Truyện ngắn “Chuyến đi cuối năm” của tôi đã được in lần đầu cách đây khoảng mươi năm về trước trên tờ Văn nghệ, sau đó nó đã được đưa vào tập “Một loài chim trên sóng” và rồi có mặt trong “Đỗ Chu Tuyển tập truyện ngắn”. Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội có nhã ý dành cho tôi quyền tự chọn một cái ngăn ngắn để gửi tới bạn đọc hôm nay, tôi cân nhắc và thấy nên lấy tác phẩm này.
Tôi muốn rủ người đọc hãy cùng tôi làm một chuyến đi về phía cửa sông rộng lớn, đi tìm lại cho mình sự thanh thản cần thiết giữa những ngày sống thật lắm rối rắm vướng bộn và bức xúc... ĐC.
Bác Kiên một tay chống điếu cày, tay kia cầm chiếc đóm đang cháy dở. Đã là chiếc đóm thứ ba rồi mà bác vẫn chưa hút xong điếu thuốc. Bác còn đang há miệng lắng nghe Lăng kể chuyện.
- Lạy chúa tôi, khéo loạn to mất. Bác dụi đóm, kêu tướng lên. Thoạt đầu nghe nói sinh thái đang bị tàn phá tôi chẳng hiểu ý tứ là thế nào, con người nghĩ ra lắm sự quái gở, nó dám làm đủ mọi chuyện khủng khiếp. Tôi từng đã nghe có cá heo được huấn luyện đánh thuỷ lôi như đặc công, nay lại thấy bồ câu mang bạch phiến, đại bàng mang máy ghi âm... Thế chú định ở lại đây bao lâu nào, mười ngày thôi, mười ngày e vội quá. Thôi thì cứ nghỉ lại nhà chúng tôi, năm hết tết đến mấy tay cán bộ địa phương thằng nào cũng hớt hải bận bịu, hay nhất là chú cứ ở lại đây.
Lăng đang chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ, anh đi chuyến này là mong tìm kiếm thêm chút ít hiểu biết nhằm bổ sung cho bản luận án đó. Anh là giảng viên khoa sinh thái học trường Đại học quốc gia. Bạn bè thân quen thì thích gọi anh là thằng Lăng “chim học”. Là vì anh khá am tường về các loài chim, đã có sách viết về chim và đặc biệt là rất yêu chim. Giờ anh lại đang muốn phân họ các loài chim ở đồng bằng Bắc bộ. Đây là một đề tài thuộc chuyên môn hẹp, do vậy cần tỉ mỉ và sâu. Phàm ở đời đã định phân loại cái gì là y như rằng sẽ phải tập hợp và so sánh chúng, mà một khi đã tập hợp và so sánh thì rất dễ lầm lỗi, có khi lầm lỗi suốt đời. Nhưng cũng chớ có quá lo sợ, bởi vì đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là con người mà là những chú chim, do vậy nếu có sao thì bất quá cũng chỉ là một sự lầm lẫn viển vông mà thôi. Chẳng thế mà xung quanh không ai thấy Lăng là một phần tử đáng xem là nguy hại, họ hoàn toàn yên tâm về anh.
Duy chỉ có Kim Thúy, vợ anh là hay phàn nàn về chồng mà thôi. Hình như không có bà vợ nào lại không thích phàn nàn về chồng mình, vì cũng rất ít ông chồng có thể khiến các bà vừa lòng. Các bà xem đó là đối tượng để tấn công, tấn công liên tục và không khoan nhượng. Hạnh phúc chính là tấn công, họ rỉ tai nhau như vậy. Và nói chung là họ luôn thắng lợi. Khi biết Lăng sắp đùng đùng bỏ nhà đi giữa lúc thiên hạ đang cắm mặt lo kiếm tết, Kim Thuý dậm chân, hai tay chống nạnh, miệng gầm gừ như một con báo đói.
