Từ trẻ con thành người lớn, đường ranh giới là lúc nào nhỉ? Khoảng mười hai mười ba năm trước, vào một ngày đầu xuân, bố tôi bảo:
- Con khôn lớn thì sẽ chẳng bao giờ là trẻ con nữa.
Lúc ấy tôi lạ lắm, tại sao không là trẻ con nữa, dường như trước và sau đấy chẳng có gì khác lạ. Tôi hỏi:
- Lớn khôn rồi sẽ thế nào ạ?
- Lớn khôn rồi sẽ hiểu đời sống.
- Thế nào là đời sống?
- Sau này ra ngoài xã hội, dần dần con sẽ hiểu.
Lời bố nói đúng. Quả nhiên mấy năm sau, tôi khoác ba lô tạm biệt bố mẹ, tạm biệt bản làng đến công tác ở một thành phố lớn. Trong sáu bảy năm trời, ngày tháng cứ thế trôi đi, trên mặt đã có nếp nhăn, trên cằm đã có râu, tôi đâm ra hối hận hiểu lời bố quá chậm. Tại sao lúc mới bước chân vào đời, lại chưa có cái đầu hiểu biết nhỉ? Nhưng rồi tôi lại thấy vui mừng, lúc ấy may mà chưa biết gì, chứ không thì lại hận mình bây giờ, bực mình bây giờ. Những ký ức thời còn bé không hiểu sao cứ càng ngày càng rõ nét đến thế.
Khi tôi đứng ở đó, mặt trời vừa đứng bóng chiếu vào tôi ấm áp, ngay cái bóng cũng rất nhỏ. Trong bóng râm xanh của cây hòe tía, mấy cây bách già vươn những cành lá như chân rồng trong không trung. Không có gió, cũng không có lá rụng, yên tĩnh tới mức chỉ nghe có tiếng bước chân của tôi. Nhà gác đỏ tươi ẩn trong vườn cây mỗi lúc một hiện rõ, chợt tôi cảm thấy có tiếng hỏi: Ai là trợ lý tuyên truyền mới đến? Ai nhỉ? “Tôi đấy, tôi đấy!”, tôi nói to trong lòng, song lập tức thấy ngượng và vã mồ hôi trán, dường như hàng trăm đôi mắt đang nhìn vào mình. Tôi không biết nên đi vào trong lối cửa ấy như thế nào, tôi bước lên cầu thang xoắn ốc, đến đẩy cánh cửa có ba chữ viết “Phòng tuyên truyền” ở gác ba...
Cuối cùng tôi đã đứng trước cửa, giơ một đầu ngón tay gõ cửa. Cửa vẫn đóng. Tôi gõ tiếp, cửa hé mở, một cái đầu hơi hói thò ra, lạnh lùng hỏi:
- Có việc gì?
- Tôi là Lý Bình, đến phòng tuyên truyền nhận công tác.
- Ồ, là Tiểu Lý hả? - Cánh cửa mở toang, một người lùn tịt bước tới, nụ cười nhanh chóng nở trên khuôn mặt - Hoan nghênh, hoan nghênh, tôi là Lưu Dân.
Thế là tôi bị lôi vào. Đó là một căn phòng rất rộng, kê sáu cái bàn, trước mỗi bàn có một người đang ngồi, đầu ngụp sâu trong đống báo. Lưu Dân lại nói:
- A, trợ lý tuyên truyền mới đến!
Sáu người kia quay đầu lại, ba người đàn ông, ba người đàn bà. Ba người đàn ông gần như đã năm mươi tuổi, ba người đàn bà thì đều còn trẻ, đứng cả dậy bắt tay tôi.
- Tôi xin giới thiệu một chút, - Lưu Dân vẫn rất sôi nổi, tay chỉ từ trái sang phải - đồng chí này là trưởng phòng Vương, trưởng phòng lão thành tám năm nay. Đồng chí này là phó phòng Lục, đã từng làm thư ký riêng của bí thư Lưu tỉnh ủy. Đồng chí này là phó phòng Lưu. Đồng chí này là Ngô Thu Vân, chắc anh biết bí thư Ngô tỉnh ủy chứ, đó là chú thứ hai của cô ấy. Đồng chí này là Tiền Tiểu Mai, bố cô ấy là phó chính ủy Tiền của quân khu. Đồng chí này là Quách Cầm, chồng cô ấy là con trai của phó chủ nhiệm Vương trên thành phố.
Tất cả sáu vị đều cười đáp lại, không ai nói gì. Cuối cùng, Lưu Dân bảo tôi:
- Anh cũng giới thiệu mình một chút đi!
- Tôi là Lý Bình, lần đầu tiên tôi làm công tác tuyên truyền, từ nay về sau mong được các anh các chị chỉ bảo nhiều hơn.
