cử nhân tại trường thi Trực Lệ (Huế), vì khi ấy chưa có trường thi Bình Định, nên được huyện Chương Nghĩa đón rước từ đầu bến đò phía nam sông Trà Khúc, vì sông Trà Khúc là ranh giới giữa huyện Chương Nghĩa và huyện Bình Sơn.


 


o0o


 


Có lẽ sau khi đỗ Cử nhân, thì vào năm sau, năm 1835, Võ Duy Ninh được bổ chức Hành tẩu bộ Lễ như phần đông các tân Cử nhân đều khởi đầu hoạn lộ với chức Hành tẩu, một chức quan nhỏ làm việc ở một bộ, chưa có phẩm hàm, được xem như tập sự. Nguyễn Công Trứ, Trương Đăng Quế… khi vừa đỗ Cử nhân cũng đã kinh qua thời gian làm Hành tẩu. Thường một Cử nhân làm Hành tẩu thời gian 2 năm mới được xem xét bổ dụng chức quan thực thụ.


Sau thời gian lm chức Hnh  tẩu, Võ Duy Ninh được chính thức bổ nhiệm làm chức Viên ngoại lang, có lẽ cũng ở bộ Lễ. Ông làm việc mẫn cán nên trong dịp mừng thọ vua, ông được thăng chức và được làm việc ở  Hộ khoa, không rõ ở bộ nào.


“Tháng giêng, năm Bính Ngọ, Thiệu Trị năm thứ 6 [1846], vua ban yến cho các quan có từng bậc. Lệ cũ ban ơn, văn từ chánh lục phẩm, võ từ chánh ngũ phẩm trở lên mới được dự, năm nay gặp tiết tứ tuần đại khánh, nên ân điển đặc biệt nhiều hơn…. cho Viên ngoại lang (Chánh ngũ phẩm) bộ Binh Vũ Duy Ninh, thăng thụ Chưởng ấn Cấp sự trung (Tòng tứ phẩm) ở Hộ khoa”.


     (Đại Nam thực lục, tập 6, các tr. 814,815)


  Trong thời gian 12 năm làm việc ở triều đình ông được phẩm hàm Tòng tứ phẩm. Việc thăng tiến như thế tương đối bình thường.


Thông thường, người đỗ Cử nhân, sau thời gian thử việc 2 năm thì được bổ làm quan, phẩm hàm là Chánh lục phẩm gồm các chức quan như là: Hàn lâm viện Trước tác, Chủ sự, Đồng tri phủ, Kinh huyện, Tri huyện, Y tả viện phán, Ngũ quan chánh.


Từ chức này lên chức Chưởng ấn Cấp sự trung phải được thăng liên tục 3 bậc, tuần tự là Chánh lục phẩm -> Tòng ngũ phẩm -> Chánh ngũ phẩm -> Tòng tứ phẩm. Bình quân mỗi bậc là 3 năm theo điển lệ thời bấy giờ. Như thế, Võ Duy Ninh làm Viên ngoại lang đã 3 năm, hoặc hơn 3 năm.


Năm 1846 này, Võ Duy Ninh bị một tai nạn đầu tiên trên bước hoạn lộ của mình. Số là vua Thiệu Trị đi chơi nơi vườn Cơ Hạ, triệu quân túc vệ diễn tập hàng ngũ.


“Các hoàng đệ Miên Định, Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên  Tống, Miên Thanh bỗng vào hầu. Vua giận nói rằng: “Đây không phải là nơi thường chầu hầu, không tuyên triệu thì không được vào, nếu đường đột thì phải tội. Các công đều bị phạt cắt bổng 5 năm, các biền binh giữ cửa đều bị giao cho bộ Hình bàn với viện Đô sát nghị xử. Các quan khoa đạo là bọn Võ Duy Ninh, Nguyễn Hữu Độ mười người cho xử như thế là qúa nặng, xin được xét lại. Vua quở rằng: “Tự tiện vào chỗ vua ngự thì phải tội thắt cổ, quan canh cửa cố ý cho vào, cũng phải tội như thế, có điều luật rõ ràng. Không biết bọn khoa đạo có ý kiến gì dám bác lời bàn của nhiều người mà bênh vực kẻ canh cửa?”. Bèn sai bộ Lại đòi tất cả đến ngoài cửa Đại cung xét hỏi. Bọn Duy Ninh đều cúi đầu nhận tội”.