- Lại nổi cơn gàn rồi. Trốn vợ mà chui vào rừng vào núi, bò bò nấp nấp, rình rập suốt ngày để mong thấy một con chim! Còn có cái nghề nào oái oăm hơn cái nghề anh chọn không? Chả hiểu sao Nhà nước lại ngớ ngẩn bỏ tiền trả lương cho anh, trong mọi sự dại dột ở đời thì dại dột nhất là đã nuôi báo cô mấy ông khoa học. Nếu tôi mà có quyền sinh quyền sát trong tay thì tôi bỏ tiền của ra đầu tư cho các nhà văn cơ, chính họ mới là những người đang tích cực xúm vào cải tạo môi trường sinh thái chứ không phải mấy ngài đâu. Sinh thái xã hội thời mở cửa là thứ sinh thái có hơi bị hấp dẫn, văn chương thời mở cửa là thứ văn chương có hơi bị cực kỳ, đọc đến trang nào cũng chỉ muốn ôm mặt khóc rú lên. Năm nào cũng thấy có những tin sốt dẻo, năm nào cũng có những thành tựu tuyệt cú mèo.
Nói vậy thôi chứ ở đời có vợ nào là vợ chẳng thương chồng. Cho nên Kim Thuý dù uất nghẹn họng vẫn còn dư tỉnh táo để kịp dúi vào tay chồng một cuốn sách nặng như một hòn gạch chỉ đúng vào lúc anh hoang mang xách túi chạy ra khỏi cửa. Một cuốn sách nặng như một hòn gạch thì tất nhiên phải là một tác phẩm lớn. Chỉ những gã bất tài bất tướng mới chịu viết những câu chuyện ngăn ngắn mà thôi. Vừa tiễn chân chồng ra ga cô vừa tranh thủ xả hơi.
- Đây là cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em”, giải thưởng “Bọ xít vàng” năm nay đấy anh nhé. Nó sắp được dịch ra toàn thế giới. Mang tiếng là người cầm bút lúc này mà không biết chửi bởi phanh phui, không biết dùng cán bút làm đòn xoay xở thì có họa là ngớ ngẩn. Anh nên cẩn thận khi mở ra đọc vì nó đúng là một quả bom dư luận đấy chứ không phải chuyện đùa đâu. Anh hay lang thang ở những chỗ quê mùa, lại ít đọc là dễ thành lú lẫn lắm. Nói thật nhé, em thấy chả có cái nghề nào lại dễ kiếm tiền hơn nghề văn lúc này đâu anh ạ. Làm cái nghề ấy giả dụ có đi xin đi chọc người khác cũng có thể được tiền. Con bạn em, tác giả cuốn sách này ấy mà, nó vốn chỉ là một con bé ngồi đan len trên phố Hàng Mắm, rồi lớn lên thì tếch đi lấy chồng. Mấy năm gần đây chẳng hiểu vì sao, có lẽ là vì đã chửi mẹ chồng, nên nó bị thằng chồng dắt ra toà ly dị. Thân gái mà không chồng thì trước mắt chỉ còn hai con đường, một là treo cổ hai là tìm mọi cách len lỏi tới làng văn nghệ. Nó quyết định chẳng tội gì mà chết, phải đứng lên cầm bút đòi quyền sống. Rồi nó rủ em cùng làm đơn xin vào học một trường viết văn, Hà Nội có tới mấy trường dạy viết văn anh hiểu không. Nhưng dạo đó em còn đang ngu lâu nên em đã không nghe nó. Mấy ông thầy trường đó thật quá là nhiệt tình, có một ông tấp ta tấp tểnh ngày nào cũng tới động viên em nên chịu khó vào học, ông ấy lắp bắp bảo em là một đứa có thiên bẩm, viết văn cần nhất là phải có thiên bẩm. Người ta thì chân thành mà mình lại nỡ ngờ vực cho họ là một lũ mẹ mìn, thế là toi mất một dịp may. Nhưng cũng chưa muộn, thiên bẩm chưa dùng thì vẫn còn đấy, cho nên sang năm em sẽ viết cho anh coi. Tranh thủ lúc giáp tết em làm nốt mấy phi vụ này đã, xong xuôi em nhất định phải bắt tay vào chơi một cú tiểu thuyết. Viết như con bạn em thì anh bảo em đã kém cạnh gì. Có một ông lớn đã hứa sẽ cung cấp tư liệu cho em. Họ là những người chọc trời khuấy nước, cho nên chỉ cần hắt xì hơi một cái là nhà văn viết cả năm chẳng hết. Mà lại sang lây, cũng bõ một đời cầm bút. Anh hãy đợi đấy, con vợ anh không phải tay vừa đâu. Công ty “Nguduha” của em lần này làm luôn cả việc buôn bán văn hoá.
Phải lắm. Điều ấy thì Lăng có thể tin. Gì chứ để góp phần làm mất cân bằng sinh thái thì em là một tay có cỡ.
