Truyện ngắn
25.12.2008
Giả Bình Ao
Giường lò

Giường lò


 


Bà mẹ ấy ở suối Con Dê Thiểm Bắc, phía tây cách phố huyện tám mươi dặm, phía đông cách thị trấn Tỏa Quan ba mươi dặm. Cả cuộc đời, bà chưa từng lên phố huyện lần nào, không biết tường thành dày bao nhiêu. Còn thị trấn Tỏa Quan bà đã đi bốn lần, toàn đi hội chùa, về nhà chân đau mấy ngày. Bà hận mẹ đẻ đã bó chân chân bà, bà thề kiếp sau không làm đàn bà để được tung hoành đó đây.


Quê bà ở Quan Trung, lúc bà hơn mười chín tuổi, qua một người họ hàng làm mối, bà đã lấy chồng ở đây. Chồng bà họ Vương, nhỏ hơn bà ba tuổi, gọi là Tiểu Hầu Hầu. Ngày ấy, bà không bằng lòng, khóc một trận, nhưng bố mẹ đã trót nhận tiền của người ta, không bướng được, đành phải về làm dâu nhà họ Vương. Hôm đón dâu, chồng dắt lừa đến đón, bốn cái kèn thổi ầm ĩ, người trong làng đều sang xem. Bà sợ tới mức cứ gục mặt trên lưng lừa, không dám ngẩng đầu. Tối đó, ngủ buồng mới, cửa đóng chặt, chỉ còn bà và Tiểu Hầu Hầu. Bà nhớ mẹ, lại khóc. Chồng bà cũng không dám động tới. Nửa đêm ngày thứ ba, anh chồng bò sang gọi bà là “vợ”, bà bảo: “Ai là vợ ngươi, phải gọi là chị!”. Chồng gọi một câu “chị”, bà mới tươi cười với chồng.


Làm dâu khác hẳn làm con gái. Chồng bà tuy không thể che mưa chắn gió, nhưng tận tâm ân ái với vợ, nên bà cũng chấp nhận. Chồng đi thồ muối ở Định Biên, hễ đi là biền biệt một hai tháng. Bà bận rộn lo mọi việc trong nhà: Mùa đông trồng lúa mạch, mùa hè gieo kê, lúc rảnh rỗi đi khâu vá cho người làng. Dần dần bà cảm thấy nơi này cũng được, nhất là cái giường lò, ở Quan Trung không có kiểu giường này, bà thích nó lắm.


Giường lò rộng thênh thang, rộng một trượng hai tấc, dài sáu thước rưỡi, chiếm hẳn nửa nhà sau. Dưới cửa sổ là sàn bếp, cửa bếp là một hố sâu, cho than vào là thổi cơm, lại có đường khói ngầm thông tởi giường lò, mùa đông cả nhà đầy hơi ấm. Nhưng bà không quen cái giường rộng như vậy. Sau khi chồng đi xa, bà cuộn tròn chăn ngủ một mình, lăn khắp giường, mấy lần ôm mặt cười khoan khoái. Bà bảo chồng thu hẹp giường lại, ông không đồng ý, ông bảo sau này còn đẻ con nuôi con, cái giường lò này ngủ được chín mười người. Nghe xong, bà đỏ mặt. Nửa đêm dậy đi giải, bà cứ nghĩ, có bảy tám đứa con thật thì sẽ để một dãy dài giày dép dưới gầm giường và bà lại bưng miệng cười.


Chiếc giường lò trở thành trời đất của bà. Bà ngồi ở mép giường xe chỉ, khâu giày. Trên giường lò, bà mở túi lục gói, lúc rảnh rỗi, bà giỡ các mẩu vải màu và chỉ khâu ra xếp lại. Tối đến, hai vợ chồng ngồi trên giường thủ thỉ chuyện trò. Bà nghĩ, đàn ông đi đây đi đó, đàn bà ở nhà phải giữ rịt cái giường lò này. Bà hết sức giữ gìn sạch sẽ: khăn trải giường không để nhăn nheo, mép giường không để dính bụi. Chỉ có điều bà không quen ngồi ăn cơm trên giường, bà bảo khó co chân.


Ba năm trôi qua, bà vẫn chưa có con. Ông chồng tuy buồn lòng song cũng không dám nói nặng với bà. Bà khóc thầm một trận, cảm thấy có thiếu sót, nên không bao giờ còn làm già với ông; ngược lại, chồng càng thương yêu bà hơn.


Thời gian ấy, Hồng quân Trung ương đã đến Diên An, giải phóng mấy huyện vùng Tây Bắc. Nhưng Hồ Tông Nam thường đến quấy rối. Vùng đất này thành khu tranh chấp, khi thì quân đỏ chiếm, lúc thì quân trắng kiểm soát, cuộc sống ngày càng rối ren. Hôm ấy, ở hướng Đông nam súng nổ lẹt đẹt một hồi, dân làng đều nấp trong nhà không dám đi đâu. Trời vừa tối, bà ra đóng cửa đi ngủ thì nghe ở cạnh nhà có tiếng kêu “bịch”, hình như có vật gì đó rơi ngoài sân. Bà ra nhìn, đó là một nữ chiến sĩ hồng quân. Người nữ hồng quân  nói: Ở phía trước đánh nhau diễn ra tàn khốc, đội ngũ tan tác cả, chị bị rớt lại, xin được vào gia đình ngủ nhờ. Bà sợ khiếp vía, song vẫn cho chị vào trong nhà.


Người phụ nữ này mặt xanh xao, thân hình vụng về, vừa nhìn đã biết là chị đang có thai. Bà rủ lòng thương, bảo chị ngồi trên giường lò, rồi đi nấu nước làm cơm cho ăn. Thấy vợ chồng bà lương thiện, người nữ hồng quân cảm động lắm, nhưng chị chỉ thấy có một gian nhà, hai vợ chồng trẻ mới cưới, nên cảm thấy ở lại không tiện. Người chồng cũng không chủ động giữ  chị lại. Bà nói:


- Mau mau lên giường. Thiểm Bắc chúng tôi phong tục vậy mà, mấy đời trong nhà đều cùng nằm chung một giường lò cả!


Bà bảo người phụ nữ nằm bên trong, chồng nằm bên ngoài, bà nằm ở giữa ngăn cách. Nhưng người nữ hồng quân vẫn không chịu nằm. Bà đành phải đánh thức chồng, bảo ông nằm ở dưới nền đất trước cửa bếp, không được quay mặt ra ngoài. Cả đêm chồng bà không dám trở mình.


Trong đêm, bà khe khẽ hỏi:


- Chị đi bộ đội lâu chưa?


- Được một năm tám tháng.


- Đã bắn chết người chưa?


- Chĩa súng bắn vào một tên râu rậm, hắn ngã xuống, không thấy bò dậy, em cũng không kiểm tra có chết hay không.


- Chị giỏi thật! Tôi giết con gà còn run tay.


- Bị bắt buộc thôi, chị ạ. Bố mẹ em bị tên rậm râu dùng lưỡi lê đâm chết, người trong họ bán em làm con dâu nuôi từ nhỏ cho một gia đình, em đã chạy trốn.