        (Đại Nam thực lục, tập 6, các tr. 846)


Võ Duy Ninh, Nguyễn Hữu Độ cùng nhóm mười người nhận thấy toán biền binh canh cổng vườn Cơ Hạ hôm ấy, chỉ vì cả nể các hoàng tử em vua mà phạm tội, nên lên tiếng xin xem xét lại cho họ khỏi bị tội thắt cổ. Nhà vua bắt lỗi họ là quá đáng, là vớ vẩn vì chẳng thuộc chuyên môn nào mà chỉ là việc can gián vua đã cố tình quan trọng hóa một vấn đề nhỏ lẻ. Vụ việc ấy chỉ cần xử lý nội bộ là được.


Nhưng với các biền binh canh cửa thì đó là một hành động nhân đạo. Quả thật, các hoàng tử em ruột vua đòi vào chơi, họ rất khó từ chối. Họ có thể hiểu là sẽ bị phạt, nhưng không thể hiểu là đến nỗi bị mất mạng. Nhưng những người binh vực họ thì rất đáng khen. Phải là người dũng cảm, dám chịu trách nhiệm, mới  gánh vào mình một chuyện bá vơ.


Nhưng có lẽ vua Thiệu Trị muốn ra oai với các chú em và các cận thần, vì sau đó Võ Duy Ninh vẫn được thăng quan tiến chức bình thường.


Từ chức Chưởng ấn Cấp sự trung, rồi Khoa đạo Cấp sự trung ở bộ Lại, Võ Duy Ninh được thăng làm Quyền Lang trung, ty Trực tỉnh, ở bộ Binh cùng trong năm này. Chức Lang trung cũng Tòng tứ phẩm như Chưởng ấn Cấp sự trung và chức Khoa đạo Cấp sự trung, nhưng chức Lang Trung có vai trò quan trọng  hơn. Vả lại bộ Binh thời ấy là một bộ tập hợp những nhân vật tinh hoa vì bấy giờ việc đối đầu với pháo thuyền của Pháp rất phức tạp và đặc biệt nghiêm trọng.


“Tháng 9 năm Bính Ngọ, Thiệu Trị năm thứ 6 [1846], ngày Canh Tý, Nhân Tuyên Từ Khánh Phúc Thọ Khang Ninh Hoàng Thái hậu mất, thọ 79 tuổi. Bá cáo quốc tang… Ngày Canh Tuất làm lăng ở Thuận Sơn. Thưởng cho từ  Đổng lý đến quan quân, giai cấp kỷ lục lương bổng và tiền có từng bậc… Lại khoa Chưởng ấn Cấp sự trung là Võ Duy Ninh thăng quyền Lang trung (Tòng tứ phẩm) ty Trực tỉnh bộ Binh…”.


                (Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 921).


Thế là, từ năm 1846 này, Võ Duy Ninh làm việc ở cơ quan quân sự, ngay tại bộ Binh. Tính từ năm ấy đến đầu năm 1859 là gần 13 năm là một thời gian dài đủ để có thể gọi là đã khá dày dạn kinh nghiệm chiến trận.


Ngay năm sau, năm 1847, Võ Duy Ninh lần đầu tiên chạm trán với quân Pháp nơi vũng Trà Sơn – Quảng Nam.