Ngay từ hôm đầu về sống với nhau đã thấy ngay Kim Thuý nào phải tay vừa. Chẳng qua anh vốn vẫn là một thằng hấp lìm khờ khạo, suốt đời chỉ biết đến những gì trên mây trên gió, còn vướng vào việc đời là quáng quàng như gà mắc tóc. Sang năm có lẽ cả Lăng nữa cũng sẽ viết văn. Cả nhà mình, cả thành phố mình sẽ cùng nhau viết văn, và như Thuý nói thì lúc đó chả còn ai đói nữa, ai cũng sẽ có cái để bốc bải vào mồm. Chao ôi, chỉ nghĩ vậy cũng đã đủ thấy là danh giá.
*
Hoá ra vấn đề môi trường sinh thái lại là vấn đề quá rộng lớn và cũng quá nan giải. Càng nghĩ Lăng càng thấy con đường mà mình đang đâm đầu vào là hết sức rối rắm và có thể dẫn đến những tệ hại khôn lường.
Nó không phải chỉ là chuyện phân họ các loài chim, cũng không phải chỉ là chuyện hiệu ứng lồng kính, sự sụt lở của tầng ôzôn trong khí quyển hay các đại dương bị ô nhiễm hoặc các lục địa bị xói mòn cạn kiệt. Nó vẫn là chuyện con người, là sự rồ dại khó bảo của giống người đang sống ở khắp nơi.
Ra tới ga Hàng Cỏ, lúc sắp lên tàu mà Thúy nào đã chịu buông tha cho anh, cô ấy đòi phải ôm hôn nhau trước lúc tạm biệt. Chỉ còn thiếu nước không tìm nổi cái lỗ để chui xuống cho rảnh. Anh chợt nhớ tới câu chuyện của một nhà hiền triết La Mã nọ, trước lúc chết đã gửi cho bạo chúa Nê-rông một bức thư, trong thư ông đã châm biếm kẻ độc tài, nếu được phép cầu xin bệ hạ một ân huệ cuối cùng thì thần chỉ dám tâu bày thế này, bệ hạ là người quyền khuynh thiên hạ, muốn làm gì cũng được, bệ hạ cứ làm các cuộc chiến tranh, cứ giết, cứ đốt, nhưng cúi xin bệ hạ đừng làm thơ nữa, thần lấy làm hổ thẹn mỗi khi phải nghe thơ của bệ hạ.
Nếu có thể được dặn dò người vợ trẻ của mình một lời chân thành thì có lẽ Lăng cũng sẽ nói một câu gì đó tương tự như vậy. Anh cầu xin em chớ có viết văn làm gì, công việc đó thực sự sẽ là một tai họa cho cái tổ ấm vừa mới xây dựng của hai ta, em cứ làm kinh tế, cứ đi buôn, cứ tham gia mọi hoạt động xã hội, nhưng cầm bút viết văn thì chớ! Bởi vì tuy lười đọc nhưng anh cũng đã có dịp nhòm vào một vài cuốn sách in mấy năm nay rồi, anh có thể nói toạc ra rằng, một là anh ngu dại hai là chính họ.
Bây giờ Lăng ngồi đây, một mình một bóng trong căn nhà tranh ở một làng ven biển. Vợ chồng bác Kiên dành cho anh một khoảng tự do hoàn toàn, các nhà khoa học phải có chỗ yên tĩnh để làm việc, thời gian đối với họ là vàng ngọc. Bác đã nói với vợ con như vậy.
Hai vợ chồng bác suốt ngày cặm cụi ngoài đồng, đang là vụ cấy chiêm, phải cấy gấp để khi ngẩng lên là đã thấy tết. Sau lưng họ là một đội ngũ kế thừa sự nghiệp khá đông, hai trai ba gái, phải cái bọn trẻ đang còn nhỏ quá. Thằng anh cả tóc tai bám đầy bùn đất, mới chỉ biết nhảy lên chiếc xe đạp kể từ cái hôm thi đậu vào trường cấp ba của huyện. Đứa út thì đúng là còn đang nấp sau lưng con chị, bọn chúng lỉnh đi đâu suốt ngày, suốt ngày tấp tểnh đợi tết, đứa nào đứa nấy lấm lem mũi dãi.
