Vô tình mà Tước xuống làm lính “nuôi quân”đại đội. Thật ra lính "tò te” như Tước, phải rèn luyện cho quen súng đạn, dạn dĩ với tiếng bom mới dám ngẩng cao đầu, nhìn máy bay siêu thanh của kẻ thù mà không run. Nhưng do hoàn cảnh, mẹ đi làm xa, hai anh em “tự quản”mà Tước phải nấu ăn, và không đến nỗi nào. Người ta nói con trai mà nấu ăn ngon thì sau này chỉ tổ hầu vợ . Điều ấy còn xa xôi lắm. Hôm rồi, đơn vị tổ chức "ăn tươi", do bắn rơi máy bay mà được huyện Hoằng tặng con trâu dái. Con trâu béo đen. Ai cũng bảo để thả, chăn ở sườn đồi, sẵn cỏ mau lớn, cho vài tạ thịt. Nhưng biết được, bom đạn địch thả trúng lại nhịn ăn. Mà trâu tặng thưởng, nên cứ xẻ thịt ăn mừng là hơn cả. Biếu khắp lượt các đơn vị bạn, đơn vị mình ăn cũng thả cửa. Cần một tay khéo pha chế. Người ta nhắm vào Tước. Thẹn lắm, vì để lộ ra cái tài nấu nướng mà mẹ đã truyền nghề. Trung đội yêu cầu, khẩu đội chọn và lệnh được truyền đạt:
- Đồng chí Tước xuống giúp anh nuôi nấu "ăn tươi"... có cả khách của trên về dự mừng công đấy!
- Thủ trưởng ơi, em chịu thôi! Tước nói thật lòng. Ngại, mình là lính mới làm sao dám qua mặt mấy anh lính cựu trào.
- Không được, cậu là tay làm món ăn cho khẩu đội hôm vừa rồi chứ gì? Khẩu trưởng chỉ mặt.
- Thôi được, em chỉ xuống phụ giúp làm “anh nuôi”hôm nay thôi đấy, chứ không làm lâu đâu. Tước định nói, đi bộ đội mà làm anh cấp dưỡng còn có giá trị gì. Nhưng sợ mình nói hớ, chạm vào quan điểm nên im lặng. Nhưng tại Tước nấu ăn ngon quá đấy. Sợ thật, ông thủ trưởng cấp trên khen:- Các cậu vớ đâu được tài năng nấu ăn thế này. Hay cho tớ xin về làm "công vụ". Tước chối đây đẩy, em chịu thôi. Người khác nghe bảo:- Ngu. Gần cấp trên chả mấy mà tiến bộ. Tước nghe, lại buồn nhiều. Lẽ nào đời chinh chiến chỉ bù đầu vào lửa củi. Lên bằng cách chui qua háng những người có chức có quyền sao? Nghĩ thôi, nói ra thể nào cũng có người chỉnh cho, làm cách mạng, việc gì cũng vinh quang, sao lại phải so đo làm vậy. Ngu lâu. Nhàn hạ, ăn ngon không muốn, sao lại phơi mặt ra trong bom đạn mới dại chứ? Xuống bếp nuôi quân,Tước không lên được trận địa. Một “anh nuôi”lớn hơn Tước mấy tuổi quân ốm đi viện, Tước đành ở lại thay, mà nghe nói anh ấy cũng là con cưng, biết đâu nay mai được đi học sĩ quan cũng nên. Lúc ghánh cơm lên trận địa, mấy đứa cùng nhập ngũ nói:
- Sướng, vào lính chưa ấm chỗ, lại chui vào bếp ăn. Tước mặt buồn, trả lời:
- Tao cũng chưa biết để thời gian làm gì đây!
- Hừ! Lượn trong làng xem có vớ được em gái nào không?
- Ngại lắm!
- Chả bù cho bọn này, muốn xuống làng đi tắm cũng phải vội vàng mà về kẻo báo động đánh nhau.
*
Bếp nuôi quân của đơn vị đóng tại một đình làng, dựa vào núi đá, ngôi đình cổ thâm nghiêm. Quê Tước miền trung du, nhưng không có núi non như nơi đây, cái cảm giác núi đá như bất thần xuất hiện vào đêm, một bộ mặt khổng lồ câm lặng làm Tước phải trấn tĩnh lắm mới ngủ được. Cũng phải mất mấy đêm quấn chăn phủ lên mặt mà không hết hồi hộp. Cảm giác sợ ma, thoáng chốc làm Tước xấu hổ. Mặc dù có lý giải ra sao nữa thì cái cảm giác ấy vẫn cứ bám riết, thổn thức đến khó chịu. Nhưng thật là trớ trêu thay, đình làng này lại còn nguyên cả những con ngựa gỗ sơn màu huyết dụ, chầu cùng con ngựa bạch, nom như ngựa thật. Tước tưởng tượng thật buồn cười, cái miệng nó hý lên bât cứ lúc nào không biết. Mấy cựu binh tuổi quân hơn hẳn Tước, không hiểu có gan thật hay tỏ ra dạn dĩ mà vỗ vào mông con ngựa như thể làm động tác chuẩn bị nhảy lên để cưỡi. Tước thấy mình bớt đi cái cảm giác e dè nhưng để làm những động tác ấy thì không dám một tí nào. Làng này là làng cổ, những ngôi nhà tường đá nép mình vào núi đá. Cứt những con dê rời chuồng thải ra như những viên bi đã khô lại. Một cảm giác, hoang tàn bởi người ta để lại nhà cửa, vườn tược, chui vào những hang đá để tránh máy bay. Mới đây thôi, vào một đêm trăng sáng, người chui rúc ở núi đá tưởng an toàn, vậy mà máy bay đi ăn đêm ném bom vào tận hang giết hại ngót sáu bảy chục người. Một gian hòm dự trữ của đơn vị không đủ chi viện cho người chết. Phải lấy cả gường ván của anh nuôi ghép tạm để chôn cất đồng bào.