Bà thấy động lòng, vô tình liếc nhìn chồng mình.


- Hiện giờ chồng chị ở đâu?


- Ở Diên An. Không biết bây giờ đang đánh nhau ở đâu!


- Chửa được mấy tháng rồi?


- Bảy tháng rưỡi.


- Thật tội nghiệp, vẫn còn dám chạy hung thế này à?


- Em hối hận đã để có thai, hận chẳng thể moi ra được.


Hôm sau, người nữ chiến sĩ định đi, nhưng bà đã giữ lại, bà bảo nguy hiểm lắm, dọc đường đẻ con làm thế nào được. Và chị đã ở lại. Bà cũng đã biết tên người ấy là Cung Quyên, là một cán bộ tuyên huấn.


Đêm ấy, Cung Quyên chuyển dạ đẻ, bụng cứ đau quặn từng cơn. Bà vội vàng đánh thức chồng đang ngủ ở nền đất trước cửa bếp, bảo ông ra ngoài ôm một bó rơm mạch, rồi đóng chặt cửa không cho ông vào. Hai người đàn bà chưa sinh nở bao giờ, bụng sợ tay run, lóng nga lóng ngóng mấy tiếng hồng hồ, cuối cùng thì đứa bé đã ra đời. Bà lấy tro bếp phủ máu và nước trên nền nhà, rồi mở cửa gọi chồng đốt bếp nấu cơm, sưởi giường lò, lại còn xé mảnh vải đỏ buộc ở then cửa, bảo là tránh ma tà.


Đứa bé là con gái, đèo đẹt như con mèo, họ gọi là Miêu Miêu, Cung Quyên thích, hai vợ chồng bà cũng thích. Suốt ngày họ đóng kín cửa, không để lọt tin ra ngoài. Được mười hôm, Cung Quyên không thể ngồi yên trên giường lò, đòi đuổi theo đơn vị. Trước khi đi, để Miêu Miêu ở lại, quì xuống thưa:


- Chị ơi, em không thể ở lại nữa, đứa con này em để lại, nhờ chị nuôi, chị đã cứu mạng cháu. Nếu cháu sống, em xin chị nuôi cháu khôn lớn, nó sẽ là con gái của chị. Nếu cháu chết, em xin chị chôn cháu. Suốt đời em ghi nhớ ân tình của chị.


Bà đỡ Cung Quyên dậy, nước mắt lưng tròng:


- Em Quyên ơi, em cứ yên tâm ra đi. Chị tuy nghèo nhưng lòng chị không xấu, con của em cũng là con của chị, chị nhất định sẽ nuôi nó tử tế. Chờ một ngày nào đó, em về đón nó đi.


Cung Quyên cúi đầu mấy cái, ôm con vừa thơm vừa khóc rồi từ biệt.


Bà bắt đầu nuôi Miêu Miêu lớn khôn trên giường lò. Bà không có sữa cho đứa bé bú, nó đói cứ khóc ra rả. Bà bảo chồng bán cái chăn mới trên giường, mua một con dê sữa, hàng ngày vắt sữa cho con bé uống. Bà phao tin khắp làng rằng, bà không có con, nhặt được đứa bé ở ngoài đường về nuôi. Dân làng cũng chẳng ai nghi ngờ. Về sau, bà cũng không có con thật. Hai năm đã trôi đi, không thấy Cung Quyên trở lại đón con, bà cứ tưởng cô ấy đã hy sinh, nên càng thương Miêu Miêu.


Miêu Miêu lên ba tuổi thì chồng bà mắc bệnh lao, không cứu nổi, đã qua đời. Bà than khóc chồng, không đi tái giá, từ đó thành góa bụa. Năm ấy, bà mới hai mươi sáu tuổi.


Sống góa bụa, cuộc sống ngày càng gian nan. Bà trở nên ít nói, cũng ít đi ra ngoài. Thỉnh thoảng, có mấy con mèo rừng chó hoang ở đâu chạy vào, nếu không đuổi đi thì đóng chặt cửa lại. Dân làng không ai có điều tiếng gì.


Tính bà cứng rắn, khó khăn đến mấy cũng chỉ để bụng, trước mặt người ngoài không để lộ một mảy may yếu đuối. Quần áo của Miêu Miêu tuy không được đẹp lắm, song tuyệt đối sạch sẽ. Mọi khoản chi trong nhà đều nhờ bà xe chỉ. Chỉ của bà xe vừa nhanh vừa đẹp, người khác mỗi ngày xe một cân sáu lạng, bà xe hai cân một lạng, đem ra chợ bán, sợi của bà đắt hơn người ta mấy giá.


Mùa xuân năm ấy, vùng Tây Bắc hoàn toàn giải phóng. Người xe chỉ trong làng đông thêm, nhà nước cũng thu mua sợi bông, sợi len. Từ đó bà không được đi chợ bán giá cao, nhất loạt phải bán cho nhà nước. Cán bộ biểu dương bà. Bà công bố thân thế của Miêu Miêu. Bà nói, mẹ của Miêu Miêu là Bát Lộ quân, người ta cầm súng giết giặc, bà phải xe nhiều sợi, mới xứng đáng là mẹ nuôi của Miêu Miêu. Trong làng bầu bà và một người nữa là Ngô Nhị Chương đi Diên An dự Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua lao động. Nhưng cuối cùng bà không đi. Bà thấy mình là phụ nữ, không đi trước mặt người, có bầu là gương mẫu hay không thì cũng phải xe nhiều sợi. Kết quả Ngô Nhị Chương được chọn là chiến sĩ thi đua, sau đó đi theo bộ đội lên Sơn Tây chiến đấu và đã lập công, sau ngày giải phóng làm cán bộ ở thành phố Tây An. Bà vẫn ở suối Con Dê, ngày đêm xe sợi vải trên giường lò.


Sau ngày giải phóng, Miêu Miêu đã lớn. Bà cho con bé đi học tiểu học. Miêu Miêu học giỏi, bà cũng cảm thấy vinh dự. Đêm đến bà ôm con nằm trên giường lò. Bà hỏi:


- Có yêu mẹ không ?


- Có!


- Khôn lớn có nuôi mẹ không?


- Có!


Bà ôm chặt Miêu Miêu vào lòng.


Nhưng mùa thu năm ấy, hai mẹ con đang hái táo trong sân, chợt nghe có tiếng ô tô, ngẩng lên nhìn thì thấy trên đường bờ suối có một chiếc xe con bóp còi đi tới. Một tốp người thành phố xuống xe đi thẳng vào cổng nhà bà. Bà cảm thấy lạ quá, không biết đó là những người nào, đang bảo Miêu Miêu đó là xe con, thì tốp người đã vào đến sân. Một người phụ nữ trẻ trung nhìn bà, gọi to một tiếng “Chị!” rồi khóc òa. Bà chẳng hiểu thế nào cả. Người phụ nữ kia nhận là Cung Quyên. Bà reo lên một tiếng “Ôi!” và hỏi: “Em còn sống ư?”, rồi cũng òa khóc nức nở.