Thành thử Lăng là người về đây để trông nom nhà cửa giúp họ. Nhà sinh thái học bày la liệt trên chiếc bàn gỗ ọp ẹp kê sát cửa sổ nào tài liệu tham khảo, tiếng tây tiếng tàu, nào bút chì bút mực, tất nhiên có cả cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn của em” ngoài bìa có in hình một cô gái quên không mặc quần áo, tay nâng một bông hồng. Nó là đầu câu chuyện của các nhà đổi mới đang toan tính kiếm chác một cái gì đó thì phải.
Những chú ruồi chốc chốc lại lao thẳng vào mặt anh như những chiếc máy bay thần phong hồi thế chiến thứ hai, chúng nó muốn nhắc nhở với anh rằng hiện trạng sinh thái nơi đây là rất đáng lo ngại.
- Chỉ có tiếng chim là thiếu. Im ắng quá. Làng xóm giờ vắng vẻ tiếng chim hót. Thuở chị em chúng tôi đang còn con gái, đi một bước chim chóc nhảy theo một bước, chỉ lo vô ý dẫm vào chúng thì phải tội. Mùa gặt tháng mười là chim ngói, bồ nông. Mùa nước nổi là kền kền, mồng két, kịp đến lúc cày vỡ là khắp đồng ríu rít sáo đen, sáo sậu, những chú sáo mỏ vàng dưới làn cánh có chấm trắng, chúng đậu trên lưng những con trâu lững thững gặm cỏ.
Bác Kiên gái vạch vú cho con bú, nhẩn nha trò chuyện với Lăng. Mùi sữa hoi hoi thơm. Đứa bé vừa hít sữa vừa nhai vú mẹ chùn chụt. Giọng người đàn bà nghe khê nặng mà ấm. Dân biển gần muối mặn, tiếng nói không mấy mềm mỏng, nhưng được cái dễ gần, dễ tin.
Y như buổi đầu mới gặp Lăng, người chồng lại vẫn ngồi khoanh đùi trước thềm, tay chống điếu cày, tay cầm chiếc đóm tre ngâm đang bén lửa. Sức vóc anh vạm vỡ, nước da đen bóng như đồng hun, những mảng khối vừa thô nháp vừa rất đỗi hài hòa trên khuôn mặt vốn lầm lì. Nhưng một khi anh cất tiếng cười thì vẻ lầm lì lập tức vụt biến và cả gương mặt rạng rỡ ngay lên, rất hiếm gặp được ai có tiếng cười hồn hậu đến vậy.
Họ cùng lắng nghe tiếng sóng vỗ ầm ì phía bể. Có tiếng gì như tiếng vỏ đỗ nổ lép bép râm ran, một tiếng thở thật sâu, thật rộng, mơ hồ trong gió. Đấy chính là nước ròng. Con nước thuỷ triều đang ròng. Nó còn lên dần, lên cao dần, cho tới quá nửa đêm.
Vào mùa xuân năm con khỉ, năm Mậu Thân đó, chú Lăng có biết anh em chúng tôi đã ăn một cái tết như thế nào không? Rạt cả lên rừng, ngày húp một vậc cháo. Một tiểu đội chỉ được phép đổ ra đúng một bát gạo thôi, nước thì tha hồ, muốn ăn đặc cho vừa vừa, muốn mát ruột cứ việc gia thêm.
Tôi cõng thằng bạn trên lưng ròng rã nửa tháng trời, không sợ mình mệt mà chỉ lo nó chết. Nó bị mảnh pháo tiện mất một bàn chân. Lâu lâu tôi lại phải đứng khựng lại nghe ngóng xem nó có còn thở nữa hay không.
Một hôm tới phiên tôi nấu cháo, tôi nghĩ vân vi đằng nào anh em mình cũng có thể chết, không chết vì bom đạn mà chết vì đói, vì ốm đau quá. Tôi đánh liều cầm cái xẻng men theo bờ suối, chỉ cần lật mấy gốc tranh lên là đã có giun, những chú giun rừng dài vừa bằng cái que cời bếp, lóng lánh như xà cừ. Tôi kiếm một lúc được đầy mũ sắt, mang ra suối mổ rửa sạch ruột rồi cứ lưỡi lê tôi thúc cho chúng nát nhão cả ra, vứt vào đó nhúm muối, mắt trước mắt sau tôi trút tuốt cả vào nồi cháo đang sôi sùng sục. Cả bọn xúm vào sì soạt húp, loáng cái hết veo, có cậu thấy ngon quá, chả kịp hỏi xem thứ cháo hôm nay là thứ cháo gì, dùng ngón tay vét sạch cả đáy nồi.