- Thế còn bố đồng chí?
- Bố tôi là thầy giáo.
- Có quen ai ở Tây An không?
- Không.
Mọi người lại ngồi về vị trí, lại uống trà, lại đọc báo. Tôi được sắp xếp ngồi ở chiếc bàn còn để trống ngay góc tường.
Từ đó, tôi ngồi ở nhà gác này, bắt đầu cuộc sống mới không bao giờ làm nông dân nữa. Công việc của phòng tuyên truyền đại thể là soạn thảo tài liệu, gửi thông báo gì đó, thế là tôi được sáu vị chỉ huy sai bảo.
- Tiểu Lý ơi, cậu đưa thông báo cho phân xưởng hai nhé!
- Tiểu Lý ơi, cậu in rô-nê-ô tập tài liệu này.
- Tiểu Lý ơi, cậu đi mua giấy nháp.
- Tiểu Lý ơi, ...
Ngoài ra, tôi ngồi uống trà, hút thuốc đọc báo ở phòng làm việc, đọc suốt từ trang một đến trang tư, đọc xong đi lấy nước lau nền nhà, cuối cùng mua một cái vỉ ruồi, đập tơi tới những con ruồi bay vào phòng. Tôi đã biết số bậc cầu thang từ gác một lên gác ba, kể từ dưới là bốn mươi lăm bậc, kể từ trên xuống là bốn mươi tư bậc. Trong một tháng tôi đã tiêu diệt được một trăm năm mươi tám con ruồi.
Cuối cùng, tôi đã đề nghị trưởng phòng Vương cho làm công việc khác, ví dụ xuống phân xưởng thu thập tài liệu, đi theo lãnh đạo tìm hiểu tình hình. Trưởng phòng Vương đồng ý. Lưu Dân lại tìm tôi, bảo:
- Cậu là người vừa bước vào đời sống, tôi có trách nhiệm giúp cậu. Muốn xuống cơ sở, trong bụng cũng phải có một ít lưng vốn.
Lưu Dân đưa cho tôi một quyển sổ. Trong sổ ghi đầy các mối quan hệ:
Chủ tịch công đoàn là đồng hương của bí thư đảng ủy nhà máy.
Thông gia của trưởng phòng lao động tiền lương là người phụ trách của Cục giao thông công nghiệp thành phố.
Chủ nhiệm phân xưởng một, hồi trong “chuồng bò” đã từng chăm sóc giám đốc Bạch.
Phân xưởng năm có ba con em cán bộ cao cấp.
Phân xưởng ba có cháu ngoại của chánh văn phòng Vương.
...
Bố đã đi giảng bài, tôi ngồi ở cửa nhìn hoa lau từ khóm lau ở bờ sông bay đến. Hoa lau lượn bờ, tôi không nhịn nổi đưa tay tóm lấy. Hoa lau như có mắt, cứ hễ đưa tay đến gần là nó liền bay lên, tôi nhào người tóm chặt, những tưởng đã ở trong tay, khi xòe ra xem, nó lại đột nhiên bay đi. Lúc này, ở bên tường có người cười khúc khích. Tôi quay đầu lại, thấy một cô gái đang cắn đầu ngón tay mà tiếng cười không dứt. Tôi hỏi:
- Cô là ai?
Cô lại cười khúc khích.
Tôi bực cô ấy, quay người đi vào trong nhà. Cô ấy lại chạy ra, ngay tức khắc bắt được đóa hoa lau. Đỡ nhè nhẹ trong lòng bàn tay, cô thổi một cái, bông hoa lau liền bay lên, rồi lại nhẹ nhàng rơi xuống lòng bàn tay; lại thổi cái nữa, lại nhè nhẹ bay lên. Tôi nhìn mà ngẩn người. Cô ấy thổi tiếp một hơi, hoa lau bay đến. Tôi cũng thổi một cái, hoa lau bay trả lại. Cô ấy lại cười khúc khích, thổi một hơi dài, bông hoa lau bồng bềnh bay lên trời. Cô ấy nói to:
- Lên trời rồi! Lên trời rồi!
Cô ấy là Tiểu Lâm Đạt.
Từ đó chúng tôi quen nhau. Tôi biết cô ấy là con gái của thầy giáo Lâm, mấy hôm trước từ dưới quê đến trường chơi. Hàng ngày chúng tôi chơi hoa lau ở trước cửa, bắt được nhiều hoa lau, bỏ hết vào trong một cái hộp. Tôi tặng cô ấy một hộp, cô ấy cũng cho tôi một hộp.
Một hôm, cô ấy đột nhiên hỏi tôi:
- Cậu có yêu hoa không?
- Yêu chứ!
- Cậu đã ra chỗ bờ đê sông chưa?