Sử viết rằng vào tháng 2 - 1847, có hai chiếc quân thuyền to đùng của nước Pháp không biết từ đâu đến đậu tại cửa biển Đà Nẵng. Đó là hai chiếc Victoirieuse và chiếc Cléopâtre từ Kulikan (Hải Nam -Trung Hoa) đến. Một đoàn 5, 6 người đeo thánh giá đạo Thiên Chúa lên bờ đi lại nơi bến cảng, tìm gặp một số người Việt Nam theo đạo Thiên Chúa. Chúng đi lại gặp gỡ tự do với người Việt Nam mà không cần xin phép giới chức đương quyền. Quan quân xét tra thì chúng tỏ ra kiêu ngạo không chịu cho xét, chúng không coi quan binh nước ta ra gì.


Đáng lẽ phải bắt giữ chúng lại, nhưng các quan chức tỉnh Quảng Nam vốn khiếp oai của chúng, lại sợ đụng đến người Pháp chỉ gây thêm rắc rối cho Triều đình nên phi tấu lên Triều đình.


Vua Tự Đức sai Tham tri bộ Lễ là Lý Văn Phức làm Tác vi đại viên tỉnh Quảng Nam, đi đến ngay, cùng hai quan đầu tỉnh là Tuần phủ Quảng Nam Nguyễn Đình Tân, Lãnh binh Quảng Nam Nguyễn Đức Chung cùng bàn bạc biện pháp đối phó, giải quyết vấn đề.


Viên Đầu mục Tây dương tên Lạp Biệt Nhĩ (Lapierre) đem theo vài mươi tên quân đeo gươm mang súng, đến thẳng ngay công quán, mà không ai dám ngăn lại. Chúng đưa ra một lá thư của nước chúng bằng chữ Hán, lời lẽ phần nhiều hăm dọa quan quân ta. Lý Văn Phức không chịu tiếp nhận. Viên Đầu mục Tây dương quát to để dọa nạt, đặt lá thư trên ghế rồi đi.


Bọn Tây dương càng thêm tự đại, ngày thường lên bờ đi lại các xóm làng. Người dân theo đạo Thiên Chúa, phần nhiều qua lại báo tin cho chúng. Thư viết bằng chữ Hán, có lẽ do người Việt theo đạo Thiên Chúa viết theo ý chúng. Điều đó, cho thấy ít nhất là vào thời kỳ ấy, quân Pháp đã xây dựng được mạng lưới người địa phương giúp việc, cung cấp thông tin mọi mặt, trong đó có tình hình phòng thủ và động tĩnh của quân ta. Trong khi, bên ta hoàn toàn không biết gì về chúng, chúng từ đâu đến, đem theo bao nhiêu quân, bao nhiêu vũ khí và thực chất là chúng đến để làm gì. Triều đình có biết nhưng biết chẳng qua là những thông tin không quan trọng. Nhất định là Triều đình chưa nắm được mưu đồ chủ yếu của quân Pháp


Quân Pháp không dừng lại ở đó, ỷ vào thuyền to súng lớn, chúng làm chuyện ngược đời là kiểm soát tàu thuyền của quân ta đi tuần tiễu bằng cách bắt giữ lại ở cửa biển. Có 5 chiếc thuyền bọc đồng từ Kinh phái đi Nam (Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng) chưa ra biển, còn đậu ở vũng Trà Sơn đối diện với thuyền Tây dương, cũng bị chúng sấn đến cướp lấy buồm và dây buộc thuyền…


Với chỉ hai chiếc quân thuyền thôi, mà chúng đã khuấy động tình hình, đến nỗi nhà vua phải đích thân điều động giải quyết:


“Vua ngự đến điện Vũ Hiền, sai ngay Đô thống Hữu quân Mai Công Ngôn, Tham tri bộ Hộ Đào Trí Phú đem biền binh 3 vệ Vũ Lâm, Hổ Oai, Hùng Nhuệ đều đến ngay chỗ cửa biển, từ Tuần phủ trở xuống đều phải nghe lệnh điều khiển của Mai Công Ngôn… Lại sai thự (phó) Chưởng vệ Thủy sư Phạm Xích, thự Lang trung bộ binh Vũ Duy Ninh quản lĩnh 4 chiếc thuyền đồng chạy đến ngay vũng Trà Sơn làm thanh ứng”.