Nhưng khi tôi vừa đưa thìa cháo lên miệng thằng bạn thì nó nhăn ngay mặt, nó nhìn tôi chằng chằng. Mày quấy cháo giun hả? Tôi gật đầu. Thì đã khác gì rươi ở nhà. Làm sao sống được mà cùng về với nhau là tốt rồi. Ở nhà rươi nấu với măng chua, ném thêm nắm lá thì là vào, ngon bằng tiến vua nhá. Còn nếu sang thì đúc rươi lẫn trứng và thịt nạc, bỏ ít vỏ quýt nữa... Tôi nói lảm nhảm một hồi nhưng nó chỉ húp nổi đến thìa cháo thứ ba là oẹ ra. Nó gạt tay tôi rồi thều thào: “Giun không là rươi được, không thể nào cứt cũng như rươi!”
Đúng là tôi bó tay ngồi nhìn nó chết. Nó mất nhiều máu quá, nếu ở hoàn cảnh khác, bị thương vậy đã thấm vào đâu. Vậy mà nó chết mới tức chứ. Mẹ kiếp, tôi vẫn cứ phải nghĩ mãi, chưa hiểu sao đói là thế mà nó không chịu húp cho mình một bát cháo giun. Nó là dân biển, nuốt rươi từ thuở lọt lòng. Lũ trẻ chúng tôi ăn sống nuốt tươi là chuyện hàng ngày, có gì là lạ, rồi chăn chiếu quần áo, trong nhà ngoài thuyền có chỗ nào là không có mùi tanh tưởi nhỉ.
Vào độ cuối thu trời đất giao chuyển, khi trong người thấy ngây ngấy mỏi mệt ấy là lúc rươi cũng từ dưới bùn sâu ngoi nổi lên mặt nước, chỉ việc gọi nhau mang rổ rá ra mà vớt về. Con xanh là đực, hồng hồng là cái. Chúng làm tổ trong đất nhưng vào mùa sinh nở lại phải ngoi lên tìm nắng gió mà quấn quýt với nhau. Rươi béo nhất là vào tháng chín tháng mười. “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm, anh ra ngoài bãi vớt trầm cho em”.
Con rươi nhỏ nhoi mà được gọi là trầm. Nó tầm thường thế nhưng nếu biết làm thì cũng thơm nức chả kém gì trầm hương đâu. Chưa quen mà nhìn vào thì quả là có sợ, nhưng quý lắm đấy. Nhà nào neo thì đổ rươi vào hai thùng sơn quẩy lên tỉnh, chưa tới chợ đã thấy thiên hạ nhao nhao đòi mua. Nhà nào có sức thì xếp những thúng rươi vào lòng thuyền, chèo mãi lên mạn Bắc Giang, Vĩnh Phú. Ở vùng này bán rươi xây nhà ngói là chuyện phổ biến. Những tưởng sống trên vùng đất mặn mòi thì chỉ những vất vả là vất vả, vậy mà nếu chịu thương chịu khó, rồi có lúc đất đai lại cũng sẽ trả nghĩa cho mình đến là hào phóng.
Rươi là rươi, rươi không thể là giun. Không thể cứt cũng như rươi được. Thằng bạn tôi hôm ấy sắp chết còn cố nghển cổ lên mà cãi, nghĩ kỹ thì thấy nó có lý. Đấy là nó muốn trăng trối với tôi, đừng bao giờ để mình sa xuống sự xoàng xĩnh thấp hèn, phải sống sao cho không một đứa nào dám nhổ vào mặt mình, sống là rất khó, chết thì dễ. Nó là đứa tài trai nhất vùng, thử hỏi con gái làng này có mấy cô là không thầm mong ước có ngày được theo nó về nhà. Cô ấy nhà tôi là một ví dụ cụ thể. Cô ấy mê nó lắm, họ đã từng có dạo quấn với nhau như rươi đực, rươi cái vào tiết động trời. Mà thế là phải quá, sống như thế mới thật là sống, đám trẻ các anh, các chị bây giờ nom nhốn nháo vậy mà chưa chắc đã bằng một góc cái chúng tôi đã qua. Tôi từ mặt trận về, nó chẳng còn thì bà ấy mới chịu làm vợ tôi đấy thôi. Tôi tự biết mình là một đứa may mắn trên cõi đời này, kiếp người thật luẩn quẩn, cái may của người này lại là cái rủi, cái thiệt của kẻ khác.