Tước đi lang thang trên dọc triền núi, gặp ngay một cô gái chít mảnh khăn trắng đang từ trong nghĩa trang mới khai trương từ hôm đen tối đó đi ra. Tước lúng túng không biết nói gì với cô gái ấy cả. Mắt lẫn tránh cái nhìn thấm đẫm nước mắt. Nhưng Tước cũng đành phải hỏi thôi: - Cô ơi! Có biết nhà ai bán bí xanh không? - Bí xanh ? Cô gái nhìn Tước có vẻ lạ lẫm. Nhận ra cái nhìn ấy, Tước thú thật.
- Tôi mới vừa xuống nhà bếp nấu ăn... chưa thạo việc, chưa quen biết người trong làng, chưa biết nhà ai có rau quả để bán.
Cô gái bật cười:- Có hỏi, em là người làng này cũng không biết nhà ai bán nữa là!
- Tôi xin lỗi, đã làm phiền cô!
- Không việc gì... anh đi theo em... Nhà em cũng còn bí xanh đấy. Cô gái nói nhỏ:- Không còn bí đỏ!
Tước theo cô gái vào cái ngõ tun hút tường đá. Thật ngại quá, chỉ cần lơ là, chân đã xéo phải phân dê. Cô gái bật cười:- Lũ dê nhà em đấy. Có phải trước đây, mỗi sáng lùa dê ra khỏi chuồng còn có người quét dọn ngõ cho sạch sẽ. Nhưng bây giờ làng xóm vắng, đi sơ tán cả. Chiến tranh, cũng phiên phiến thôi, phải không anh. Tước đỏ mặt vì bất ngờ ý nghĩ bị cô gái phát hiện. Nhưng sự cởi mở của cô gái, làm cho lòng anh vui vui. Cảm giác thân thiện. Tước bắt chuyện:- Thế chuyện học hành của bạn có vất vã lắm không?Làm sao mà anh biết? Thì mỗi lần có cô gái lên lùa dê ở Núi Tiên là có người chỉ trỏ... Tước không nói hết câu. Các anh bộ đội nói sao cơ? Cô gái đỏ mặt, cảm nhận ra cánh pháo thủ ở trên đồi đang dõi theo bước chân của mình lúc lùa đàn dê về chuồng. Đâu có... Mấy cậu ấy nhận là... Lại nói xấu em chứ gì? Không đâu! Là Cô gái ấy của mình!...Tước buột miệng nói thật ý nghĩ, có phải lúc khác thì chịu. Mà...anh... này... Bí nhà em để một gian... Anh lấy đi! Chết! Tôi phải trả tiền chứ! Ai lại làm thế? Cũng được... Lần sau em lấy luôn thể! Tước chào để ra về mà muốn nấn ná lại lâu hơn để được trò chuyện. Thú thật, nói như mấy anh lính cựu "miệng còn hơi sữa'' làm gì biết yêu đương. Gặp Tuyền như là chất men cuả cuộc sống, thật dễ chịu.
*
Tước đã quen với Tuyền thế đấy. Tuyền đến chơi mấy lần. Ngồi trong đình mà nói chuyện ngại lắm. Mấy cha lính cũ thì làm giả vớ ngủ, nhưng tia mắt vẫn rọi qua hàng mi nhỏ tí. Tượng thờ lay động trong ánh đèn dầu tù mù, những con ngựa thờ rung rinh hư thực như sắp nhảy ra hí vang, gây cho Tước và Tuyền cảm giác e ngại. Có phải là sự riễu cợt với thần linh, nên chuyện trò cũng nhàn nhạt. Chờ cho một biểu hiện, ai sẽ là người dám phá tan sự e ngại, để ra khỏi đây với phong cảnh núi non đầy phóng khoáng... Rồi cái cảnh núi về đêm, gió từ sông thổi về âm u đầy bí hiểm như nâng bỗng bước chân đi mê mãi tự lúc nào. Những câu chuyện nếu lúc bình thản mà suy nghĩ lại, thấy có gì vô nghĩa và vụng dại, vậy mà trở nên thiêng liêng và mới mẻ. Sự khát khao của tuổi trẻ cũng đánh thức trái tim bồng bột của họ, là một dịp để thổ lộ. Dù là chưa đoán định được điểu gì nhưng trái tim mách bảo một điều gì đó, vụng về nhưng khát khao. Họ lững thững đi men theo cái giếng đá, nước trong mát bốn mùa. Không biết ai đào từ thủa nào. Ngay bên bờ sông Cái, mà nước lấy ở tận mạch ngầm xa xôi, dù là mùa cạn, sông trơ lòng mà nước giếng đá vẫn đầy và mát rượi. Tuyền nói, mẹ bảo người làng này tóc xanh, da trắng ngần là do gội và uống nước giếng này đấy!