              (Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 976).


Chúng ta hãy nghe tường thuật của phía quân Pháp:


“Ngày 19-3, Lapierre gởi một thông điệp từ Macao đến Tourane - một hải cảng cách kinh đô Huế 50 dặm về phía đông nam - do chiến hạm Victoirieuse chuyển đi, với nhiệm vụ trao tận tay viên quan cai quản Tourane.


Ngày 23-3, Lapierre đi trên chiến hạm Gloire, đích thân đến Tourane và được biết viên thuyền trưởng tàu Victoirieuse không hoàn thành được nhiệm vụ trên, vì ông ta chỉ có thể tiếp xúc với những viên quan cấp dưới.


Lapirere đã từng gặp những trường hợp tương tự, bèn quyết định ngăn giữ 5 chiếc thuyền lớn của đối phương. Nhằm tránh những hành động quá khích, Lapierre ra lệnh dỡ bỏ các buồm của 5 chiếc tàu trên (tức 5 chiếc Kim Ưng, Phần Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng), xếp xuống hai thuyền nhỏ chở đến khu vực 5 chiến hạm Pháp. Biện pháp này xem ra có hiệu lực, vì ngày 31-1, viên quan cai trị Tourane đã gặp Rigault de Genouilly (chỉ huy chiến hạm Victoirieuse) rất lịch sự, tiếp nhận công điệp của Lapierre và hứa sẽ trả lời trong 10-12 ngày tới. Khoảng thời gian này trôi qua không xảy ra sự cố gì, chỉ đáng chú ý là trong các pháo đài và trên 5 chiếc thuyền của đối phương đang có sự chuẩn bị ráo riết để đối phó.


Rạng sáng ngày 12-4, một sĩ quan tùy tùng đến chiền hạm Gloire báo tin có quan chức cao cấp từ Huế đến để trả lời bức thông điệp và hẹn mời Lapierre lên bờ. Trong khi hai bên đang thương thuyết, vài sĩ quan Pháp lên bờ đi dạo và phát hiện một người bản xứ có ý muốn liên lạc với họ. Ngay lập tức, một sĩ quan Pháp đến gần người bản xứ ấy và trao cho người ấy một mảnh giấy và một cây bút chì. Người này viết nguệch ngoạc mấy dòng, dịch ra như sau: “Vào lúc đãi tiệc, các ông sẽ bị đánh úp bất ngờ và sẽ bị giết hàng loạt”.


Được tin này, Lapierre vốn đã do dự, bèn quyết định ngưng cuộc tiếp xúc, ít nhất cũng là tạm thời. Thế nhưng, những việc chiến đấu của đối phương vẫn tiếp diễn và một lượng vũ khí lớn đã được chuyển qua hai chiếc tàu đậu gần khu vực các chiến hạm Pháp. Lapierre liền phái hai phân đội bất thình lình đánh chiếm hai chiếc tàu ấy và đã phát hiện một điều cực kỳ quan trọng: giữa lúc đang tước vũ khí trên thuyền, một chuẩn úy nhìn thấy một lính bản xứ đang tìm cách giấu một mảnh giấy, viên chuẩn úy liền giật lấy đem về trình lên Lapierre. Đó là kế hoạch đối phó với quân Pháp với ba con dấu. Theo kế hoạch này thì trong khi hai bên thương thuyết, họ tấn công giết chết thuyền trưởng và tùy tùng, đồng thời tấn công các tàu Pháp từ nhiều phía. Họ quyết đánh cho nát vụn, cốt làm cho quân Pháp kinh sợ, không còn dám bén mảng đến vùng biển này nữa.


 Ngày 14, xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên về cuộc tấn công của quân đội An Nam. Cả 5 chiến thuyền đầy ắp lính, dàn thành hàng tiến về phía các chiến hạm Pháp. Vô số những chiến thuyền khác hình như cũng đang sẵn sàng tham gia trận đánh, trong đó có 4 chiến thuyền lớn nhất, có lẽ từ kinh đô tới. Chiến hạm Gloire nổ súng và ngay tức khắc chiến hạm Victorieuse cũng nổ súng hỗ trợ. Từ các pháo đài và thuyền chiến của quân An Nam cũng nổ súng đáp trả.