- Chưa, ở đấy có cái gì vậy?
- Có hoa, hoa gì cũng có. Hoa nhài màu trắng, hoa cúc dại màu vàng, hoa mai gai màu tím, hoa cỏ lác giống như những ngôi sao bé tỉu tiu.
Chúng tôi liền len lén chạy ra bờ đê sông. Quả nhiên ở đó có không thiếu thứ hoa nào. Chúng tôi chia nhau hái hoa. Cô ấy hái một bông rồi cài lên đầu. Tôi ngắt một bông hoa và cũng cài vào mái tóc cô ấy. Tôi xuống tận bờ đê vịnh dưới xa xa, hái được một bông mã lan, hoa này đẹp cực, cánh hoa rất to song mềm mảnh sáng láng, giống như con bướm đậu ở đó. Tôi nghĩ, bông hoa này mà gài lên đầu Tiểu Lâm Đạt thì cô ấy càng xinh đẹp hơn. Tôi hớn hở chạy về, gặp một cậu đầu trọc, liền nói:
- Nhìn này, đẹp không?
- Đẹp quá nhỉ! Cho tớ nhé? Đổi một cái kẹo được chứ?
- Không! Hoa này tặng Tiểu Lâm Đạt.
Cậu đầu trọc nọ đột nhiên giằng lấy, co cẳng chạy. Tôi đuổi thục mạng. Chúng tôi đánh xé nhau, cuối cùng tôi vặn chặt cánh tay hắn, bắt hắn phải nói: “Không bao giờ dám thế nữa”, mới chịu thả. Nhưng trước khi chạy đi, hắn lại tống vào mũi tôi một quả đấm. Tôi ngã lăn ra, máu mũi chảy đầy mặt.
Những người lớn đều biết tôi và Tiểu Lâm Đạt mến nhau, bố tôi nói với thầy giáo Lâm:
- Hai đứa trẻ tốt lắm, chúng mình làm thông gia nhé!
Tôi hỏi:
- Thông gia là gì hả bố?
- Tức là để Tiểu Lâm Đạt làm vợ của con.
Mọi người đều cười ầm lên.
Tôi không hiểu tại sao mọi người cười vui vẻ như thế, liền kéo Tiểu Lâm Đạt chạy về nhà, đem những bông hoa đó ra chơi. Tiểu Lâm Đạt hỏi:
- Thế nào là vợ nhỉ?
- Có nghĩa là phải cưới nhau. Cậu đã thấy đám cưới chưa?
- Thấy rồi. - Cô ấy bảo - Vậy thì thích lắm, đều phải đeo hoa, lại còn trao hoa cho nhau nữa cơ!
Chúng tôi gài hoa lên ngực, cùng đi đến trao hoa cho nhau. Khi cúi đầu chào, thì hai đứa va trán vào nhau, đau rát ràn rạt. Đang chơi vui vẻ thì bố tôi bước vào. Không biết thế nào, mặt tôi bỗng đỏ ửng lên.
Tôi thường ra cổng lấy thư, ông lão gác cổng liền quen tôi, nhìn thấy tôi từ xa đã đứng dậy mỉm cười gật đầu. Tôi bảo ông đừng như vậy, ông cảm động rưng rưng nước mắt. Tôi ngồi ở đó một lúc lâu lâu, nói chuyện với ông. Ông thường ca cẩm mình đáng thương, ông than thở:
- Ôi, mình gác cổng ấy mà, ai thèm để mắt đến mình cơ chứ?
Tôi khuyên ông không nên nói như vậy. Ông bảo tôi ở phòng tuyên truyền cao vời vợi, tất nhiên không hiểu được ông. Ông nói:
- Anh phân công tôi thêm một vị trí nào đó được không? Anh là người ở bên trên, cuộc họp nào anh cũng đứng ra tổ chức, chỉ cần anh chấp nhận, anh sẽ hoàn toàn giúp được tôi đấy mà!
Quả thật tôi có phần nào khóc dở mếu dở.
Trong mùa xuân, phân xưởng số ba được bình bầu là đơn vị tiên tiến, Cục giao thông công nghiệp phải tổ chức hội nghị đầu bờ. Tôi được phân công làm nhiệm vụ tổ chức, tiếp đón cụ thể. Suốt ngày đêm tôi tất bật chạy ngược chạy xuôi. Mười hai giờ đêm, đang định lên giường, thì có người gõ cửa:
- Trợ lý Lý ơi, vẫn chưa nghỉ à?
Đó là ông gác cổng. Tôi mở cửa, ông bước vào, tay cầm một chai rượu, đứng một chỗ cười với tôi và bảo:
- Mình sắp tổ chức hội nghị đầu bờ phải không?
- Phải!
- Lãnh đạo các nhà máy trong thành phố đều đến cả chứ?