Chú là nhà chim học giả, nghe chú bàn luận thì ra chừng cũng là người hiểu nhiều, đi nhiều, vậy chứ chú đã bao giờ được tham dự một cuộc săn sít chưa đã. Sang xuân mời chú quay lại đây, chúng tôi sẽ dắt chú ra vùng cói ngoài cửa sông xem những đàn sít mào đỏ bay về, chú sẽ hiểu những con đà điểu châu Phi của chú cũng chả là đếch gì. Chú mà đuổi bắt nổi một con sít là vợ chồng tôi lập tức đứng ra làm mối gả ngay cho chú một cô vợ đẹp tuỳ chú chọn. Đã có vợ buôn bán trên thành phố rồi chứ gì, thì vớ thêm một cô vợ bé để lại đây lấy chỗ đi lại. Cá nục, tôm he chả bằng cái tè he vợ nhỏ.
Chú hãy hình dung những con sít từ ngoài biển sải đôi cánh rộng sà vào vùng cửa sông. Thoạt đầu chúng chỉ mới là những chấm đen, lấm tấm đen, rồi sau hàng lối hiện ra dần. Con đầu đàn bỗng cất bổng lên cao, nó quan sát nhận định địa hình, trong khi cả bầy bám đuổi nhau lượn vòng tròn bên dưới. Rồi bất thần cả đàn theo hút con chỉ huy sà thấp, chớp mắt chúng đã biến trong lau sậy. Thế là sít đen mào đỏ đã về. Cả vùng rộn lên một niềm vui, không ai vội nói ra nhưng cứ nhìn vào ánh mắt long lanh của đám con trai con gái là đủ biết. Họ là những kẻ sắp được hưởng sự sung sướng tột bậc. Họ hướng mắt trông cả ra đồng, rỏng tai lên mà nghe ngóng. Bầy sít ngoài đó đang kêu, đang gào gọi nhau và chúng múa. Nhìn bầy sít từng đôi vờn múa với nhau thì không gì đẹp bằng. Giống công trong rừng múa bằng đuôi, hồi ở lính mắt tôi đã nhìn thấy. Nhưng thấm gì so với sít, sít múa bằng cánh, đôi cánh rập rờn vẫy đạp mềm mại khéo léo còn bằng mười các cô văn công. Một khi đã trông thấy đàn sít xoè cánh múa lượn thì phải hiểu văn công nhà ta chưa biết múa, đấy là họ đang ưỡn, đang ngoáy, đang nẩy mông, đánh vú, đang làm những động tác vừa gây cấn vừa thô lậu trước mắt chúng ta. Cũng như họ đã hát vậy, nói có chú, mỗi bận tôi được vinh dự ngồi nghe các đồng chí ấy hát tôi lại chợt nghĩ đến đàn sít mào đỏ quê mình, giọng của chúng mới thanh tao làm sao, trong khi ấy giọng người thì thế đấy, nghe cứ như sắp định hành hình ai không bằng. Thì tôi cũng nhất trí tiếng hát là tiếng súng, nhưng thà là tiếng súng hẳn lại đi một nhẽ, như thế chúng tôi vẫn còn chịu được.
Chú thì chưa phải chạy đứt hơi bao giờ, nom chân tay chú mảnh dẻ học trò thế kia là tôi biết chú nhàn nhã từ bé. Trai gái ở đây thì khác, họ sống trong sóng gió, sống giữa bão táp, do vậy mà phải biết bơi, biết chạy sớm lắm. Đứa nào không biết bơi biết chạy thì khó làm người ở nơi này, mà cũng không nhập đàn nổi. Gọi là nơi đầu sóng ngọn gió mà.
Năm mới ở vùng chúng tôi mở đầu bằng cuộc đua đuổi sít. Đám con trai mười bảy, mười tám được các cụ già xua từ các làng ra đồng. Trai thì ở trần gân cốt nổi lên như thuồng luồng sắp qua lạch, gái thì cởi áo, trên ngực chỉ còn thấy có một dải yếm. Làng nào ở xứ này mà không có tháp chuông nhà thờ họ, các tháp chuông đứng trang nghiêm in hình trên nền trời xanh cũng là một ấn tượng đẹp của vùng chúng tôi. Nhớ lúc sắp mất, thằng bạn tôi nó nắm chặt lấy tay tôi, miệng mấp máy nhắc tới những cái tháp chuông, những tiếng chuông, những mùa đi vớt rươi và những cuộc săn bắt sít ngoài bãi. Nó thèm được thấy lại quê nhà.
