Truyện ngắn
01.10.2014
Lê Văn Thảo
Đồng chí

Ba Tuấn về lán trại nói với bác Bảy, anh nuôi đại đội:


- Hôm nay bác cho tôi ăn cơm sớm, chút nữa tôi đi có việc.


Nói rồi ngồi xuống băng ghế ở nhà bếp, hút thuốc mặt tươi tắn rạng rỡ. Suốt mấy hôm rày Ba Tuấn đều vui như vậy, một niềm vui hơi khác thường: anh vừa được tin anh tham mưu trưởng mới đổi về là người đồng hương. Xa quê đã lâu, mọi kỷ niệm về làng quê đối với anh rất thiêng liêng quí giá. Bác Bảy lục đục nấu nướng, tiếng xoong nồi khua rổn rảng, Ba Tuấn nghe như một điệu nhạc vui. Anh vui vẻ nói vọng xuống:


- Hôm nay cho ăn gì đó, bác Bảy?


- Lại rau tàu bay thôi.


- Bác có biết tham mưu trưởng Thanh Quang mới đổi về không?


- Phải người cao rỏng rảnh, râu quai nón…?


- Đúng rồi, nó cao hơn tôi một cái đầu. Người đồng hương của tôi đó, cũng ở Cẩm Sơn. Hôm nay tôi lên trên đó gặp nó. Hai đứa tôi là bạn thân, nhà ở khít nhau, suốt ngày đi đâu cũng có đôi có cặp. Đây nè, cái thẹo…


Bác Bảy gật gù, nói theo kiểu người già:


- Ờ, cuộc đời kháng chiến rày đây mai đó, lâu lâu gặp được người đồng hương cũng vui.


- Lần đó tôi leo bắt ổ chim té từ trên cao năm sáu thước, Ba Tuấn cũng theo dòng suy nghĩ riêng của mình. Nó đứng dưới đất kêu thét lên chạy a tới đưa tay đỡ. Tôi bị té dập đầu, nó bị gãy xương ống tay, bó thuốc mấy tháng trời mới hết. Hai đứa đi bộ đội một lượt, về hai đơn vị khác nhau, đến nay ngót mười năm không gặp nhau…


- Bạn bè tâm giao còn hơn người cật ruột, bác Bảy nói, rồi bỏ đi xuống suối rửa rau.


Ba Tuấn trở về lều giăng võng nằm hút thuốc, ngẫm ngợi niềm vui riêng của mình.


Lát sau xuống bếp ăn cơm, cả một mâm chỉ có rau tàu bay, Ba Tuấn lại vui vẻ kể lể:


- Tôi xa quê ngót mười năm, làng xóm chỉ còn nhớ lờ mờ, bà con thân thuộc người nhớ người quên, nhiều đêm nằm không ngủ được, những mong gặp được người cùng quê, họ hàng hay không cũng được, được dịp ôn lại những kỷ niệm cũ, lòng nhớ thương khuây khỏa phần nào. Bác chưa đến Cẩm Sơn lần nào phải không? Nhưng bác có nghe nói tới chớ? Làng cặp bên bờ sông Cửu Long, đẹp lắm, dân tình chí thú mần ăn, nhà cửa khang trang đầu xóm cuối xóm, đi đâu cũng thấy vườn tược cây trái xum xuê. Cho nên tôi gẫm mình đi làm cách mạng…


- Ờ… Bác Bảy ừ hử cho qua chuyện, cũng đang trở về với quê hương của bác, một làng cũng đẹp đẽ trù phú như vậy, đất đai màu mỡ cây trái tốt lành, và chuyện cách mạng cũng không thua nơi nào.


- Tôi gẫm mình đi làm cách mạng vì cái chung cũng vì cái riêng, Ba Tuấn nói tiếp, không ngừng được. Năm xã tôi được giải phóng tôi mừng vô kể, ra đi bụng vui như mở cờ, từ đó đến nay ngót mười năm đi khắp các chiến trường không có dịp nào không hỏi thăm về làng xóm quê hương, làng xã ra sao mần ăn thế nào, ai còn ai mất. Nghe đâu có người đồng hương tôi lặn lội tìm tới, xa mấy cũng đi, trước hỏi thăm tin tức, sau hãnh diện với những người chung quanh làng mình có nhiều người đi kháng chiến… Chà, không biết thằng Quang bây giờ thế nào? Bác thấy nó thế nào, đầu đã có sợi bạc rồi hả? Ờ thì tôi đây cũng vậy, hai đứa cùng tuổi, nhưng nó giỏi giang hơn tôi, giờ đã cán bộ tiểu đoàn rồi. Sao nó biết tôi ở đây không tìm? Lúc nãy tôi nói với bác làng tôi khá giả là nói vậy thôi, chớ nhìn chung cuộc sống cũng cơ cực lắm. Còn thằng giặc làm sao sung sướng được? Đi khắp làng thấy nhan nhản quần còn lưng, áo còn bâu. Nên hôm chia tay chúng tôi dặn nhau: “Mình nghèo theo cách mạng phải cho chí cốt, sao khỏi xấu hổ với làng xóm quê hương”. Bác có nghe nói không?