- Vâng!
Ông để chai rượu xuống, lại cười với tôi:
- Chỉ cần anh dành cho tôi một cơ may, tôi sẽ suốt đời cảm ơn anh. Anh cho tôi gác cổng nhé!
Tôi có phần nào ngạc nhiên:
- Ông chẳng phải đang gác cổng là gì?
- Anh đừng cử thêm người đến nữa. Toàn bộ xe mình cho đỗ ở bãi ngoài cổng chính được không?
- Được!
Ông cười bảo tôi tốt quá, rồi quay người đi ra, lại còn tiện tay khép cửa. Tôi nghe thấy ông đi trong hành lang, vẫn còn cười.
Hôm họp hội nghị đầu bờ, tôi đi một vòng qua cổng chính. Tôi nhìn thấy ông gác cổng mặc rất gọn gàng, râu ria cạo sạch, đứng ở đó chỉ huy từng chiếc xe to, xe con đỗ trên bãi trước cổng. Rồi ông đóng cổng chính, sau đó đứng ở cổng nách, ông lần lượt kiểm tra giấy giới thiệu của từng người.
- Giấy giới thiệu đâu, đồng chí?
Người đứng cạnh nói:
- Đây là bí thư của nhà máy X!
- Phải xem giấy giới thiệu mới được vào!
Giấy giới thiệu được đưa ra, ông đeo cặp kính lão, xem đi xem lại, hỏi hết lượt này đến lượt khác, rằng có bao nhiêu người đến, ai dẫn đầu... Ngoài cửa ùn tắc một đám đông người. Có người tỏ ra không hài lòng, nói:
- Bác không nhìn xe con của chúng tôi ư? Có người gác cổng nào lại như bác thế này? Xe con chẳng phải là giấy thông hành ư ?
- Xin lỗi, - ông nói - xem xong giấy giới thiệu, còn phải đăng ký vào sổ này nữa, đồng chí ạ!
Chúng tôi mong ngóng từng ngày đến Tết Âm lịch. Mỗi dịp đón Tết, ban ngày chúng tôi được ăn bao nhiêu, bao nhiêu là thứ, ban đêm lại được xem đoàn kịch ở nơi khác đến diễn.
Lúc hoàng hôn, chúng tôi đòi được vào sân bãi. Người lớn thường mắng chúng tôi rắc rối, nhưng vẫn dẫn chúng tôi đi. Sân bãi rộng lắm. Sân khấu là một sân chùa cao ơi là cao. Cả đêm chúng tôi đứng ở dưới ngẩng cổ lên xem. Đầu tiên là màn diễn trò ồn ào, thường có người bôi phấn trắng ở sống mũi ra sân khấu. Sau đó, diễn viên mặc áo đen ra nhào lộn làm trò ma quái. Nhưng lớp này thường ngắn. Đến lúc vai đàn bà mặc quần áo có dải dài xuất hiện, ngồi ở đó hát i a í a, thì chúng tôi đâm chán. Đang ở cạnh người lớn, chúng tôi bèn len lén lỉnh đi, từng tốp năm tốp ba chạy lăng quăng ngoài sân bãi. Ở đấy bày bán các loại thức ăn vặt, có nồi vằn thắn của Lưu Lão Tam ở thôn Trương, có lạc luộc của bà Tống ở ngõ trước, còn có cả rượu gạo này, bánh quẩy này... Chúng tôi thèm mắt nhất là quầy bánh cuốn thừng của bà góa Lưu Nhị ở thôn Vương. Bà góa ấy ăn diện sạch sẽ lắm, tóc chải óng mượt, ngồi ở dưới chiếc đèn bão. Bánh cuốn thừng bày ra phản vàng suộm đập vào mắt. Chúng tôi thường không có tiền, nhìn người ta nhai rau ráu, mà dưới mang tai lõm hẳn xuống, khoang miệng ứa nước dãi chua chua.
Cuối cùng thì tôi không kìm nỗi sự cám dỗ, quay trở về dưới sân khấu nói với mẹ:
- Mẹ ơi, con đói rồi.
- Xem xong kịch về nhà làm một bữa canh bánh đa.
- Ứ ! Con ăn bây giờ cơ!
- Bây giờ làm gì có cơm?
- Ở chỗ kia có bánh cuốn thừng.
- Vậy con đi mà ăn.
- Một hào một cái, con chỉ ăn mỗi cái thôi.
- Không có tiền.
Tôi liền thò tay vào túi mẹ, móc ra được một đồng, nhưng mẹ đã giằng lại, bảo:
- Thèm thế cơ à, không cho mua.
Người bán ở ngoài bãi nhìn thấy, càng kéo dài giọng rao:
- Bánh cuốn thừng nào, không ngậy không giòn không lấy tiền!