Khi những tiếng chuông cùng nhau đổ dồn ấy là hiệu lệnh gọi đám trẻ rầm rập lao vào cánh bãi. Mất hút ở trong đó từ ngang trưa cho tới tận khuya. Tôi đã từng có lần bám theo bạn đuổi lũ sít như thế mà đành bỏ cuộc. Chúng nhanh lắm, vừa bay vừa lủi, có vồ được thì cũng chưa hẳn đã giữ nổi, là bởi chúng cựa rất mạnh, có thằng ôm được con sít vào lòng thì mặt mũi chân tay đã rách nát như bị chém. Mỏ sít, móng sít sắc như dao.
Chiều xuống, mặt trời nấp đằng sau các tháp chuông. Làng mạc chìm dần dưới ráng chiều rực rỡ. Rồi mặt sông tối sẫm, từng đôi trẻ nằm vật trong lau sậy, trong những bị cói ngập lút đầu. Họ thở mới khiếp làm sao. Trời đất quay cuồng, đảo thiên đảo địa tất cả. Mắt nổ hoa cà hoa cải, tháp chuông ngả nghiêng, mặt trời nhảy nhót chấp chới, tai ù váng chả còn biết ai đang nói gì, gọi gì nữa.
Nhưng mà vui vì chiến thắng, đã lập được công trạng, đã đuổi bắt được sít, đã bảo nhau lùa được chúng. Có một bí mật này mà dạo đó tôi đã không biết, ta không thể nào bắt nổi một con sít đâu nếu ta chỉ cậy mình có sức khoẻ. Muốn bắt nổi nó còn cần phải có một con bé thương anh, phải có một con bé chấm anh từ lâu rồi mà anh không biết, chính nó sẽ bám theo hút anh trong bờ bãi mênh mang kia và giúp anh xua lùa một con sít nào đó.
Đấy, bí mật là ở chỗ ấy, vậy mà tôi suốt tuổi trẻ đã không hiểu ra. Chỉ đến khi thằng bạn sắp qua đời nó mới cho biết, nó dặn tôi nếu có ngày trở về thì hãy tới tìm cô ấy nhà tôi bây giờ và hỏi cô ấy hộ nó, liệu có còn nhớ cái buổi hai đứa cùng lùa một con sít mào đỏ ngoài bãi vắng chăng.
À thì là thế, họ đã từng có lần cùng nằm vật ra bên cạnh một con sít bị bắt chéo cánh. Con sít nằm đó mở mắt thao láo nhìn họ, kinh hoàng không rõ vì sao mình bị tóm cổ. Còn họ thì nhìn nhau mà cười, mà thở. Quấn chặt lấy nhau mà thở. Thở cho tới khuya, cho tới lúc trăng đã cao, khi con nước ròng dâng lên xô đẩy ồ ạt.
Lần ấy tôi đã một mình lang thang trong đêm bãi. Tôi bị lạc đường buồn bã vì chạy suốt ngày mà vẫn công cốc. Đã không bắt nổi một con sít thì nên mò về nhà mà bú mẹ. Cưa lừa kéo xẻ, thằng nào khoẻ ăn cơm vua, thằng nào thua thì về bú mẹ. Anh chưa phải là một thằng đàn ông, anh là một đứa bại trận và chả có ma nào muốn quấn lấy anh có vậy thôi
Suốt mấy ngày liền Lăng lang thang ngoài cửa sông. Vùng cửa sông tưởng vậy mà hóa ra có rất nhiều ô trũng đầm lầy. Nhiều khi anh phải xắn quần vòng vo lội tung bùn để tìm lối ra. Quả thật không dễ gì bắt nổi một con sít ở nơi này. Muốn sống được ở một nơi như thế này mà yếu đuối và dối trá là điều không thể có. Một nhánh lá ở đây cũng cứng và sắc như cưa, mỗi cọng rễ đều đâm bám vào đất một cách vững bền. Đến từng bước chân người cũng phải thế, nếu không thì ngã.
Hãy còn quá sớm khi nghĩ tới cái ngày đàn sít mào đỏ bay về. Mà tết thì sắp đến rồi. Đã tới lúc sắp phải chia tay với vợ chồng bác Kiên và các cháu.