Bác Bảy đã bỏ đi từ hồi nào, nghe tiếng xoong nồi khua loảng xoảng dưới suối.


Ba Tuấn và mau chén cơm cuối cùng, về lán mang ba lô đi liền. Trời trưa, nắng đẹp, ánh nắng dọi óng ánh trên khu rừng nứa. Gió thổi lá nứa khua lao xao. Ba Tuấn rạo rực nghĩ đến cuộc gặp mặt sắp tới, sau mười năm xa cách, càng rảo bước, hơn một tiếng đồng hồ tới tiểu đoàn bộ, đi suốt không ngừng nghỉ thấy mệt lả, thở hổn hển, mặt đầm đìa mồ hôi. Tiểu đoàn trưởng chạy ra lo lắng:


- Có chuyện gì không Ba Tuấn?


- Không…


- Mọi việc chuẩn bị tốt chớ?


- Tốt…


- Vậy mà coi anh… Thôi vô đây uống trà… À, có đồng chí tham mưu trưởng mới đổi về, xin giới thiệu…


Ba Tuấn tưởng tim mình sắp rớt ra khỏi lồng ngực. Trong lều còn có một người nữa, thằng Quang Cao Giò của anh, thằng bạn chăn trâu ngày xưa đang ngồi trước mặt. Hồi lâu, vẫn không dám ngước lên, Ba Tuấn nói:


- Phải Thanh Quang, Quang Cao…


Anh chưa nói được tiếng “Giò” chợt ngừng lại, thấy có cái gì đó không phải, rằng anh đã lầm. Và đúng như vậy. Anh ngẩng lên. Người ngồi trước mặt anh hoàn toàn xa lạ. Nỗi thất vọng làm anh nghẹn ngào.


- Đồng chí… cũng ở Cẩm Sơn?


- Phải.


- Sáu Quang phải không?


- Đúng rồi.


- Tôi cũng ở Cẩm Sơn, Ba Tuấn đây, Tuấn Rỗ đây.


- Tuấn à? Chà, nhiều Tuấn tôi không nhớ… Nhưng anh ở Cẩm Sơn nào? Hiệp Hòa hay An Nhơn?


Anh tiểu đoàn trưởng nãy giờ ngạc nhiên nhìn người này nọ, bỗng cười xòa:


- Thôi rồi, cùng xã Cẩm Sơn nhưng khác huyện phải không? Té ra thằng cha Ba Tuấn hớt hơ hớt hải lên đây là để tìm đồng hương, vậy mà làm như đang rượt giặc không bằng. Thôi không phải đồng hương thì là đồng chí, ở đây uống trà chuyện vãn chơi chút rồi về. Mà tối rồi lại sắp mưa về cái gì, ở lại ngủ luôn đi.


Anh tham mưu trưởng nhìn Ba Tuấn ái ngại:


- Ờ anh ở lại ngủ đi, sáng về sớm, lán tôi còn có chỗ giăng võng. Năm nào tôi cũng bị lầm như vậy, nước mình nhỏ đất hẹp nên tên làng tên xã cứ trùng nhau.


Ba Tuấn ngước nhìn ra ngoài trời âm u, lòng buồn se. Bao nhiêu điều lục soạn trong ký ức định thố lộ với người bạn thân, đành chôn vùi trở lại.


- Ờ ngủ lại thôi, anh nói. Chỗ anh còn trống hả?


Anh bưng chén trà uống tộp, hối hả bước đi ngay. Anh tham mưu trưởng đi theo sau nghe Ba Tuấn lẩm nhẩm chuyện chiến đấu, nào là “rào đơn, rào kép”, “xung kích một, xung kích hai”. Chắc để che giấu nỗi thất vọng trong lòng.