Đêm ấy, họ nói chuyện thâu đêm. Cung Quyên nói với bà, ngày ấy ở đây ra đi, cô đã tìm đến đơn vị, liền ra tiền tuyến, sau đó lại đi Tân Cương, không có dịp trở về Thiểm Bắc. Sau ngày giải phóng, hỏi thăm mấy lần cũng không tìm được. Một tháng trước đây mới có tin.


- Chị ơi! Vất vả cho chị quá, bao nhiêu năm nay, chị chăm chút từng bát cơm manh áo nuôi con lớn bằng này, quả thật em không biết cảm ơn chị thế nào. Bây giờ cách mạng đã thành công. Em thật không nhẫn tâm đưa cháu đi, để chị ở lại đây một mình. Thôi thế này, chị cùng vào thành phố với chúng em nhé! Em mãi mãi coi chị là chị gái. Miêu Miêu cũng mãi mãi coi chị là mẹ.


Bà cười tươi bảo bà có công lao gì đâu mà đòi đi thành phố. Bà khuyên Miêu Miêu nhận mẹ đẻ. Nếu Miêu Miêu không đi, bà không nhận là con nữa.


Hôm sau, bà hớn hở tiễn mẹ con Cung Quyên ra đi. Khi xe con ngoặt vào cua núi thì bà ngã sụp xuống mặt đường khóc hu hu, rất thảm thiết.


Từ đó, bà có một gia đình thân thích ở Tây An. Dăm ba ngày bà lại nhờ người viết thư cho họ. Hai mẹ con Miêu Miêu cũng viết thư trả lời, thỉnh thoảng lại gửi cho bà tám đồng, mười đồng. Bà tiếc không tiêu, đem mua đặc sản rừng rồi gửi đi. Mẹ con Cung Quyên mời bà vào thành phố chơi. Trong thư trả lời bà hứa sẽ đi, song cứ lần lữa chẳng đi cho.


Ở thành phố, Miêu Miêu học hết cao trung thì Cung Quyên bị ốm qua đời. Không bao lâu, Miêu Miêu nhận công tác, và thư gửi về ít dần, đầu tiên hai tháng một lá, sau đó sáu tháng một lá. Thư càng ngày càng ngắn. Cuối cùng thì chẳng có được một câu.


Bà cứ ngóng trông suốt, gần như cứ hai ngày lại ra bưu điện gọi điện hỏi thăm. Người làng thấy bà đáng thương, bảo:


- Nghe đâu Miêu Miêu đã làm cục trưởng.


- Thế ư?


- Cô ta thật chẳng có lương tâm, được làm quan là quên ngay bà.


- Đừng nói thế, làm lãnh đạo bận nhiều việc lắm mà!


- Bận thì cũng không thể quên bà. Bà đã nuôi cô ta khôn lớn, bà không để cô ấy nuôi bà ư!


- Nếu vì để nuôi tôi bây giờ mà tôi mới nuôi nó, thì tôi thành con người như thế nào?


Câu ấy bà nói với người khác nhưng cũng là nói với mình. Thế là bà đã thông, không oán trách Miêu Miêu trong lòng. Bà chỉ biết tiếp tục xe sợi, từ mùa xuân xe sang mùa hè, từ mùa hè xe sang mùa đông. Tiền kiếm được, một nửa bà may áo mới, còn một nửa mua lương thực. Nếu có ai nhắc tới chuyện của Miêu Miêu, bà vuốt vuốt  cái áo mới, gõ miệng bát nói:


- Nói chuyện ấy làm gì, tôi cũng đã bảy tám mươi tuổi đâu mà sống không nổi cơ chứ!


Chỉ có điều cái giường lò kia nằm xuống thấy cứng quá. Một năm bốn mùa rải rơm mạch lên nằm. Có người bảo giúp bà phá giường to, xây nhỏ lại. Bà không nghe. Bà bảo cái gì cũng bỏ đi được, chứ cái giường lò này không bỏ được. Đêm ngủ trên nó có thể mơ nhiều giấc mơ đẹp, mơ thấy ông chồng bé nhỏ của bà, mơ thấy cả mẹ con Miêu Miêu.


Mấy năm ấy, cán bộ trên tỉnh, trên huyện thường về nông thôn, có nam có nữ. Cán bộ thôn cử cán bộ nữ đến giường lò nhà bà cùng ngủ. Bà vui lắm, tám chín mười chị đều chen trên chiếc giường lò. Bà ngủ muộn, xách đèn soi từng khuôn mặt xinh đẹp của họ. Hễ nhìn thấy giày dép của họ ở gậm giường là bà lại nhớ tới chuyện nói với chồng năm xưa, rồi cười không thành tiếng, bà cẩn thận xếp ngay ngắn các đôi giày dép lại. Sáng dậy, các cán bộ đánh răng, còn bà dùng nước muối súc miệng. Bà đã già, răng không đủ nhưng trắng như ngọc.


Năm bà trên sáu mươi tuổi, cuộc đại Cách mạng văn hóa xảy ra, cán bộ nữ đến ngủ ở nhà bà ít đi. Bà thường nhớ họ, nhớ hết tên từng người. Nhưng trước mặt họ, bà không bao giờ nhắc đến Miêu Miêu. Chỉ có điều, mỗi năm đến mùa táo chín đỏ, trong lòng bà lại trỗi dậy nỗi nhớ nhung, bà đau khổ cả một thời gian dài.


Mấy năm đã qua, xã hội tuy chưa yên, song học sinh từ Bắc Kinh, Nam Kinh, Tây Ninh đến ở đội sản xuất nhiều lắm. Bà bí mật dò hỏi Miêu Miêu, có người biết sơ sơ, bảo Miêu Miêu thuộc phái đi theo con đường tư bản, đã từng bị cạo trọc đầu diễu phố trong thành Tây An. Bà nghe vậy, không nén nổi đau lòng, bà bảo bà trông nom Miêu Miêu lớn khôn, chưa hề động tới một đầu ngón tay, thế thì Miêu Miêu chịu sao nổi tội ấy?


Bỗng một hôm, bưu điện chuyển đến một bức thư, bà ngạc nhiên lắm, không biết ai gửi. Bà nhờ người đọc giúp, mới biết là thư của Miêu Miêu. Thư viết buồn thương lắm, Miêu Miêu nói là mắc sai lầm, hiện đang cải tạo ở trường cán bộ mồng bảy tháng năm. Chị đã có ba con, bị người ta khinh rẻ, chuẩn bị đuổi về nông thôn nơi biên giới hẻo lánh. Chị không yên tâm, muốn để con gái lớn về ở suối Con Dê, nhờ mẹ nuôi trông giúp. Miêu Miêu nói, những năm qua đã mất gốc, không gửi thư cho mẹ, sợ mẹ nuôi không bằng lòng.