Tôi càng quấy níu mẹ, cuối cùng mẹ cáu tiết, nói rất cứng:
- Không mua!
Tôi buồn bã, cảm thấy hận mẹ quá, chạy đi, ngồi xổm ở ngoài bãi sụt sịt lau nước mắt. Xem diễn xong, có phần nào thương tình, mẹ đi ra dỗ tôi, móc ra hai hào bảo:
- Đây, không sợ ăn căng bụng ra thì đi mà mua.
- Con không ăn nữa.
Mẹ tôi mềm lòng, tôi cảm thấy càng oan uổng, to tiếng hờn dỗi.
- Đi đi!
- Không ăn nữa.
Mẹ tôi đành lấy lại tiền, bảo:
- Không ăn thì thôi, về đi!
Nhà máy họp hội nghị gì, bí thư đều bảo chụp ảnh. Trong tủ báo ở hai bên cổng lớn nhà máy bày các bức ảnh lớn các dạng các kiểu: nào bí thư đi sâu sát các hoạt động ở phân xưởng, nào bí thư kiểm tra chất lượng sản phẩm, nào bí thư động viên mỗi cặp vợ chồng thực hiện đẻ một con... Lão Trương thợ ảnh không chỉ một lần bảo tôi:
- Tiểu Lý ơi, anh có thích nghề này không? Tôi dạy anh chụp nhé.
- Học cái ấy làm quái gì?
- Làm quái gì à? Anh có thể sắp đặt mọi người theo ý mình, bí thư giám đốc cũng phải nghe anh đấy!
Hôm thành lập trường kỹ thuật nghiệp dư, bí thư lại lên hội nghị chỉ thị, hơn nữa còn bảo cán bộ phòng tuyên truyền chúng tôi tất cả phải đến dự. Cuộc họp vừa kết thúc, lão Trương nói với bí thư :
- Chụp một pô ảnh, bí thư ạ?
- Đương nhiên rồi! Nắm nhân tài kỹ thuật mà! Anh bố trí chụp một pô cho sôi nổi vào, thể hiện rõ niềm tin của cấp trên cấp dưới nhà máy mình một lòng làm kỹ thuật.
Tôi quay người định đi, lão Trương kéo lại bảo:
- Xem xem hôm nay mình cắt đặt như thế nào nhé!
- Tôi còn có việc phải làm.
- Sao anh không chụp? Bí thư cũng đến dự cơ mà, sao anh không chụp hả? Người của phòng tuyên truyền chụp ảnh để kỷ niệm với anh chị em, cũng là một sự ủng hộ và động viên đối với bên dưới đấy!
Tôi đành phải ở lại.
Quả nhiên lão Trương cứ sai bảo hết người này đến người kia đứng vào hàng. Ai đứng giữa, ai đứng hàng thứ hai thứ ba, người nào đứng vào chỗ người nấy; rồi thử đi thử lại ống ngắm. Có người bắt đầu mất tự nhiên, chải đầu vuốt cổ áo. Lão Trương bảo:
- Đứng yên, đứng yên!
Mọi người không ai dám nhúc nhích. Lão Trương lại bảo:
- Bước lên một bước!
Mọi người bước lên một bước, thì lão Trương lại nói:
- Nhìn vào tôi, nhìn vào tôi!
Lão Trương lại bước đến nắn vai người này, nâng cằm người kia, cuối cùng tít mắt cười, đưa máy ảnh lên bảo:
- Cười nào, cười!
Dù thế nào đi nữa, tôi cũng không sao cười nổi.
Chụp xong, lão Trương bước đến bảo tôi:
- Có thể ảnh của anh không đẹp, tại sao anh không cười?
- Anh sai bảo người được, chứ không sai bảo được tôi đâu.
Lão Trương nhăn nhó:
- Anh ơi, anh không cười, bí thư nhất định không hài lòng bức ảnh này, vậy thì tôi biết ăn làm sao biết nói làm sao đây?
Sang mùa đông, cái dốc đất ở sau nhà là nơi vui chơi của chúng tôi.
Đất trên dốc mềm lắm. Chúng tôi mỗi đứa một cái ghế, đặt lộn ngược, ngồi lên trên, hai tay ôm chặt hai chân đằng trước rồi lao xuống, chiếc ghế lao xuống dốc như bay. Chúng tôi gọi trò này là “lái tàu hỏa”.
Mùa thu, trong chuyến đi công tác ở Thượng Hải, tôi đã mua tặng cho em một bộ quần áo mốt thời trang và gửi về ngay cho em. Suốt ngày tôi nghĩ, em mặc bộ quần áo ấy vào sẽ có biết bao cô gái ghen tị với em, có biết bao chàng trai sẽ khen rối rít:
- Ôi, xinh quá, cô ấy đã có người yêu chưa?