Lapierre chỉ làm đến chừng ấy rồi ngay này hôm sau cho giong buồm ra khơi”.


      (Nguyễn Phan Quang, Việt Nam Thế kỷ


        XIX, các tr. 354-357)


Lần ấy, có lẽ quân Pháp cố tình gây sự để thăm dò thái độ và cách đối phó của ta mà thôi. Đến khi nghe tin ta điều động đại qun thì chúng bỏ đi. 


Quân ta rất bị động, không thể nào biết chúng từ đâu đến và đến để làm gì, rồi đi về đâu. Triều đình cứ khăng khăng cho là chúng đến vì việc truyền đạo và xin lập phố buôn bán. Suy nghĩ như thế là đánh giá không đúng về âm mưu địch, đánh giá ý đồ của địch quá sai lạc. Triều đình ta không hề biết rằng thực dân Hà Lan đã xâm chiếm Indonésia, Thực dân Anh đã chiếm Mã Lai, còn thực dân Tây Ban Nha đã chiếm Philippine sớm hơn nữa, từ thế kỷ XVI. Từ năm 1830 đến năm 1848, kinh tế Pháp có tốc độ phát triển nhanh, chính phủ Pháp đã có thuộc địa ở châu Phi, châu Mỹ và có phần ở Ấn Độ và đẩy mạnh kế hoạch xâm chiếm thuộc địa ở Viễn Đông.


“Năm 1835, Pháp thành lập Lãnh sự quán ở Manilla và năm 1839 chuyển thành Tổng lãnh sự Đông Dương nhằm cạnh tranh với thực dân Anh và thực dân Hà Lan”.


(Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX,


  tr. 264-265)


“Cuối năm 1852, Napoléon III quyết định đẩy mạnh kế hoạch xâm lược nước ta…”


(Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX,


tr. 266)


Những mưu đồ chiến lược ấy, cả triều đình Huế hoàn toàn không hay biết. Cả triều đình không một ai hiểu về phương Tây và văn minh phương Tây vì họ chỉ được học cái sở học của nhà Nho, tôn sùng Khổng Tử, tôn sùng Trung Hoa, mà đến lúc bấy giờ Trung Hoa cũng còn bị ràng buộc trong cái học cũ, chưa có chuyển biến gì. Trong từng sự việc cụ thể có những lãnh vực Trung Hoa còn kém nước ta.


Nhưng qua sự kiện thuyền Pháp xâm nhập cảng Đà Nẵng, triều đình Huế mới bắt đầu chú trọng đến phòng thủ ven biển, đặc biệt là Đà Nẵng, cửa ngõ chiến lược của kinh đô Huế. Triều đình nâng cấp quản lý bằng việc bắt đầu đặt chức Tổng đốc Nam- Ngãi và Bố chánh Quảng Nam. Trước kia, Nam- Ngãi đặt một viên Tuần phủ, kiêm lĩnh Bố chánh; đến đây vua thấy hạt ấy, trên tiếp với dân man ở núi rừng, dưới liền với cửa biển, công việc rất nhiều mới bớt chức danh Tuần phủ, đổi đặt chức một viên Tổng đốc Nam- Ngãi, một viên Bố chánh Quảng Nam. Tổng đốc Nam- Ngãi đóng tại Đà Nẵng. Việc nâng cấp quản lý này nhằm tăng cường sức chiến đấu cho Đà Nẵng


Võ Duy Ninh được giao cho việc tham gia quy hoạch xây dựng đồn lũy ven biển Đà Nẵng, phòng chống pháo thuyền của Pháp.