Nghe đọc thư, bà đã khóc, vội vàng nhờ người viết thư, nói rằng: Cứ cho cháu đến, cho cháu đến! Tại sao bà lại không bằng lòng cơ chứ? Con khó khăn cứ về đây ở nhà mẹ, vẫn là cái giường lò ngày xưa. Mẹ sẽ không cô đơn nữa, chẳng ai dám bắt nạt trẻ nhỏ, mau mau đưa cháu về!


Ít lâu sau, con gái cả của Miêu Miêu đến, cô bé mười sáu tuổi, tên là Tú Tú, khuôn mặt rất giống Miêu Miêu. Vừa thấy bà, cô bé đã gọi một tiếng “bà”. Bà gọi tên Miêu Miêu, rồi ôm cháu khóc.


Từ đó, trên giường lò có thêm Tú Tú. Đêm đêm, bà kể cho cháu nghe những chuyện ngày còn bé của Miêu Miêu, hai bà cháu cùng cười. Tú Tú cũng kể rõ cảnh ngộ gia đình trong mấy năm qua. Bà cứ gạt nước mắt, đến nửa đêm mà vẫn không sao chợp mắt được.


Tú Tú chẳng biết làm thứ gì. Bà dạy cháu công việc đồng áng, cầm cuốc, giặt quần áo, căn dặn cháu làm người phải ngay thẳng, phải làm việc hết mình. Tú Tú cũng ngoan, chăm chỉ nghe lời. Đi làm về, thấy bà đã nấu cơm, bát đầu tiên Tú Tú xới cho bà trước, bà sung sướng run cả chân tay.


Sang mùa đông, Tú Tú đến thời kỳ có kinh nguyệt, sợ không biết làm thế nào. Bà trông nom chăm sóc, nói nhiều chyện, không để Tú Tú động đến nước lạnh, không cho làm việc nặng. Tú Tú phản ứng mạnh, cơ thể khó chịu, nhớ mẹ, đêm ngủ cứ khóc. Bà ngồi khuyên thâu đêm. Dân làng thấy bà chăm nom Tú Tú, không ai dám nạt nộ.


Được hai năm, thì Tú Tú trở thành thiếu nữ, ngực nở căng lên, dáng rất xinh đẹp. Trong thời gian ấy, Tú Tú đã về Tây An ba lần. Miêu Miêu gửi về cho bà nhiều quần áo.


Bà hỏi Tú Tú:


- Nhà quê tốt hay thành phố tốt?


- Nhà quê tốt!


- Sau này, mẹ cháu ở thành phố  thấy khó chịu thì cứ bảo về đây mà ở.


- Thế thì tốt, cháu sẽ suốt đời trông coi bà.


- Vậy thì bà tìm cho cháu chàng rể nhá!


- Nhưng ở đâu được hả bà?


- Cái giường lò to tổ bố thế này, chẳng nhẽ không chứa nổi hai đứa chúng mày sao?


- Hì hì... - Mặt Tú Tú đỏ ửng như một bông hoa.


Sang mùa xuân, Tú Tú lại lên thành phố. Bà nhắn Miêu Miêu, nếu bằng lòng về quê, thì đưa cả nhà về đây ở, xem đứa nào dám cạo đầu đi diễu phố? Tú Tú về, một tháng sau không trở lại. Bà sốt ruột quá, cứ lo hay là có chuyện gì xảy ra dọc đường, bèn đánh điện lên thành phố. Ít lâu sau, có thư trả lời. Thư do Tú Tú viết, báo tin về đến thành phố thì vừa lúc mẹ được sửa sai, trở lại chức cục trưởng. Mẹ đã đòi đưa cả mấy chị em ở quê về thành phố. “Nhưng cháu vẫn nhớ suối Con Dê, cháu không muốn xa bà. - Tú Tú viết trong thư - Cháu quen ngủ trên giường lò ấm, giờ ngủ trên giường đệm ở nhà gác, cháu không ngủ được!”.


Bà đã yên tâm song cứ thấp thỏm, sợ Tú Tú ngộ nhỡ không trở lại. Dân làng ai cũng bảo:


- Tú Tú không về đâu, người ta chắc chắn đã có việc làm, còn về quê làm gì cho khổ?


Bà thì luôn luôn bảo:


- Tú Tú phải trở lại chứ! Nó khen cái giường lò của tôi tốt cơ mà!


Nhưng rốt cuộc Tú Tú không trở lại. Thư gửi về bốn lá, quả nhiên báo tin đã có việc làm. Trong thư rặt những lời cảm động, vĩnh viễn không quên ân tình của bà. Để đền đáp người già, Tú Tú xin để lại số chăn nệm, quần áo và đồ dùng hàng ngày, chỉ yêu cầu bà làm giúp chuyển hộ khẩu về thành phố.


Bà nghe đọc thư, không nói gì. Ngay chiều hôm ấy, bà tập tễnh đôi chân nhỏ đi làm hộ khẩu, gửi về thành phố ngay trong đêm. Trở về nằm trên giường lò, bà chỉ cảm thấy cái giường rộng, trống vắng quá. Lúc trời sáng, toàn thân bà nóng hầm hập, không gượng dậy nổi.


Trận ốm đó, bà nằm mười lăm hôm. Khi xuống được giường, thì người bà già khọm, tóc bạc trắng như cước, không còn sức xe sợi vải, chỉ có thể một ngày nấu ba bữa cơm, cơm ăn cũng nhạt chẳng buồn nuốt.


Từ đó về sau, Tú Tú cũng chẳng gửi thư về. Dân làng xem xét, xếp bà ở diện năm đối tượng hưởng trợ cấp(1).


Bà càng ngày càng ít nói, hiếm khi đi ra ngoài. Suốt ngày chỉ ngồi trên chiếc giường lò. Giường lò rộng quá, bà chiếm chẳng đáng mấy. Cái bếp cũng to, một người quả thật không cần đến cái nồi to như thế. Trên giá ở tường nhà, chậu bột gạo, âu mỡ, lọ muối để cũng không phải chỗ. Bà muốn thu dọn, song không có sức, liền nhắm mắt lại, cứ ngỡ đang ngủ. Thật ra thì ba đang thức, thức mà lại lẫn lẫn. Suốt ngày suốt đêm đều như vậy.


Mắt bà không nhìn được rõ, nhưng tai thì lại thính. Nghe gió thổi trong sân, bà biết lá cây lại xoay tròn. Tiếp theo là tiếng bước chân ở cạnh nhà, lệt xệt tới tận cửa. Bà cất tiếng:


- Ông Ngô Tam Chương hả?


Mành cửa nhấc lên, quả nhiên người đến nhà là ông Ngô Tam Chương. Ngô Tam Chương là em trai Ngô Nhị Chương năm xưa. Trong Cách mạng văn hóa, ông Ngô Nhị Chương bị đấu tố, sau đó bị dằn vặt đến chết. Bây giờ đã sửa sai, mộ ông được chuyển về chôn trong nghĩa trang liệt sĩ. Gia đình ông Ngô Tam Chương trở thành gia đình liệt sĩ, được ưu đãi, đời sống dễ chịu lắm. Gần đây ông thường sang chơi nhà bà.