Cái Tết bao giờ cũng là một điểm hẹn thời gian, đây là dịp để gia đình xum họp, cùng nhau nhân rộng những vui mừng đã tìm thấy trong một năm và để chia vợi những gì gọi là buồn phiền. Đời con người ta đâu dễ trút bỏ nổi một cái gì đã từng là gắn bó, là thân thiết. Cũng chẳng khác nào loài chim. Chúng đi tứ xứ kiếm ăn nhưng rồi đến một lúc vẫn biết gọi nhau tìm về chốn cũ. Mỗi loài đều có một quê hương của nó cho dù nơi ấy rất nghèo khó, cái tình của muôn loài sâu xa là vậy.
Người có hồn người, đất đai cỏ cây đều có hồn của nó cả, để mất cái hồn ấy, để cái hồn ấy phiêu diêu hoảng hốt thì sinh thái hỗn loạn và khổ vô chừng. Gọi được nó về, hòa nhập được cùng nó thì sinh linh thuần thục lúng liếng. Cái hồn lúc tụ lúc tán, còn cái cốt thì bao giờ cũng cứng cáp kiên nhẫn, nó là xác của hồn. Tâm linh rối loạn là nguồn cơn của mọi sự mất cân bằng trong sinh thái tự nhiên và sinh thái xã hội. Mà con người hãy cứ liệu hồn, sự độ lượng chở che của trời đất dù to lớn cũng là có hạn, nó chỉ khẽ rùng mình là sự sống khó bền.
Vậy thì Lăng sẽ lại ra tàu, nay mai anh sẽ trở lại cái tổ không mấy ấm áp trên căn gác của ngôi nhà năm tầng kia. Anh sẽ về với Thúy. Về để lại tiếp tục nghe người vợ hiền thảo bàn về văn chương và cái công ty vô trách nhiệm vô hạn của cô. Về để chịu đau tai nhức óc mà nghe cô bé nhà bên vừa đạp chân vào tường vừa gào thét như một con dở: “Vắng anh là mất anh rồi, vẫn biết đứng lên là thấp hơn ngồi, giời ơi”. Dạo này không phải chỉ lắm nhà văn, nhà thơ mà còn lắm hoạ sĩ nhạc sĩ nữa. Hát thế mà cũng gọi là hát được ư? Nó là đĩ đực, là chim gái, là rẻ tiền chứ sao lại có thể gọi là âm nhạc được.
Sự nổi tiếng thời này hóa ra cũng dễ dàng. Một cô gái đan len thất nghiệp cũng có thể giật giải văn chương nữa là. Thật giả đều loạn xị ngậu là vì cái cân giá trị với những tiêu chuẩn của nó cũng chả đủ độ tin cậy nữa rồi. Dẫu sao thì anh vẫn cứ phải quay về nơi ấy. Chính chuyến đi này đã mang lại cho anh nghị lực.
Anh tự biết mảnh bằng tiến sĩ lấy lúc nào nên lúc ấy, tuy vậy, để trở thành một nhà sinh thái đúng nghĩa thì còn lâu, còn tốn nhiều cơm gạo. Nhưng một hệ sinh thái thực sự, một hệ sinh thái hiếm thấy thì anh đã gặp ở nơi này. Không hiểu từ đâu, không hiểu bắt đầu từ sự run rủi nào mà linh tính mách bảo anh phải rời ngay cái thành phố đang rất đáng phàn nàn về môi trường sinh thái để đến đây, đến không chần chừ, dù chưa dám chắc chuyến đi đã mang lại cho mình một ý tưởng mới mẻ hoặc một phát hiện bất ngờ.
Những đợt gió bấc ào tới khiến Lăng rùng mình. Anh phóng tầm mắt nhìn ra cửa sông, nơi mấy cánh buồm vá chằng vá đụp đang căng phồng lên, chúng từ từ tiến vào những luồng lạch giữa lau cỏ.
Ngoài ấy là biển. Biển đang thở. Bãi bờ đang thở. Những nhịp thở trầm quyện nồng nàn. Mặt trời đang nhô lên sưởi ấm tất cả. Tiếng chuông nhà thờ từ trong các làng ngân nga nhè nhẹ. Lặng đứng ngẩn ngơ giữa một vùng trời nước vắng vẻ. Mùi bùn mặn làm anh thấy ngất ngây say. Lòng anh thầm thì gọi đàn sít mào đỏ sớm quay về với anh, với mùa màng, với những năm tháng sao mà lắm nhiêu khê thế này
ĐC.
Nguồn: Văn nghệ Quân đội. |