Chẳng ra chuyện gì cả. Mấy con gà của các khẩu đội đã gáy te te. Tước giật mình. Anh đưa em về rồi còn nhón bếp để thổi cơm kịp cho đơn vị. Hay anh để em phụ nấu cùng. Thôi để sau này, biết đâu anh lại nhờ em nấu thường xuyên cũng nên. Những câu nói mơ hồ, cớ cho bàn tay mạnh dạn cầm tay, lưu luyến. Tước muốn lâu hơn nữa bàn tay của Tuyền. Tuyền cũng muốn cầm lâu hơn bàn tay ấy,con trai gì mà run thế không biêt. Nhưng rồi khẽ đẩy ra, em về một mình cũng được. Anh vào đi kẻo không có cơm cho đơn vị chiến đấu đẩy. Ai cũng nghĩ đến nhiệm vụ chiến đấu, vì nó thiêng liêng. Tước không hề nghĩ ra những lần cùng Tuyền đi nhẫn nha trong làng cổ, đã thành nhịp sống không thể thiếu của mình. Có lúc Tước tự dặn lòng, thôi đi, tại sao mình lại chờ đợi Tuyền từ nơi sơ tán của trường Sư phạm về nhỉ? Có vẻ là vô lý quá đi mất. Có đúng không khi mà Tuyền có người yêu hoặc hẹn hò với ai , mình là kẻ gây ra sự vướng bận tình cảm với người ấy sao? Nghĩ thế thôi, nhưng trong lòng Tước lại hy vọng, rằng trái tim ta thanh sạch xứng đáng được đón nhận sự cởi mở e ấp của Tuyền lắm chứ!
Lại nói đến nơi đặt bếp ăn của đơn vị cũng dành vài gian làm kho chứa đạn, sau sợ gần bếp lửa mà chuyển đi nơi khác, làm nơi để những chiếc quan tài, làm "hậu sự”cho những người lính hy sinh. Hôm dân bị đánh bom có cậu ví von. Tính nghĩa quân dân keo sơn gắn bó nên nhường cho bà con mất cả. Lại một xe chở về những chiếc quan tài nguyên mùi gỗ mới. Đồng chí cán bộ chính sách thấy Tước kê gường nằm ở cạnh đó nên bắt chuyện:
- Đồng chí làm "thủ kho “ giúp cho chúng tôi nhé, ai đến lấy thu lại phiếu cho vào chiếc cuối cùng này!
Ngần ngại một lúc, Tước mới nhận lời và nói:
- Em cũng mong còn nguyên vẹn... hết chiến tranh còn nguyên thanh toán cho các anh!
- Chuyện. Chỉ trông được như thế còn gì bằng.
Tự dưng cả Tước và người cán bộ chính sách trầm hẳn giọng xuống. Ai cũng nghĩ đến điều gì đó vẫn vơ nhưng hệ trọng và buồn. Tước làm cái chân thủ kho bất đắc dĩ, có ai đến lấy chiếc nào là Tước xuất đi nhưng buồn lắm. Cầm chiếc phiếu "xuất kho”mà lòng dạ bồn chồn. Tước muốn níu kéo lại không muốn cho nó vơi đi, có nghĩa là ngoài trận địa một đồng đội của Tước lại ra đi. Hôm rồi Tuyền nhìn những chiếc quan tài nói với Tước:
- Anh không được phát cho ai đấy...Như thể lạc điệu Tuyền nói lãng sang chuyện khác. Rằng thày mẹ của Tuyền cũng có bộ “hậu sự”sơn rất cẩn thận, hôm các anh về đây chưa chuẩn bị kịp, có anh bộ đội ngã xuống, thầy mẹ em đã nhường cho cho các anh ấy nằm. Tước nắm lấy tay Tuyền kéo ra ngoài, miệng nói vội vàng, muốn xua tan sự nặng nề do những chiếc quan tài kia gây ra.
- Ta đi ngắm trăng thôi...Trăng hôm nay đẹp quá!
- Anh cũng muốn lên trận địa chiến đấu lắm...Nhưng đơn vị lại bắt anh ở lại đây! Tước muốn thanh minh cùng Tuyền.
- Anh thật là...Em nghe mấy anh khen vê cái tài nấu ăn của anh rồi đấy!...
- Cũng vì anh phải nấu ăn thay mẹ...
- Cái anh này...mai kia ai lấy anh, được nhờ đấy...
- Thật không?
-...