- Bà chị ơi, đáng thương cho chị quá! Mẹ con Tú Tú đã được sửa sai, lại làm quan, tại sao bà chị vẫn thế này?


Bà chỉ cười.


- Tại sao bà chị không xin bọn chúng?


- Tôi đã được chế độ trợ cấp người già, còn đòi hỏi gì nữa?


- Dưới gầm trời sao có hạng người vô lương tâm thế không biết. Lúc khốn khó họ nhớ chị, lúc sung sướng thì quên ráo.


Bà không bảo sao, hai người lặng lẽ ngồi một lúc, rồi ông Ngô Tam Chương ra về.


Ba tháng sau, bà lại ốm, hễ nằm xuống là không dậy được nữa. Bà biết mình sắp qua đời. Dân làng thay nhau trông coi bà. Ông Ngô Tam Chương bảo bà:


- Gọi điện cho mẹ con Tú Tú, bảo họ đón bà lên Tây An, vào bệnh viện lớn khám chữa, có lẽ sẽ khỏi.


Bà không đồng ý. Bà bảo sống đến lúc rồi, không cần phải báo tin cho mẹ con Tú Tú, càng không cần lên thành phố điều trị làm gì. Quả nhiên, sáng sớm ngày thứ ba, bà thoi thóp, chỉ thở hắt ra, không hít vào. Dân làng ai nấy vây quanh giường lò. Bà nói:


- Mời ngồi cả lên giường. Chiếc giường này rộng, ngồi được hết đấy. Bà con đều đến thăm tôi, tôi nhắm mắt ra đi được rồi. Chỉ có điều cứ lo lo cho mẹ con Tú Tú, sợ rằng một khi tôi chết đi, nếu chúng có khó khăn gì, thì biết tìm ai được?


Nói rồi, bà tắt thở, mắt cứ mở thao láo.


Dân làng than khóc, vuốt mắt cho bà, chôn bà ở cạnh bờ ruộng ngoài nhà.


Ngôi nhà bỏ không. Trong làng không có ai đến ở, liền khóa cửa.


Mấy năm sau, không lửa khói, lúc mưa gió nhà bị đổ, chôn luôn cả cái giường lò bên trong. Sau đó, cán bộ trên huyện, trên tỉnh thường về nông thôn, nhiều cán bộ nữ đến suối Con Dê hỏi thăm bà. Biết người đã chết, nhà đã đổ, ai cũng thương xót, rưng rưng nước mắt, nhớ lại chiếc giường lò cứ tấm tắc khen giường lò tốt quá, vừa rộng vừa êm.


 


 


Hồi âm


 


Núi cao vời vợi, một mảnh trăng lưỡi liềm mảnh mai treo ở bên trên. Nước sông chảy ngoằn ngoèo song không lấp nổi đá, bắn lên những hoa sóng như tuyết. Bao phủ mặt dốc Hướng Dương từ trên xuống dưới là vạt cải dầu ra hoa vàng óng ả; ong mật đang bò trong nhị hoa, đôi cánh đẫm sương cứ động đậy, thường không bay lên nổi. Cô gái chạy lên chạy xuống rắc hết một sảo nhỏ phân hóa học, rồi ngả người ngồi lên một phiến đá trong ruộng rau cải dầu. Một con gà rừng ở dưới phiến đá chui ra kêu “Cúc cu!”, lập tức ở vách đá đối diện dội lại hồi âm “Cúc cu ! Cúc cu !” giống như tiếng vang trong chum. Thung núi bắt đầu thức dậy, hơi mù bay lên, bay lên tận đỉnh núi thì vành trăng cũng biến mất.


A, một ngày mới lại bắt đầu. Cô gái nhìn con đường mòn ở bãi sông theo thói quen: Người đưa thư không xuất hiện ở đó. Cô thở dài, nằm ngửa trên phiến đá suy nghĩ. Cô gái non trẻ, đang ở tuổi dậy thì, hễ làm việc xong công việc căng thẳng là tâm tư tình cảm lại mon men bò lên trái tim, bò lên bờ mi... Là tiếng gì nhỉ? Khẽ khàng, run run, không thể nắm bắt. Cô cứ tưởng trái tim đang bồi hồi, khi mở mắt ra nhìn, thì ở phía trước mặt, bên dưới phiến đá lớn kia, là một khóm hồng đang nở hoa tươi rói, có vô số ong vàng mỡ màng đang xôn xao bay lượn ở đó...


Cô nghĩ đến chuyện đã qua.


Trong thung lũng núi sâu thẳm, cứ một chỗ ngoặt là một bản làng nằm rải rác trong công xã. Các cô gái miền núi ăn bột kiều mạch, uống nước suối rừng, cô nào cũng lung linh như hoa núi nở đầy thung lũng. Trong rừng trăm hoa ấy, cô là một đóa hoa hồng. Dân bản đều gọi cô như vậy. Các chàng trai ân cần săn đón cô, tặng cô nào sáo trúc, nào khăn mùi xoa... Nhưng cô đã từ chối.


Cũng trong một buổi hoàng hôn, chàng học sinh vừa tốt nghiệp cao trung về làng đã đến tán tỉnh cuốn níu cô, cô hất mớ tóc đuôi sam bỏ đi. Cô đi thẳng đến một hõm núi, đứng ở đó, dường như còn rất xấu hổ xen lẫn tức giận. Nhưng khi cô ngẩng đầu lên, thì phát hiện trong ruộng khoai tây có một người đang ngồi ngẩn tò te, không nhúc nhích.


“Anh ấy ư?”, suýt nữa cô kêu lên. Mặt cô chợt đỏ ửng, trái tim đập thình thình. Anh ấy, một chàng trai ngố nổi tiếng trong bản. Mấy năm trước, trong một loạt thanh niên từ trường học tốt nghiệp trở về, anh nào cũng dẻo mồm hơn anh ấy. So với mọi người, anh ấy thật củ mỉ cù mì: cắm đầu cắm cổ làm việc, cắm đầu cắm cổ đọc sách, cuối cùng thì ngồi thẫn thờ một chỗ nghĩ ngợi điều gì đó. Nghĩ cái gì vậy? Anh ấy chỉ cười hì hì. Cô cười anh ngố quá, anh liền đỏ mặt, không dám nhìn mặt cô. Nhưng trong hàng trăm chàng trai xinh đẹp, khỏe mạnh, cô gái đã nhắm trúng người cô yêu nhất. Nhưng anh ấy không hề biết, không nói cười với cô. Cô tìm anh nói chuyện, thì anh đỏ mặt không dám nhìn cô. Cô thầm nói: “Mặt em có sẹo khó nhìn hay sao?”. Cậu học sinh vừa tốt nghiệp cao trung kia càng say mê theo đuổi cô, thì cô càng oán trách anh chàng ngố này. “Ôi! Sao anh không nói nhỉ? Lẽ nào để em đi nói rõ với anh, hả anh chàng ngố ơi?”.