Mưa bắt đầu nhểu hột khi hai người về tới lán. Thanh Quang nói:


- Anh đưa võng tôi giăng. Lán anh tham mưu trưởng trước đây. Ảnh hy sinh ra sao vậy?


- Một đại đội bị bao vây, ảnh dẫn một trung đội đánh cắt vào chính giữa giải cứu.


- Lại cũng trường hợp đó. Anh Quang bạn cũ anh đó, giờ ở đâu?


- Không biết ở đâu, tôi không gặp nó từ lúc đi bộ đội.


Hai người lên võng nằm. Bên ngoài trời mưa lắc rắc, nhểu lộp độp trên mái ni lông. Trăng ửng trong mây, tỏa ánh sáng đùng đục xuống khu rừng nứa. Những thân nứa thẳng, mọc xiên, trong đêm rực rỡ dưới ánh trăng.


Hồi lâu Thanh Quang cựa mình hỏi nữa:


- Anh xa quê lâu rồi hả?


- Thì cũng từ năm đồng khởi, Ba Tuấn đáp. Chưa một lần về thăm quê.


- Nhưng chắc thỉnh thoảng nhận được tin, Thanh Quang thở dài nói. Còn tôi thì không, ngót mười năm bặt tin, không biết chút gì làng xóm quê hương. Vùng giặc mà! Chà, quê tôi… Làng Cẩm Sơn tôi cũng ở bên bờ sông Cửu Long, như làng anh, bốn mùa cây trái, ngót mười năm tôi những mong gặp được người cùng quê, gần thôi cũng được.


Ba Tuấn trùm kín tấm dù. Anh không còn thấy hứng thú gì nữa, chỉ thấy mỏi mệt, buồn ngủ. Bên ngoài thỉnh thoảng những tia chớp lóe lên soi rõ những lá nứa ướt nhẫy, trong cơn mơ anh nhìn thấy như những ngọn lê nhọn hoắt.


Thanh Quang vẫn chưa ngủ:


- Từ đó đến nay anh đã đi chiến đấu những đâu?


- Cùng trời hết. Bình Giã, Đồng Xoài tới Sông Bé, Nhà Đỏ Bông Trang, Tết Mậu Thân chạy về Sài Gòn.


- Tôi cũng có dự trận Nhà Đỏ. Anh đi cánh nào?


- Mũi đầu cầu.


- Tôi cũng đi cánh đó, để nhớ coi, không chừng mình đã gặp nhau.


Thanh Quang thức dậy bật quẹt đốt thuốc, vẻ thảng thốt. Qua ánh lửa Ba Tuấn nhìn kỹ người bạn mới: dáng người cao, tay dài, cuộn những bắp thịt chắc nịch, vai rộng, vai phải lệch đi… Ba Tuấn giật mình: có phải chiếc vai này không? Chi tiết như một tia chớp dẫn nhanh Ba Tuấn về trận đánh xưa cũ.


Năm đó Ba Tuấn là trung đội trưởng. Nổ súng rồi anh nhanh chóng dẫn trung đội chạy vào, đạn bắn ra như vãi trấu, các anh nhảy qua liên tiếp ba bốn vòng rào, hố sâu. Vài người té xuống hố chật vật mãi mới leo lên được. Không ai lên tiếng kêu, người chạy qua nhanh chóng vượt lên trước. Phải gấp rút nổ súng, hợp đồng với các mũi khác. Ba Tuấn dẫn trung đội tới bờ tường, sực nhớ không mang dây theo, đưa tay với thấy hụt cả tầm tay. Anh hô: “Trung đội leo lên vai tôi nhảy qua! Trung đội phó qua trước chỉ huy chiến đấu!”. Trung đội qua hết, Ba Tuấn không còn ai nhờ kê vai, ngó dáo dác tìm kiếm. Vừa lúc có người nhô lên khỏi đường hào, một cánh quân khác nào đó, không kịp nghĩ gì anh đưa tay ngoắc. Người chiến sĩ chạy đến. Ba Tuấn xô quì xuống đặt chân lên vai phải nhún người nhảy qua, nghe thấy có tiếng “rắc” nhẹ dưới chân, tiếng kêu “ối” đau đớn cả hai cùng té lăn. Ba Tuấn lồm cồm đứng dậy giận dữ chửi rủa, người chiến sĩ cũng tức giận không kém: “Muốn qua tường hả? Sao không nói trước? Vai phải tôi bị thương, bước lên vai trái nè!”. Anh chiến sĩ quì trở xuống, Ba Tuấn không còn nghĩ ngợi nữa, bước lên nhảy qua, nhanh chóng đuổi theo trung đội nổ súng…


Chuyện là như vậy. Chính chiếc vai lệch đó, đồng chí này đây! Ba Tuấn tỉnh ngủ hẳn, thức dậy đốt đèn dưới ánh mắt ngạc nhiên của người bạn mới. Ba Tuấn chẫm rãi nói:


- Anh còn nhớ trận đánh đó không?