Tước cười lên thành tiếng. Tuyền sợ mình nói có điều gì hớ nên lấy tay bịt lại miệng Tước, nói:- Ai bảo anh cười em đấy. Là anh chợt nghĩ ra...Nếu anh không xuống làm cấp dưỡng, làm sao mà quen được em? Tuyền cười ròn, nhưng miệng vẫn nói:- Em là cấm anh nói với ai, đổ tại em mà không dứt ra để lên trận địa làm lính chiến đấu đấy nhé! Họ đến với nhau êm dịu như hơi thở của cuộc sống này. Chiến tranh còn ở xa trên trận địa kia. Hàng ngày súng vẫn nổ, bom vẫn rơi. Có hôm Tước ghánh cơm lên đến chân đồi, bom cũng lao xuốn vun vút, muốn vùi Tước và cả ghánh cơm nóng hôi hổi này. Cũng may Tước lấy mẹt đậy lên cơm, còn tủ thêm hai tấm chăn chiên giữ cơm cho ấm nóng. Không hiểu sao lại lấy người che cho những thúng cơm không bị vùi trong đất cát. Ai đã nói cùng đơn vị, có lẽ lúc bị ngất đi có đồng đội đã ghánh hộ lên trận địa dùm. Đại đội trưởng dõng dạc nói trước trận địa. Chúng ta biêt ơn các đồng chí ở hậu cần lo cho từng bát cơm dẻo, bát canh ngọt. Chiến tranh, không nơi nào tránh nổi bom đạn đâu các đồng chí ạ! Mà phải chiến đấu đuổi sạch chúng đi, mới mong có được hòa bình, hạnh phúc.
*
Những lúc Tước ngồi bên Tuyền lòng hồi hộp, tự hỏi. Không biết mình được ngồi bên bạn như thế có đúng hay không.Trong lúc đồng đội không được ngủ đẫy giấc, một đêm máy bay vào là dậy hàng chục lần. Và lúc đi cùng Tuyền ra dọn cỏ cho mảnh ruộng ở gần chân câu sắt, bất chợt một đoàn tàu chở những khẩu pháo, những chiếc xe tăng "tự hành”trên tàu. Một giọng hò của cô gái đơn vị thanh niên xung phong đi lấp hố bom, cũng làm Tước nao lòng, như thấy mình mắc nợ:
Anh đi đánh giặc nơi xa
Ruộng đồng năm tấn quê nhà có em
Cái tin Tước bắt được '' mục tiêu”loang lên trận địa. Cuộc sống, lúc chiến tranh này, có người yêu là một điều hệ trọng. Cũng không ai ghen tị gì với Tước cả đâu. Nhìn nét mặt rực rỡ của mọi người thì biết. Cái thằng Tước thế mà tốt số, xuống đó lại vớ được con bé đến ngoan. Không ai cấm đoán chuyện yêu đương nam nữ của các em đâu. Chiến tranh cũng mặc xác nó, miễn là không được sống gấp, "ăn cơm trước kẽng”đấy. Đại trưởng nói trước đơn vị lúc sinh hoạt như người nhấc ghánh cơm trên vai Tước lúc lên trận địa. Tước vô cùng biết ơn ông, không khác chi lời người cha mình.
Bây giờ Tước mới thấm nỗi nhớ nhung. Không gặp mặt Tuyền một hôm thấy nôn nao. Tước nói điều ấy cùng Tuyền. Em đỏ mặt, bịt lấy miệng Tước, chết; thế nhỡ anh mà được phân công đi Nam thì làm sao? Anh cũng không biết được. Em thì sao? Hay là chúng mình "khoan”dừng lại, còn kịp chán. Kẻo lại dở dang, chuốc cho nhau đau khổ hở anh! Nghe Tuyền nói Tước như bị ai bóp nghẹn trái tim mình lại. Em đừng nói nữa, anh khổ lắm. Anh lạ chưa, em mới đùa thôi mà. Cả Tước và Tuyền đều không dám nghĩ đến những tình huống khốc liệt khác. Họ cầu mong cho tình yêu trong sáng của mình không bị vùi dập bởi bom đạn, chết chóc và chia ly. Cả đến những chiếc quan taì mà Tước làm thủ kho bất đắc dĩ, vơi đi rồi lại chở về lại vơi đi, Tước cũng lẳng lặng để những tờ giấy vào một chiếc quan tài cố tình lơ nó đi. Anh cũng muốn mau đưa Tuyền ra ngoài gian có đồ thờ để được trò chuyện. Những lời nói của anh và Tuyền thô vụng tưởng không dính dấp với nhau, dài vô tận, không mấy ý nghĩa mà thiêng liêng biết bao.