Cô ho một tiếng rõ to. Nhưng anh chàng ngố dường như không nghe thấy, vẫn ngồi xổm ở đó, không nhúc nhích. Cô đi tới, nói to:


- Anh lại thừ người nghĩ gì vậy?


Anh chàng giật nẩy mình đứng lên, nhìn thấy cô, tai anh chợt ửng đỏ, cúi xuống:


- Cô bảo, khoai tây có trồng hạt được không?


Cô cười hi hí, bảo:


- Anh thật là ngốc! Khoai tây đều trồng bằng mầm chứ, lẽ nào anh còn không biết ư?


- Trồng mầm lãng phí quá! Một củ khoai tây cắt thành hai miếng, mỗi miếng chỉ mọc một cây con, hơn nữa khoai cho củ chỉ to bằng quả trứng gà, to nhất cũng chỉ bằng nắm tay...


Cô gái cười ngặt cười ngoẽo:


- Lẽ nào anh lại muốn làm cho củ khoai tây to bằng cái miệng bát cơ chứ?


Nhưng anh đã trả lời một cách nghiêm chỉnh:


- Tại sao lại không cơ chứ?


- Anh dùng ống đu đủ mà thổi lên ư?


- Tôi nghĩ, ngô và mạch đều trồng bằng hạt giống, thì cũng nên để khoai tây ra hoa, kết thành hạt, trồng thử xem sao.


Anh nói và lại ngồi xuống, ngẩn người trước một cây khoai giống: Cây khoai ấy đã ra hoa và đang kết hạt.


Nhưng cô đã kéo anh về, cô bảo trời tối rồi, muốn ngồi tiếp thì ngày mai lại đến. Hai người ra khỏi khu ruộng trũng. Khi qua sông, anh nhảy phăng phăng trên những hòn đá trong nước, nhưng cô thì không nhảy được. Cô bảo anh kéo tay mình, anh ngần ngừ một lát, rồi ra bẻ một đoạn cành cây ở cạnh đó, đưa một đầu cho cô cầm rồi mới kéo sang. Cô thở dài một cái, cuối cùng thì nghiến răng lại. Khi bước lên đường mòn bờ sông, cô hỏi:


- Anh có thành kiến với em phải không?


- Không!


- Vậy tại sao anh cứ lảng tránh em?


- Không có chuyện ấy...


- Anh ghét em hay sao?


- Đâu có.


- Vậy tại sao anh không cho em một thứ?


- Một thứ? Thứ gì nhỉ?


- Trái tim.


Cô nói xong thì không đủ dũng cảm nhìn anh nữa, cúi đầu vội vàng đi lên trước. Trái tim chàng ngố giống như sợi dây đàn đang căng chợt được gẩy lên, lập tức vang dậy những âm thanh rộn rã, tuyệt vời. Anh ngẩng đầu nhìn cô. Cô đang nhảy qua những hòn đá lỏng chỏng ở bờ sông, nước bắn tung tóe trên những hòn đá ấy. Anh cười một cách hiền hậu, chợt gọi:


- Hoa hồng ơi!


Trên vách đá đối diện vang lên những hồi âm, đầy khe đầy núi đều vang dậy tiếng gọi Hoa hồng .


...


Cô gái bừng tỉnh trong im lặng, hai mắt đăm đăm nhìn vào vách núi đối diện, dường như ở đó còn đang âm vang những hồi âm của thung lũng thì phải? Từ trong túi áo, cô móc ra một chiếc gương tròn nhỏ xíu, lập tức trong gương xuất hiện một khuôn mặt khó coi: Ở góc mắt bên phải có một vết sẹo, da dúm lại, dúm tới mức mí mắt trên xếch lên; trên cằm là một cái sẹo, vết thương bị khâu lại, trên vết thương thịt đã lành, song những đốm đỏ sần sùi do kim khâu tạo ra thì còn rõ. Đây là cô đấy sao? Là khuôn mặt giống như hoa hồng ngày nào ư? Cô không dám nhìn nữa. Cô vứt cái gương tròn nhỏ xíu trên phiến đá, cầm hòn đá đập vỡ tan, rồi úp hai tay vào mặt khóc hu hu.


Khi mất đi một cái gì, người ta mới thật sự cảm nhận sự quí báu của cái đó, mà sự cảm nhận đó lại biến thành hồi ức đau khổ nhất của bản thân...


Sau khi chuyện riêng của hai người đã thành, cô lập tức tuyên bố trước dân bản. Người ta vui mừng, thèm khát, song cũng có người nuối tiếc, cũng có kẻ ghen tỵ. Anh chàng tốt nghiệp cao trung kia trước mặt người khác đã chê cô là bông hoa cắm trên đống cứt trâu, song trong lòng thì ngấm ngầm cay cú, hơn nữa còn dự đoán: Cô ấy sẽ chẳng bao giờ yêu chàng ngố, thế nào cũng có ngày hối hận. Nhưng cô đã yêu, yêu một cách tự do, yêu một cách thắm thiết. Cô bảo anh ấy có đầu óc, có chính kiến; so với những anh chàng lông bông bẻm mép, thì chàng ngố là người đáng yêu nhất trên đời. Anh ấy có gì sai cơ chứ? Chỉ hơi ngố mà thôi. Nhưng cô đã dần dần yêu mến cái tính khí ngớ ngẩn của anh.


Anh ấy ngớ ngẩn quả thật là ở chuyện cứ khăng khăng lấy cho được giống hạt khoai tây để trồng. Anh ra công chăm bón, quan sát kỹ càng, năm đầu tiên khoai tây có củ to hơn khoai tây khác. Anh sung sướng vô cùng. Đêm nào anh cũng đọc sách đến sáng, bỏ ra khá nhiều tiền mua sách tham khảo, lại còn ra thành phố đến Sở nghiên cứu mời nhà khoa học giúp đỡ. Năm thứ hai, dưới sự chỉ đạo của nhà khoa học, anh đã lai giống khoai tây tốt nhất của miền núi, sau đó lấy hạt lại trồng. Năm ấy, so với giống trồng bằng mầm củ, khoai tây lai cho củ to gấp đôi.


Cô tự hào vì anh. Tối hôm dỡ khoai tây, trăng tròn vành vạnh, họ ngồi trên hòn đá bên sông, thả hai chân xuống nước. Cô đã chúc mừng anh, cô bảo trước kia không hiểu anh, mong anh thông cảm, rằng cô đã học tập ở anh những điều quí báu, rằng cô ngày càng yêu anh. Thậm chí cô còn hái một lá thị gần đó gấp thành một cái thìa con, múc một thìa nước, bảo là chúc mừng anh. Anh đã nhận, há miệng uống và cười với cô. Cô cảm thấy mình rất hạnh phúc, mặt trăng trên trời, hoa sóng dưới đất đều đã thuộc về cô. Thế rồi anh đột nhiên nghiêm túc nói với cô:


- Anh phải phê bình em đấy!


Cô giật mình đánh thót:


- Phê bình em ư? Phê bình cái gì mới được?