- Nhớ rõ lắm.


- Nhớ trung đội leo qua bờ tường không?


- Nhớ…


- Biết ai leo lên vai bị thương của anh không?


- Anh hả? - Thanh Quang nhìn Ba Tuấn đăm đăm, giọng lạc hẳn đi - Phải anh đó không? - Im lặng một lúc lâu rồi Thanh Quang thở dài, giọng nhẹ như hơi thở - Hôm đó anh làm gãy xương vai tôi lần thứ hai, anh biết không?


- Tôi biết.


Hai người im lặng một lúc. Con tắc kè kêu từng tiếng buồn thảm. Trời đã dứt mưa, trăng lộ ra khỏi mây, sáng vằng vặc. Ba Tuấn tắt đèn nằm xuống nhưng không ngủ được, hình ảnh trận đánh xưa cũ hiện lên rõ mồn một. Phải, chính người bạn này đây, trong đêm tối không nhìn rõ mặt, không biết tên tuổi quê quán, đã chịu gãy một xương vai đưa anh vào trận đánh.


Thanh Quang cũng không ngủ, đốt điếu thuốc nữa rì rầm kể tiếp:


- Xương vai phải tôi bị gãy trận trước, đã lành nhưng còn yếu, đâu ngờ anh định nhảy qua tường, anh không nói trước, tôi cũng đâu kịp nghĩ gì, nổ súng rồi mình chỉ lo chạy tới thôi. Tôi không trách gì anh, anh nhảy qua tường rồi đi mất hút, tôi bị gãy một bên vai chỉ còn cách nằm lại bờ tường chịu trận, kêu anh em để lại thật nhiều đạn, bắn một tay nên chỉ có thể bắn từng phát một, nhằm vào những thằng gần nhứt. Cuối cùng tôi gần như kiệt sức, mắt hoa lên không còn nhìn gì được rõ ràng nữa, bỗng nghe tiếng anh từ xa: “Chiếm lại bờ tường, anh em mình chiếm lại bờ tường!”. Anh biết tôi bị thương nằm lại đó, đánh trở lại giải vây cho tôi, đúng như vậy không? Lúc đó tôi muốn nhìn mặt anh quá, nhưng anh đã đánh lên cùng trung đội, mất hút vào trận địa trước mặt. Phải như vậy không hả Ba Tuấn, tôi nhớ đúng như vậy không?


- Đúng.


***


Sáng hôm sau bác Bảy thấy Ba Tuấn về sớm, đồ đạc không mang trên lưng mà ôm kè kè bên hông. Bác Bảy vội đón hỏi:


- Về gấp vậy anh Ba? Gặp được bạn không? Nói chuyện suốt đêm chớ gì?


- Có gặp… Cũng chợp mắt được một chút…


Bác Bảy thấy Ba Tuấn đáp với vẻ thờ ơ, nhưng mặt mày xúc động tràn trề, tay cầm chén nước run run. Bạn bè tâm giao cỡ nào dữ vậy? Còn hơn năm ngoái bác gặp đứa em ruột, đứa em út bác đã cõng trên lưng suốt những năm cơ cực. Bác hỏi:


- Vậy là đúng người bạn đó hả? Người bạn nhà ở khít bên… cái thẹo…


Ba Tuấn vội đáp khỏa lấp:


- Không… Cùng ở bên bờ sông Cửu Long nhưng khác huyện… Nhưng chúng tôi đã có lần cùng nhau chiến đấu…


Ba Tuấn vội quay đi giở bản đồ, lần dò theo những lằn kẻ vạch dấu chấm xanh đỏ, tất cả đã nhàu nát, những địa danh mờ mịt chỉ còn có thể nhìn thấy trong tưởng tượng…


7 – 1970


(còn tiếp)


Nguồn: Lê Văn Thảo Tuyển tập. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

trieuxuan.info