- Có rồi, Lý Bình đấy!
- A, Lý Bình vớ bở quá nhỉ!
Ngày nào tôi cũng mong trở về nhà máy, cuối cùng đã đến ngày ấy. Tôi đánh điện bảo em ra đón. Trong đám người đứng ở ga, tôi nhìn thấy bộ quần áo đẹp ấy, và nghĩ là em mặc nó để ra đón tôi.
Nhưng người mặc bộ quần áo ấy lại hoàn toàn không phải là em.
- Lý Bình! - Tôi gần như đã thất vọng, thì em đột ngột xuất hiện trước mặt - Anh cứ nhìn đi đâu vậy? Em ở ngay cạnh anh đây cơ mà!
Em không mặc bộ quần áo ấy, cũng không mặc những bộ quần áo khá tốt trước kia, mà mặc luôn quần áo làm việc.
- Em đấy à? - Tôi có phần ngạc nhiên - Em không nhận được bộ quần áo anh gửi ư?
- Em nhận được rồi! - Em đáp.
- Vậy đi ra phố, sao em lại mặc bộ quần áo này?
Em cười bảo:
- Về nhà máy, anh sẽ biết!
Về đến nhà máy, phía trước mặt là cái bảng báo tường vẻ vang to bự, trên đó tên em được viết đỏ chói. Thì ra ban chấp hành đoàn thành phố bình chọn những cá nhân gương mẫu trên chặng đường trường chinh mới, cả nhà máy chỉ có một mình em được bình bầu.
- Ôi chúc mừng, chúc mừng! - Tôi vui vẻ nói - Chuyện mừng lớn thế này, chiều nay mình phải đi chụp một pô ảnh kỷ niệm. Em mặc bộ quần áo ấy vào nhé, nhất định đẹp lắm đấy!
Em bảo:
- Anh thật là, em còn mặc bộ quần áo ấy nữa được sao?
Tôi có phần không hiểu.
- Bây giờ em đã là người đã nổi bật, ai ai cũng nhìn vào, em không thể mặc quần áo đẹp quá.
- Lẽ nào cá nhân gương mẫu không thể mặc quần áo đẹp?
- Đương nhiên không ai quy định, nhưng em thấy như vậy thì ảnh hưởng sẽ tốt hơn. - Em trả lời.
Ông Hai gù đã nhận lời sang mùa thu sẽ kể chuyện cho chúng tôi nghe. Chúng tôi ngày nào cũng mong ngóng mùa thu. Khi lúa chín ngoài đồng, chúng tôi hỏi ông: “Kể được chưa ông?”. Ông bảo chờ ít hôm nữa. Khi lúa đã gặt về sân, chúng tôi lại hỏi ông, ông nói: “Đừng sốt ruột”. Khi chúng tôi gần như thất vọng rơm rớm nước mắt, thì ông bảo: “Tối đến nghe kể chuyện!”.
Ăn xong cơm tối, chúng tôi rủ nhau đi, vừa bước vào sân đã thấy trải một cái chiếu lau, bên trên xếp đầy bắp ngô, bốn xung quanh là bảy tám cái ghế con.
- Chào ông Hai!
Từ trong nhà đi ra, đầu ông Hai đội một chiếc mũ nhỏ cũ rích trông đến là buồn cười, trong tay cầm một cái tẩu hút thuốc lào dài tới hai thước, ông cười khà khà bảo chúng tôi ngồi xuống.
- Nào, ngồi cạnh mép chiếu, đêm nay ông kể chuyện cho các cháu nghe. Chúng ta cùng bóc ngô, tai nghe tay bóc, được cả hai việc.
Chúng tôi đứa nào cũng khẽ chửi ông Hai là người khôn ngoan tinh quái.
- Kể được mấy câu chuyện mà phải bóc ngần này ngô, hả ông?
- Bóc chưa hết ngô thì chuyện chưa chấm dứt đâu nhé! - Ông Hai nói.
Chúng tôi liền ngồi xuống bóc. Thủy Nhi ở ngõ trước không hài lòng bảo:
- Ông Hai bóc lột!
Ngay lập tức ông Hai ho một tiếng, sầm mặt bảo:
- Cậu cảm thấy thiệt, cậu cứ việc về. - Ông vừa nói vừa nhìn chúng tôi - Cậu nào không thích nghe thì về.
Chúng tôi đâm sợ, nhìn cả vào mặt ông Hai, nói:
- Chúng cháu bằng lòng làm, chúng cháu bằng lòng làm, ông ạ!