“Lấy Chưởng vệ Tân Lộc tử Mai Công Ngôn thự Tổng đốc Nam Ngãi, Lang trung Đào Trí Phú thự Bố chánh Quảng Nam… Nhân sai bọn Mai Công Ngôn đốc đồng với Phó Vệ úy vệ Trung dinh Thần cơ là Nguyễn Quý, thự Lang trung bộ Binh là Vũ Duy Ninh xem xét chỗ vũng Trà Sơn, chỗ nào nên dựng pháo đài, lũy đài đặt cỗ súng, mà có thể chế ngự được bọn Tây dương, thì nhất nhất vẽ thành bản đồ, nói cho minh bạch, dán kín lại, dâng lên vua…”.


   (Đại Nam thực lục, tập 6, các tr. 989, 990).


Triều đình Huế cũng đã học phương Tây khá nhiều. Các hệ thống thành trì, đồn binh đều được xây dựng theo thiết kế của người Pháp. Vũ khí cũng là của châu Âu. Tàu hải quân cũng theo mô hình, kỹ thuật châu Âu:


“Mùa hạ, tháng tư- Đinh Mùi (1847), đóng một chiếc tàu lớn hiệu Bằng Đoàn, dài 8 trượng 1 thước, ngang 1 trượng 2 thước 3 tấc, sâu 1 trượng 5 thước 3 tấc, đặt 22 cỗ súng các loại. Lại đóng một chiếc quân thuyền hiệu Điêu Phi bọc đồng”.


          (Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 1006)


Auguste Hausseman mô tả Đà Nẵng năm 1845 như sau:


“Từ đỉnh đồi, chúng tôi nhìn rõ thành Tourane (Đà Nẵng) được xây kiểu châu Âu theo thiết kế của các sĩ quan người Pháp trước kia…”.


   (Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX,


tr. 316)


Thông báo chính thức của Rigault De Genouilly gởi Bộ trưởng bộ Hải quân Pháp:


 “Pháo đài ở phía tây và các công sự khác đã được sửa lại khá hoàn hảo. Pháo đài này từng được trang bị đại bác cỡ lớn bằng sắt và bằng đồng… Đại bác bằng đồng chiếm số nhiều hơn và nói chung rất đẹp… Trang bị pháo binh của họ rất hoàn chỉnh và tốt hơn nhiều so với những gì tôi thấy ở Trung Hoa… Các vũ khí cầm tay thì không có gì đặc biệt, chỉ là các loại súng hỏa mai sản xuất tại Pháp hoặc Bỉ, thuốc súng là loại sản xuất tại Anh, có thể đã được mua từ Singapour hay Hongkong”.


(Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX,


 tr. 364-365)


Tiếc thay đó là những thành tựu của châu Âu nửa thế kỷ về trước, thời Bá Đa Lộc và những người Pháp thời ấy hỗ trợ Gia Long, theo công nghệ của thời ấy. Còn bây giờ công nghệ châu Âu nói chung, công nghiệp Pháp nói riêng tiến như vũ bão, thời gian vài mươi năm đã thành lạc hậu rồi.


Đơn giản là nước ta chưa có nền công nghiệp cơ bản. Nên chưa đào tạo được đội ngũ kỹ thuật chuyên môn. Bấy giờ ta chỉ bắt chước được phần ngọn mà chưa nắm vững phần gốc nên không thể theo kịp đà phát triển của công nghệ châu Âu. Đó là hậu quả của sở học nhà Nho bấy giờ khép kín và rất cao ngạo, xem thường những thành tựu của Tây vực (đối với họ ở phía tây là Tây vực). Họ cho rằng công nghệ Tây vực chỉ để sử dụng, chứ không phải để học theo. Chính cái quan điểm cứng nhắc ấy đã làm cho ta (và cả Trung Quốc nữa) tụt hậu hai thế kỷ qua.


(còn tiếp)


Nguồn: Võ Duy Ninh, Tổng đốc đầu tiên tử tiết chống Pháp. Nhóm biên soạn: NguyễnVăn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn Phương Ngọc, Nguyễn Văn Thanh.


www.trieuxuan.info


 

trieuxuan.info