Anh bảo:


- Chúng ta đều còn trẻ, Tổ quốc là của chúng ta, thế giới là của chúng ta. Thế hệ chúng ta nên làm việc gì nhỉ? Nền nông nghiệp của nước ta còn lạc hậu, nhất là vùng núi, nhưng hiện nay đang là lúc gây dựng sự nghiệp, thì những người trẻ tuổi lại chỉ dẻo mỏ, chỉ nói không làm. Lẽ nào chúng mình cũng sống hồ đồ như vậy? Tại sao em không đi sâu nghiên cứu cẩn thận một cái gì? Ví dụ, có thật làng bản mình không thể trồng bông, trồng cải dầu, trồng sen?


Cô nhìn anh, cặp mắt anh rực sáng, sáng như sao trên trời. Cô cứ thế ngắm anh thật lâu, gật đầu với anh, và giục anh: Anh cứ phê bình đi, anh phê bình nữa đi!


Đêm hôm ấy, khi nằm trên giường, cô lắng nghe tiếng nước sông xô vào đá bắn tung tóe lên như những viên ngọc rơi xuống đĩa; lắng nghe con chim rừng vỗ cánh trên vách núi hót líu ríu hết tiếng này đến tiếng khác.


Hôm sau, cô bảo anh, cô định trồng thử cải dầu. Được đội sản xuất đồng ý, cô xuống núi mua hạt cải dầu, cuốc mảnh đất trên dốc Hướng Dương. Khi gieo hạt giống xuống ruộng đất màu mỡ, cô cảm thấy như gieo trái tim mình. Họ thách thức nhau, xem ai giành được thành tích nghiên cứu khoa học lớn hơn.


Năm ấy, khoai tây của anh củ to nhất bằng cái bát, làm ầm ĩ cả vùng núi. Anh đề nghị với đội sản xuất cho trồng đại trà. Nhưng cải dầu của cô thì sao? Số lượng thu hoạch chỉ gấp đôi số giống. Cô đã khóc vì buồn. Anh động viên cô:


- Thu gấp đôi giống, chứng tỏ vẫn trồng được ở núi cao. Tổng kết cẩn thận lại để làm tiếp, sẽ có ngày dầu hạt cải chảy lênh láng trong đất núi chúng mình cho mà xem!


Lại một mùa gieo hạt nữa đến. Năm nay “lũ bốn tên” đã bị đập tan, đại hội khoa học lại triệu tập, đơn vị nghiên cứu khoa học trên tỉnh đã điều anh ngố đi học thêm để anh được đào tạo sâu hơn trong việc nghiên cứu trồng giống khoai tây. Cô vui mừng xiết bao. Hai người đã đính hôn. Cô đi tiễn anh, tiễn ra khỏi núi. Anh lại tiễn cô trở về, tiễn về tận bản. Cô lại đi tiễn anh... Đường núi tiễn không hết, lời tri âm nói không cạn! Cuối cùng, hai người tuyên bố: Không ai tiễn ai, dựa lưng vào nhau hô một tiếng: hai ba, cùng bước đi. Nhưng đi được mười bước, cô ngoái cổ nhìn anh, thì anh đang quay lại nhìn cô, gần như hai người cùng cất tiếng:


- Chờ nhau nhé! Chúc thành công!


Vách núi vang trở lại tiếng hai người ngợp núi ngợp rừng:


- Chờ nhau nhé! Chúc thành công!


Anh ấy đi rồi. Dăm bữa nửa tháng họ gửi cho nhau một bức thư. Cải dầu của cô lại mọc, cô chăm nom chu đáo như thêu hoa, quản lý nhiệt tình như viết thư cho anh ấy. Nhưng anh chàng tốt nghiệp cao trung nọ, nhờ bẻm mép, đã được làm phó chủ nhiệm công xã, sau khi đã “nói rõ trên lớp học tập” trở về. Một hôm, hắn ta tìm cô bảo: Hiện giờ chàng ngố đã gặp vận may, trở thành nghiên cứu viên, được ở thành phố, còn thiết gì rừng núi nữa. Con gái thành phố thiếu gì mà phải lấy cô gái rừng rú làm vợ? Tóm lại là mau mau thay đổi ý định lấy anh ta. Cô đã mắng hắn một trận rằng anh ngố đâu phải hạng người ấy, hãy bỏ ý định xấu xa đi, thật thà lao động sản xuất.


Từ đó, hắn ta thâm thù cô. Hắn hận cô, hận luôn cả cải dầu cô gieo trồng. Trong một đêm nước lũ dâng cao đột ngột, hắn len lén lên dốc núi phá mương phòng chắn lũ, tháo nước vào ruộng cải dầu của cô. Cô kịp tới tháo nước và phát hiện hắn có hành động phá hoại. Cô đã vật lộn với hắn. Cô chặn được chỗ vỡ trên mương phòng chống lũ, song bị hắn đẩy ngã từ dốc núi lăn xuống...


Tên xấu xa vô liêm sỉ đã bị bắt, nhưng cô thì bị thương. Sau khi ra viện, khuôn mặt cô bị khâu vá.


Lần đầu tiên nhìn thấy khuôn mặt mình trong gương, cô đã ngất xỉu. Lúc tỉnh lại, người đầu tiên cô nghĩ đến là anh ấy, là người cô yêu dấu. Cô rất muốn nói với anh về vết thương của mình để san sẻ bớt nỗi đau khổ. Song cô cũng rất sợ khi nói về nó, như vậy nỗi đau khổ của một người sẽ trở thành nỗi đau khổ của hai người! Anh ấy còn trẻ, đẹp trai, ở thành phố, lại là nghiên cứu viên. “Mình thành người thế này, anh ấy sẽ vĩnh viễn đau khổ về tinh thần”. Nhưng cô lại nghĩ: “Mình yêu anh ấy biết bao, mình không thể không có anh ấy, mình không thể không yêu anh ấy!”. “Đành rằng bạn yêu anh ấy, bạn có thể để anh ấy đau khổ vì bạn không?”. Cô không biết trả lời ra sao. “Vậy thì, vậy thì mình bỏ anh ấy ư? Mình phải rời xa anh ấy ư? Rời bỏ anh ấy, ai sẽ yêu anh ấy nhỉ? Một người tốt như vậy, chắc chắn sẽ có nhiều cô gái yêu anh ấy. Ôi, mình đã yêu anh ấy, vậy thì hãy để họ sống hạnh phúc. Nhưng anh ấy, anh ấy là người mình yêu thương!...”. Cô gái trong trắng đáng thương bị nỗi khổ đau dằn vặt, dằn vặt mãi... Nhưng rồi cuối cùng, cô đã gửi cho anh một bức thư, nói rõ vết thương của mình, xin được chia tay, mong anh hãy quên cô, đừng để vương vấn chút nào trong lòng nữa. Cô viết:


“Em không còn là hoa hồng nữa, em đã thành hoa cải dầu. Nhất định anh phải tìm một cô gái xinh đẹp! Tìm được, anh nhớ gửi cho em tấm ảnh của cô ấy, em sẽ chúc phúc cho cô ấy! Em nhất định sẽ thêu một đôi khăn trải gối hoa đẹp nhất tặng hai người”.