Để bày tỏ lòng thành, chúng tôi đuổi Thủy Nhi ra ngoài. Thủy Nhi khóc, níu chặt khung cửa không chịu đi, nó bảo không bao giờ dám nói thế nữa. Chúng tôi bắt đầu bóc ngô sột soạt. Ông Hai ngồi đó thong thả rít hai điếu thuốc, rồi kể:
- Chuyện rằng vào năm Hy Ninh đời Tống, ngày mồng sáu tháng giêng có một cậu thiếu niên đến thành Biện Lương ở Kinh đô, mặc áo giáp vàng, đội mũ vàng...
Tiểu Tiểu liền hỏi:
- Thành Biện Lương ở chỗ nào hở ông Hai?
- Im mồm!
Ông Hai gõ gõ cái tẩu dài xuống đất. Chúng tôi đứa nào cũng lườm Tiểu Tiểu:
- Im mồm!
- Chuyện rằng vào năm Hy Ninh đời Tống, ngày mồng sáu tháng giêng, có một cậu thiếu niên đến thành Biện Lương ở Kinh đô, đội mũ vàng mặc áo giáp vàng. Bóc nhanh lên chứ!
Ông Hai giục một tiếng, chúng tôi bóc nhanh hơn.
- Cậu cưỡi một con ngựa báu, bốn vó cất lên rộn rã, phóng thẳng đến giữa ngã tư thành Biện Lương...
Chúng tôi say sưa nghe kể. Mặt trăng từ mái nhà đã di chuyển đến ngọn cây du. Sương cũng đã xuống. Cậu thiếu niên đội mũ vàng, mặc áo giáp vàng kia chưa làm xong việc lớn ở thành Biện Lương, nhưng đống ngô thì đã bóc hết. Ông Hai đột nhiên ho một tiếng rồi bảo:
- Muốn biết tung tích cậu thiếu niên này vào cung như thế nào, xin chờ nghe hồi sau sẽ rõ. Thôi nhé, khuya rồi, các cháu về đi.
Chúng tôi đứa nào cũng tiếc nuối đứng dậy, đòi tối mai kể tiếp.
- Ông Hai ơi, tối mai ông lấy nhiều ngô hơn để chúng cháu tới bóc nhá.
Ba đêm liền, chúng tôi đã bóc xong toàn bộ số ngô của nhà ông Hai gù.
Chúng tôi lại mong ngóng mùa thu sang năm.
Sang mùa đông có một phó bí thư mới được điều về nhà máy, người ấy lại là họ hàng chi xa của cậu tôi. Tôi thường đến nhà ông, chúng tôi quen nhau lắm. Có việc gì cần làm tôi đều đến giúp; nhà ông có gì ăn ngon, cũng sai con đến gọi tôi. Tôi dường như đã trở thành một thành viên của gia đình ông, chuyện gì cũng nói. Nhưng hễ ông ra khỏi nhà, hoặc nói cách khác, hễ ông đến nhà máy, hễ bước vào phòng làm việc, thì ông không bao giờ còn là bố của con, là chồng của vợ, và càng không bao giờ nói nhiều với tôi. Hội nghị nào ông cũng dự, cuộc họp nào ông cũng phát biểu rất nhiều, những lời ông phát biểu, tôi thuộc gần hết.
Trong nhà máy bắt đầu chỉnh đốn công việc, động viên các ca kíp trong phân xưởng góp ý kiến cho lãnh đạo. Trong mỗi cuộc họp, ông đều nói:
- Quần chúng góp ý kiến cho lãnh đạo, thật sự là quan tâm đối với lãnh đạo. Hiện nay đang thực hiện bốn hiện đại hóa, sự tích cực của Trung ương và của quần chúng ở dưới rất cao, nhưng ở giữa thì yếu kém ì ạch, chủ nghĩa quan liêu tồn tại nặng nề. Chúng tôi yêu cầu mọi người góp ý kiến tức là giải quyết vấn đề chủ nghĩa quan liêu. Mọi người nhất định phải giải phóng tư tưởng, tích cực phát biểu ý kiến.
Thế là quần chúng góp không biết cơ man nào là ý kiến.
Nhưng, ý kiến thì ý kiến, công việc vẫn đâu hoàn đó. Qua một thời gian lại kêu gọi quần chúng góp ý kiến. Trong cuộc họp, ông ấy vẫn nói:
- Quần chúng đóng góp cho lãnh đạo, thật sự là quan tâm đối với lãnh đạo. Hiện nay đang thực hiện bốn hiện đại hóa…
Tôi sợ ông lại nói giống như lần trước, và quả là ông vẫn nói y vậy.
Tôi đến nhà ông, ông đang chơi với con gái nhỏ, để con bé cưỡi lên đầu mình, tháo kính đeo mắt của ông ra, cô bé cười, ông cũng cười. Cuối cùng tôi đả động đến nội dung ông nói trong cuộc họp. Tôi hỏi:
- Tại sao lần nào ông cũng nói như thế?