Tước có một giấc mơ kỳ lạ. Đã dặn lòng không kể cho Tuyền nghe, vậy mà lại kể ra mới chán chuyện. Miệng lại mặc cả, em nghe nhưng đừng nghĩ ngợi làm gì, thế mà chính mình lại lo đến cồn cào. Nhìn nét mặt thất thần đó, đại trưởng gọi lại. Cậu có chuyện gì mà như mất ngủ thế kia? Không, Tước trả lời ấp úng. Thế thì tốt. Đơn vị lấy được chiếc dù chiến lợi phẩm. Ưu tiên cho những người có vợ, được chia một mảnh. Tớ lấy cho cậu một miếng đây, cũng coi như là con dâu của đơn vị, cầm lấy cho nó. Tước muốn có cánh mà bay thật nhanh, để quàng vào cổ Tuyền, nói rằng:- Đơn vị anh ai cũng qúy mến em lắm đấy...Tước khoác cho người yêu múi dù chiến lợi phẩm mà người đại đội trưởng dành cho "con dâu của đơn vị". Chiến tranh, kẻ thù muốn cho con người trở về thời kỳ đồ đá,vậy mà sau những trạn oanh tạc của phản lực, người dân lại cùng nhau đi san lấp hố bom, hàn gắn vết thương cho những con đường, chở vũ khí, con người ra đọ sức cùng kẻ thù. Làng quê của Tuyền cũng là trọng điểm bắn phá của máy bay thù. Không một thửa ruộng, quả đồi nào con nguyên vẹn. Sau mỗi lần máy bay tập kích là hố bom mới chồng lên hố bom cũ. Cây luá cũng như con người, phải đứng lên bom đạn để trổ cờ, kết hạt. Tước đến với Tuyền cũng nấy nở như cuộc chiến tranh này thôi. Muốn chiến đấu với kẻ thù tàn bạo và giàu có, đến bên nhau cũng là đáng sống làm sao? Nghĩ như vậy mà người đại trưởng già như thấy được niềm vui thầm kín ở những người lính trẻ. Anh trông như người trồng cây mong ngày hái quả, đến một ngày nào, tổ chức đám cười cho cậu lính đơn vị mình trên trận địa còn nồng nặc hố bom này. Bên những hố bom là những khẩu pháo, những cây chuối trĩu qủa, những tay bí, tay bầu và rộn rã cả tiếng gà của các khẩu đội gáy vang...
*
Thấm thoát chàng trai của trận địa được ba tuổi quân, Tuyền tốt nghiệp Sư phạm và được về dạy ở một trường cấp hai sơ tán trong núi đá, có tuổi hàng ngàn năm; cùng dãy núi hàng trăm ngọn, bắc nhịp cầu mà đơn vị Tước bảo vệ. Người lính đã quen có bóng dáng chiếc áo màu tím hoa cà của Tuyền xuất hiện trên trận địa. Mùa hè phô ra hai cánh tay, có bàn tay búp măng lùa vá cho lính những đường chỉ sờn vai chà xát với bom đạn và thời tiết khắc nghiệt. Mùa đông thì Tuyền xuất hiện với chiếc khăn dù phất phới bay, như reo vui cùng cành lá ngụy trang trên trận địa. Họ chấp nhận sự thân thiết của đôi bạn trẻ như chấp nhận đôi chim non ríu ran đậu nơi cành cây mới chớm ra hoa. Cuộc sống có họ mà triết lý về chiến tranh có thêm dư vị. Các người đừng tưởng, cường quyền và bom đạn có thể dập tắt nổi tình yêu và cuộc sống này đâu. Ai cũng thấy vui cùng tình cảm ríu ran, thương mến của Tước và Tuyền, mà bắt đầu là từ nơi trận địa này đấy. Những khẩu pháo không chịu khuất phục trước sự hủy diệt của "con ma", "thần sấm"... Tước thẹn thùng nói cùng đại đội trưởng, rằng mùa xuân này chúng em sẽ tổ chức đám cưới, có sao không thủ trưởng. Người đại trưởng cười, không sao, dù chiến tranh cũng mặc kệ, phải có những chú nhóc tiếp cha anh cầm súng chứ. Nhưng mà cậu đấy, nấu cho lính ăn ngon vào, dù còn thiếu thốn nhiều bề.
Tin vui đến cùng đơn vị. Tước được đi dự thi nấu ăn cùng những "anh nuôi”tài giỏi trong toàn quân. Tước xin đại đội trưởng, em không đi thi đâu, nhiều người ở thủ đô, nấu ăn chắc phải ngon hơn cái bếp của đơn vị mình, làm sao mà đọ nổi. Đại trưởng cười, cái thắng của mình là sự dân giã, "nhà quê”đấy. Cậu đấy thôi, cục mịch như hòn đất cày, vậy mà Tuyền nó chấm. Bao chàng trai thành phố có kém cạnh gì, mà bị trượt vỏ chuối đây thôi. Tước không dám nói thật, xa Tuyền nhớ lắm. Tuyền nghe Tước nói cũng rất buồn. Em không muốn xa anh đâu. Tước làm người cứng cỏi, một tuần lễ em đi dạy là anh về thôi. Họ nói cùng nhau, lời nào cũng cảm động.