Gửi bức thư đi, cô khóc suốt một đêm.


Từ đó, cô càng tích cực lao động trong ruộng rau cải dầu. Trời còn tờ mờ, cô đã dậy tưới nước ở ruộng rau, rồi nhổ cỏ, xới đất, bón phân... Cứ thế cô làm việc cho đến tối mịt, sao mọc đầy trời mới về nhà. Rau cải dầu trên dốc Hướng Dương ngày hôm nay khác ngày hôm qua, xanh tốt mượt mà, bắt đầu ra hoa. Đó là một ruộng rau đáng yêu biết mấy: lá xanh mơn mởn, xanh đến mát mắt, hoa cải mới đẹp làm sao. Mỗi khi ngồi nghỉ, cô lại nhớ anh. Anh ấy có nhận được thư không? Nhất định anh sẽ khóc, có lẽ anh không đồng ý với ý kiến của mình, mà cũng có lẽ sẽ đồng ý. “Anh cứ đồng ý đi, anh cứ đồng ý đi!”, cô lẩm bẩm như vậy, rồi nhìn như dán mắt vào con đường mòn dưới bãi sông, xem có người đưa thư đến hay không. Mỗi khi có người đưa thư xuất hiện ở eo núi, cô lại hấp tấp chạy đi, nhưng lần nào cũng thất vọng: không có thư của anh ấy.


“Tại sao không có thư trả lời? - Cô nghĩ - Anh ấy không quyết định nổi, hay là đồng ý với ý kiến của mình, hoặc là ngượng không viết thư trả lời?”. Trở lại ruộng rau cải dầu cô tiếp tục nghĩ: “Nếu ngượng không trả lời thì thôi vậy”. Cô vung cuốc lên cuốc phầm phập. “Mình ngốc thật, anh ấy đã ngượng  không viết thư trả lời, thì tại sao mình cứ đòi anh ấy viết thư trả lời cơ chứ? Mình yêu anh ấy, thì cứ để anh ấy sống không đau khổ. Như thế, sẽ có lợi cho công việc của anh ấy, có lợi cho sức khỏe của anh ấy”. Cô cứ cuốc cứ xới, nước mắt chảy ròng ròng.


...


Bây giờ đang là lúc mặt trời nhảy ra khỏi ngọn núi, những vòng nắng rực rỡ chiếu xuống ruộng cải dầu làm cho những luống hoa cải dầu thêm óng mượt, khóm hoa hồng kia càng đỏ thắm. Cô đứng dậy, sửa lại mái tóc, tiếp tục rắc sảo phân hóa học khác, lòng cô kiên định trở lại: “Mình không chờ thư của anh ấy nữa, hãy quên mối quan hệ giữa chúng ta đi. Mình nên học tập anh ấy. Hai đứa đã từng thách thức nhau, mình đã thua anh ấy, mình phải đuổi kịp anh ấy. Hãy để cải dầu chảy lênh láng đất rừng đại ngàn của chúng ta”.


Từng vốc, từng vốc phân hóa học được bón vào gốc cải dầu. Những hạt phân trắng tinh tròn tròn nhỏ xíu là những giọt mồ hôi của mình ngưng đọng đấy ư? Là những hạt cải dầu có chứa nước dầu đấy ư? Đột nhiên có tiếng ai gọi cô, hình như khắp núi thung đều gọi cô.


Cô quay đầu, nhìn thấy một người đang đứng ở thung lũng, người ấy mặc quần áo xanh lá cây, đeo cái túi bưu điện, đang cầm lá thư vẫy vẫy gọi cô.


Thư! Thư! Cô quẳng sảo phân hóa học, chạy như bay như biến xuống dốc, đá vụn rơi lả tả trước mặt, cào cào bay rào rào dưới chân, cành gai đâm thủng áo... Cô chạy xuống, hai tay nắm chặt phong bì, thư của anh ấy, nét chữ của anh ấy đây. Ôi, anh ấy quả thật đã viết thư trả lời.


Cô cầm lá thư, toàn thân run rẩy, đứng tại chỗ xem thư:


Em thương yêu!


Bởi anh đi khảo sát giống mới ở nông thôn huyện ngoài, lúc về mới nhận được thư của em! Em bị thương ư? Anh không dám tin đó là lời em viết, anh không dám tin người yêu của anh lại bị thương! Nhưng rõ ràng em đã viết bức thư đó, anh đã khóc nức lên. Anh không biết hiện giờ vết thương của em đã lành chưa. Anh đã xin lãnh đạo về thăm. Anh chuẩn bị báo cáo, xong công việc sẽ về thăm em ngay!


Nhưng anh phải phê bình em. Tại sao em lại đưa ra những ý kiến như vậy hả? (Tha lỗi cho anh, anh xúc động quá, không biết phê bình em thế nào mới đúng). Anh không định nói ở đây, chờ sau khi về, anh sẽ phê bình em!


Em bảo, em không còn là hoa hồng nữa mà đã biến thành hoa cải dầu... Anh trả lời em: Anh yêu Hoa Hồng, song càng yêu Hoa Cải Dầu. Anh viết tặng em một bài thơ:


Trăm hoa đua sắc, cùng đua sức trẻ,


Gầu nước mát trong, hoa nở hoa tàn,


Lá thắm hoa tươi cải dầu ăm ắp,


Chỉ một loài hoa cải đẹp giữa rừng.


Tái bút: Anh lập tức đến đơn vị xin giấy giới thiệu lấy giấy chứng nhận kết hôn. Khi anh về thăm em, chúng mình sẽ cưới nhau trong mùa hoa cải nở rộ!


Ngày x tháng xx


Anh của em!


Cô gái đã khóc, nước mắt tuôn ra như suối, nước mắt không phải đau khổ mà là rượu ngọt cất ra từ trong tim. Cô đặt bức thư trên ngực căng phồng, gọi to:


- Anh! Anh ơi... Em yêu anh!


Vách đá đối diện lập tức dội lại hồi âm:


- Em yêu anh!...


Cô gái đã nghe quen hồi âm rừng núi, song lần đầu tiên cô tỏ ra ngạc nhiên: Ai đang gọi thế nhỉ? Là anh ấy ư?


Cô lập tức cảm thấy là tiếng anh trả lời cô, cô lại gọi to:


- Em yêu anh!


- Em - yêu - anh...!


Cả thung lũng núi đều đang ăm ắp tiếng gọi. Từng đôi, từng đôi chim hạnh phúc bay trên đỉnh núi, lượn trên bãi sông. Đôi cánh chim đèo nắng mặt trời đã nhô lên khỏi núi.


Tây An, đêm 28 tháng 9 năm 1978


Nguồn: Giả bình Ao – Truyện ngắn. Vũ Công Hoan dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc trong Giả Bình Ao văn tập. NXB Văn học, 2003. Tái bản: 2005.







(1) Người độc thân, góa bụa, bệnh tật, tàn phế và già nua. (ND)



trieuxuan.info