- Vậy tại sao không thể nói thế?
- Không thể thay đổi thiết thực được ư?
- Thay đổi thế nào cơ chứ?
- Vậy thì đừng bảo quần chúng góp ý nữa, ông cũng đừng nói thế nữa.
- Vậy thì mình còn làm gì nữa, làm được gì nữa?
Tôi hy vọng ông nói tiếp, song ông lắc đầu, im lặng.
Trời tháng bảy, đào ở khe Đông đã chín, từng cây từng cây che kín vườn. Trong thung lũng mùi thơm lan tỏa suốt ngày. Chúng tôi thường thèm nhỏ dãi, nấp ở chỗ xa xa trong nghĩa địa thò đầu vào. Ông già coi vườn đào xộc tới bảo:
- Chúng mày định làm gì ở đó hả? Có cút ngay đi không, cút ngay!
Chúng tôi ào ào chạy tán loạn. Nhưng sức quyến rũ của mùi thơm những trái đào càng mạnh mẽ, chúng tôi liền quyết định đi ăn trộm.
Trong đêm, chờ mẹ đã ngủ say, tôi len lén chuồn khỏi giường đi ra cửa, tới nấp dưới cửa sổ nhà Tam Tam và nhà Thuyên Thuyên, rồi bắt chước chó sủa gọi Tam Tam và Thuyên Thuyên cùng đi. Ánh trăng như người dẫn đường cho chúng tôi đi đến khe Đông.
Ông già coi vườn đào ngồi trong cái lều cỏ ở đó nhìn ra xa xa, chỉ thấy có một đốm lửa lúc sáng lúc tối, đó là ông đang hút thuốc.
Chúng tôi rón rén đi qua bãi tha ma, mò vào vườn đào. Toàn thân run bần bật, vặt loạn xạ trên cây, chẳng biết quả đã chín hay còn xanh, cứ tống bừa vào trong áo lót, áo lót nhét vào trong quần vừa vặn thành cái túi. Thế là bụng to phồng lên. Một tiếng gọi, chúng tôi hốt hoảng vội vã chạy về, cứ cảm thấy có người đuổi theo ở đằng sau, chân cao chân thấp, ngã liền mấy cái. Chạy đến gần làng, sờ đào trong áo lót thì chỉ còn một hai quả, không biết đã rơi đi đâu hết.
Với cách thức như vậy, chúng tôi đã mò vào vườn đào vặt trộm ba lần.
Một lần đi chăn dê, khi qua khe Đông, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy ông già coi vườn đào, đứa nào cũng nem nép, cúi đầu định tránh sang lối khác. Nhưng ông già ấy lại gọi to:
- Này các cháu, đến đây ăn đào, đào đã chín ráo cả rồi!
Chúng tôi ngượng ngịu đi tới. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống, sau đó đi vào trong nhà. Chúng tôi hoảng quá, cứ tưởng chắc là ông lấy roi ra đánh chúng tôi, định co cẳng chạy. Nhưng ông đã bê ra một vạt áo đào tươi, bảo:
- Nào, ăn đi, những chú mèo thèm ăn này, sao các cháu không ăn thế? Trước đây đào còn xanh, ông thường dọa các cháu, hôm nay cứ việc ăn thỏa thích, ăn đẫy bụng vào.
Chúng tôi nhìn nhau, đưa tay ra cầm đào. Những quả đào này đã chín tới nên mềm lắm, cắn một cái, mùi thơm đầy mồm; trên miệng, trên tay chỗ nào cũng dinh dính. Chúng tôi ăn đào mà trong bụng cứ áy náy, cuối cùng tôi đỏ mặt nói:
- Ông ơi, ông tốt quá, nhưng chúng cháu có lỗi vì đã ăn trộm đào.
Mắt ông già sáng quắc lên, song không nhìn chúng tôi, ông nói:
- Đâu có, các cháu đâu có ăn trộm đào. Tuy các cháu thường thò đầu ngoái cổ vào trong đó, nhưng các cháu đâu phải là những đứa trẻ hư hỏng.
- Ông ơi, chúng cháu đã ăn trộm thật đấy.
Tôi nghĩ, ông già nhất định sẽ phật lòng, sẽ giằng lại đào trong tay chúng tôi, tát cho mỗi đứa một cái rồi đuổi đi. Nhưng ông đã ngửa cổ, cười ha ha:
- Sao ông lại không biết các cháu hái trộm đào cơ chứ? Từ nay trở đi, ông nghĩ các cháu sẽ không vặt trộm nữa.
Chúng tôi đứa nào đứa nấy mặt đỏ hết cả lên. Từ đó về sau, quả thật không đứa nào đi hái trộm đào nữa.
Năm 1981
Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005. |