Tuyền đưa chân Tước ra tận chân cầu. Hôm nào hai đứa tranh thủ trời đêm đi vơ cỏ. Tuyền bảo, trời mưa máy bay địch không dám bay, đi làm cỏ chắc là an toàn. Không ngờ, chúng rình lúc mưa to cho máy bay bay thấp hất bom phá cầu. Tước kịp kéo Tuyền lăn xuống hố bom ẩn nấp. Tước lấy người che cho Tuyền, mặc cho đất đá mảnh bom bay rào rào. Ai nghe chuyện cũng bảo liều. Có cậu nói đùa, vì người yêu, bảo nó lên trời cũng dám. Nghĩ đến chuyện cũ, Tuyền nói cùng Tước, hôm anh về, lúa nhà mình gặt là vừa. May quá, Tước vẫy ngay được chiếc xe chạy chậm vào cầu, như để ngồi trên xe người ngắm da thịt nhịp cầu loang lỗ vết thương. Trên xe toàn những cô gái trẻ tuổi như Tuyền. Họ là văn công nghiệp dư, về Hà Nội thi hát. Một cô chắc là phụ trách, làm mặt nghiêm:- Không cần lộ bí mật chuyến đi, nhưng đằng ấy đã có người yêu chưa, để bọn này còn ghép đôi đấy...Mà nếu có thể, không phải là bí mât quân sự thì nói cho chúng mình cùng vui với nhé. Tước vui lây cách nói chuyện ấy. Tuy không còn là lính mới nhưng có đi đâu xa ngoài cái bếp và trận địa. Nhưng chả lẽ lại đem chuyện đi thi nấu ăn ra mà khoe hay sao? Tước thú thật:- Các bạn được đi đó đi đây, tôi chỉ quanh năm đóng quân trên trận địa này... Trận địa tôi ngay đầu cầu đấy. Ngay cầu sắt à? Chà ác liệt lắm nhỉ. Làm sao bằng các bạn được. Bọn này ác liệt nhưng được ẩn mình trong Trường Sơn đại ngàn, có lúc được nghỉ ngơi ca hát, chứ bảo vệ yếu địa....Một cô gái trẻ, nhí nhảnh:- Có phải cô gái ném ba lô lên xe cho đằng ấy không? Tước nhận thấy mặt mình nóng, dù lúc này là đêm, xe qua cầu lâu rồi. Không nhịn được, Tước thú nhận. Mình có biết nấu ăn nên được cử làm "anh nuôi”và gặp cô ấy nơi đặt bếp nuôi quân... Thích nhỉ. Bọn này không biết khi nào, mà chắc ngày Thông Nhất đất nước thôi. Tước cũng không hiểu sao lại nói ra hết mọi điều. Mà họ là đồng đội với mình kia mà. Gặp gỡ trên đường, nay mai chia tay, có gì là bí mật với nhau kia chứ. Tước mau chóng lạc vào một rừng tiếng cười, tiếng hát hào hùng. Chiếc xe đang chở mùa xuân về Hà Nội, cô gái nhí nhảnh kia vừa nói. Một chuyện cũng rất bất ngờ, đến Ninh Bình thì đường bị tắc, ngồi chờ lấp hố bom gần suốt đêm mà không sao qua được cầu. Có ai nói, giọng khê khê, có lẽ do mất ngủ hoặc hò hát nhiều.Hay chúng mình kiếm xẻng mà lấp hố bom cùng các bạn ấy đi. Cuối cùng thì quyết định ngủ lại, tìm một nơi nào đó, bãi trống cũng được. Mới nói cười đấy mà đã tiếng ngáy, chỉ thiếu chút nữa là Tước cười lên thành tiếng bởi nhớ đến tranh luận cùng Tuyền, rằng ai ngáy sẽ phải thức canh cho người kia ngủ. Tước không sao hiểu được, con gái mà ngáy có kém gì nam giới đâu. Mà họ cũng chung một số phận như mình, thậm chí còn gian khổ hơn ấy chứ. Đúng là lạc hậu. Nghĩ mơn man, Tước thiếp đi lúc nào...Tay đang ôm Tuyền ngồi bên hố bom mà tại sao lại dành nhau để thổi cơm sáng cho đơn vị. Tước đã nói cùng em rằng cơm độn mì là khó lắm đấy, sao không nghe. Mở vung ra mùi khê bay ra nồng nặc. Biết làm sao đây, cho nước vào nữa thì nhão làm sao ăn nổi, nhưng để thế khét và cháy làm sao chịu được. Đang suy nghĩ lung tung thì chiếc xe có hai ngựa kéo, rất hiếm gặp, phải rồi vẫn hai con ngựa thờ trong cái đình làng, trong gian kho ấy. Người ta đang chuyền những chiếc quan tài lên để chở đi. Tuyền hỏi, đem đi đâu, người xếp bảo, lên trận địa. Tuyền nói cùng người đó:- Không được đâu...Để lại tất cả. Các anh ấy không được dùng đâu! Phải để cho người già chứ? Người đánh xe ngựa nói một câu bất nhã:- Thôi được! Chúng mày sắp cưới nhau rồi, chúng tớ sẽ cho hai đứa một chiếc đẹp lắm! Nghe đến đó Tước khóc lên tu tu đến tức cười.
- Này đồng chí ơi! Ngủ mê gì mà ghê thế! Cô gái lúc nãy nhường cho một nơi để ngã lưng cởi bàn tay Tước đang ôm rịt lấy mình. Tước xấu hổ quá, vội thanh mình:- Thật sự thì tôi mơ...giấc mơ chẳng lành, đồng chí thông cảm cho. Sao lại nói thế. Tôi còn nghe cả tiếng khóc nữa đấy. Để chữa thẹn Tước nói, cũng đến lúc nấu sáng rồi, để tôi làm được không. Cô gái trẻ nói, còn gì bằng. Đến lượt em trực nhật đấy,đang lo đây. Thế là ngay trên bờ ruộng, một chiếc bếp giã chiến ra đời. Một bữa cơm đạm bạc có canh cua mua được của mấy nhà dân sơ tán ở cạnh đó. May quá hôm rồi đại trưởng mới "ngoại khóa”cho cách đào bếp, đây cũng là lần đầu nấu ăn ở ngoài trời. Ngửi thấy mùi cơm thơm mấy cô gaí dậy từ lúc nào. Khi chia tay ai đó nói đùa, hay đi luôn với bọn này thôi. Tước không muốn rời những người bạn mới quen. Những cô gái mở đường Trường Sơn mà chỉ nghe tiếng hát lòng đã trào lên niềm yêu thương và khát vọng sống. Nhưng cuộc thì đang chờ đợi. Ở nhịp cầu sắt có trận địa và đồng đội đang chờ mình. Chờ Tước còn có Tuyền, nghĩ đến được ôm em vào lòng làm trái tim của Tước xúc động nghẹn ngào.
*
- Các đồng chí! Bộ đội ăn no có sức khỏe để đánh thắng địch là công việc hết sức quan trọng. Không phụ thuộc vào nhiều người. Bởi vậy mà người ta gọi chiến sĩ nuôi quân là "anh nuôi". Từ bao giờ vậy? Chắc là có từ lâu trong cuộc chiến tranh này.Chúng ta thi nấu gi vậy? Những món ăn gì vậy. Hàng ngày ta vẫn làm...Chủ khảo nói như đọc một đoạn văn, làm yên lòng thí sinh.
Tước chọn mua nơi "chợ”bày sẵn những thứ cần cho bữa ăn. Bữa chính bộ đội ăn gì, bữa phụ, ăn thứ gì. Có khoai sắn, có bột mì, có gạo nếp thơm, những thứ mà ai cũng thèm ăn. Nhưng thời chiến làm sao có đủ cho đơn vị ăn thường xuyên. Tước đành phải lấy món ăn đại trà được cung cấp. Thịt bò, thịt dê. thịt gà...Tước cũng "thèm”nên làm thêm món (tham khảo) chêm pha những câu thơ hay là cánh hoa xinh xinh cài bên một bó hoa đồng nôi, kẻo về đơn vị lấy đâu ra của hiếm ấy. Cuộc sống thật lạ, mới hôm qua Tước trổ tài nấu nướng góp vui cùng mấy cô gái Trường Sơn về Hà Nội thi hát. Cái bếp giã chiến tưởng chừng ngẫu nhiên ấy hóa ra giúp Tước thao tác thành thạo. Một câu hỏi của thủ trưởng chủ khảo thật bất ngờ. Làm"anh nuôi”cho đơn vị đồng chí được gì? Tước kể thật, cuộc sống đã cho người yêu, làm mọi người vỗ tay một tràng dài.
Tước ôm bằng khen và phần thưởng ra tàu hỏa về đơn vị. Đó là lời dặn của Tuyền, anh cũng nên đi tàu một lần, nó dừng ngay đầu cầu, gần thửa ruộng nhà mình, em ra đón. Tước muốn bay về thật nhanh để chia quà cho mọi người. Và với Tuyền thì nhất định rồi, có bánh xà phòng thơm, giám khảo thưởng cho trả lời câu hỏi phụ về tính chân thật của người lính. Ông làm Tước giật mình khi buông ra một câu hỏi, có vẻ như chẳng ăn nhập gì với nấu ăn cả. Trong tình hình cả nước có chiến tranh, yêu đương và nấu ăn của chiến sĩ nuôi quân có giống nhau không? Một chút mất bình tĩnh nhưng Tước nhớ đến hai đứa từng tranh luận suốt cả đêm về tình yêu của mình. Tấm lòng yêu đồng đội có tốt hay không được phơi bày ra trong bữa ăn. Nó là động lực, món ăn ngon làm cho sức chiến đấu được mạnh mẽ. Nhưng vì nó cũng là sự nặng nề. Không còn hương vị đón chào một bữa ăn đạm bạc, mà sau này bất cứ ai cũng sẽ nhớ "bữa cơm người lính". Tước không ngờ được, lại có người cầm hoa lên tặng, nói với giọng xúc động:- Chúng tôi rất cần những chiến sĩ Hậu Cần như các đồng chí.
May mắn làm sao, mặc dù bị máy bay bắn phá, nhưng công nhân Đường sắt sửa chữa cũng kịp thời. Tước không phải ngủ đêm trên tàu. Nhưng bù lại anh phải nằm trong toa chở than,cùng với những người có giấy tờ được ưu tiên, về phép đi B, bố mẹ bị bom...vv. Tước nghe chuyện thấy mình vẫn là người gặp may. Chỉ vài giờ nữa là gặp mặt Tuyền thôi. Tước sẽ kể cho em nghe tất cả, và sẽ hỏi những ngày qua có nhớ anh không. Bận thi mà không nghe được đài, không biết kẻ địch vào, đơn vị mình ra sao?
Đến cầu, đoàn tàu đi chậm lại. Tước chào khách tàu giã chiến:- Cám ơn đồng chí cho đi nhờ, đã về đến nhà rồi! Xin chào!
- Cẩn thận đấy mấy ngày nay địch bắn phá nên cầu bị thương...Chúng ta đi là thử xem cầu và đường thông chưa đấy. Đồng chí gặp mày rồi. Về đi!
Tước chờ một lúc, không thấy Tuyền đâu, cuốc bộ đi về nhà Tuyền. Mấy ngày nay trời mưa, nên phân của lũ dê không bị dính vào để giày, mà Tước muốn được gặp Tuyền để thỏa nỗi nhớ thương. Lũ dê thấy người réo lên như lũ trẻ khát sữa mẹ. Tước bàng hoàng vì sự vắng lạnh nơi căn nhà. Có phải bữa trước vào đến ngõ, nếu có Tuyền ở nhà, Tước đã nhận ra hương vị nơi em tỏa ra. Tước bảo, chỉ mình em có, Tuyền bảo nói điêu. Ở những người con gái nào mà chẳng có, nhưng vì anh yêu em mà nhận ra mình em có đấy thôi. Không kịp cả gọi, Tước nhận ra điều chẳng lành, chạy một mạch đến gian đình. Cũng trở nên lạnh lùng. Mấy con ngựa thờ cũng ngơ ngác tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi, sao bây giờ mới về. Tước nhận ra sự trống trải, những chiếc quan tài đã được đem đi hết, chiếc cuối cùng đựng phiếu cũng không còn. Cậu gác đêm không tỏ ra mừng rỡ mà hỏi nhát gừng:
- Bây giờ mới về đấy à!
- Đánh lớn hả?
- Ừ! Lên trận địa đi!
- Tớ được gọi lên tận địa rồi sao?
- Ừ! Đại trưởng bảo, cậu về lên ngay trận địa.
Tước đeo cả ba lô nặng trĩu chạy lên trận địa. Mặc cho tiếng quát của người lính canh đêm. Con chó của đại đội nuôi sủa giật cục đuổi theo. Trong lán, đại đội trưởng còn chưa ngủ. Ông thấy Tước ló mặt vào đã hỏi:
- Về đấy à!
- Đại trưởng... em về đây!
Ông lấy múi khăn dù ra đưa cho Tước:- Tuyền nó gửi lại cho Tước đây!
Lời cuối truyện
Cũng chẳng cần hỏi lời nào, Tước cũng hiểu được tất cả. Như người đời, dù biết là mất mát mười mươi, cũng cứ hỏi những câu vô nghĩa. Tước đã nhận ra lúc bước vào nhà Tuyền, lũ dê đói gào khóc. Mùi hương trầm đuổi hương thầm người con gái. Và cả mớ quan tài, Tước đùa cùng nàng rằng, còn cái cuối cùng kia để cho anh mang lên trận địa.Tước không muốn mất người yêu đầu đời. Nhưng anh vẫn cứ hỏi, câu hỏi vào hư vô:
- Tuyền đâu rồi?
Câu chuyện không còn gì nói nữa. Tước đau khổ. Anh đi đâu thì đi, không làm anh nuôi nữa thì lên trận địa. Là người đến với chiến tranh thanh sạch như hơi thở, như khí trời. Anh tiến bộ, vì con đường đi có ai ngăn cản anh đâu trừ cái chết. Anh có thể lên các chức vụ mà người đời ao ước. Tâm hồn của những người nấu món ăn ngon tuyệt lắm. Ngày nào chẳng mở tiệc dâng đời. Nhưng Tước không phải loại người vô tâm. Anh đã đi hết cả cuộc chiến tranh của dân tộc. Đã không kịp nghĩ đến dành cho mình chiệc quan tài cuối cùng. Dù thương mến đồng đội bao nhiêu anh cũng không thể đào đâu ra quan tài để khâm liệm cho họ. Anh đã khóc, lấy chiếc khăn dù kỷ vật cuối cùng của Tuyền, ủ ấm cho đồng đội... Tước có thể ngã xuống như bất kỳ người lính nào trong cuộc chiến này vĩ đại này. Nhưng anh là người vĩ đại, nên mỗi lần có người ra đi, nhìn thấy chiếc quan tài, không phải chiếc cuối cùng, chắc thế. Anh lại nhớ, hai con ngựa ở ngôi đình đang hí vang, trời đất núi non vần vũ. Anh nhớ Tuyền.
TNT
Tác giả gửi www.trieuxuan.info |