Truyện ngắn
11.03.2015
Vũ Hùng
Vân

Sau hai cuộc chiến tranh, tôi gặp lại Tráng ở chợ An Đông, Saigòn. Bạn dẫn tôi vào gian hàng vải, giới thiệu một người đàn bà ngồi giữa những chồng vải nhiều màu, cao ngất:


 


- Đây là Vân, vợ mình!


 


Ngày ấy Vân đang ở tuổi bốn mươi.


 


Xưa người ta nói: "Trai ba mươi tuổi đang xoan, Gái ba mươi tuổi đã toan về già". Ngày nay, tuổi "đã toan về già" của người đàn bà lùi lại được hai mươi năm. Tôi muốn dùng hai tiếng được ưa dùng ở Việt Nam để nói về Vân lúc đó: trông Vân còn rất "phong độ". Vân xinh đẹp, tươi mát. Một người đàn bà đang sung sướng. Hạnh phúc nơi Vân, qua cặp mắt long lanh, khuôn mặt rạng rỡ, như toả sáng ra ngoài. Những ai đã qua một tình yêu trắc trở không khỏi nhìn nàng với đôi chút ước mong và khao khát số phận bạn tôi.


 


Tôi nói cảm tưởng đó với Vân. Vân bảo:


 


- Anh không biết đâu, nhiều lần em đã định tự tử!


 


- Vân định tự tử? Sao đến nỗi thế? Em mà chết thì... uổng quá!


 


- Ngày ấy em còn ở Hà Nội, ngoài bãi sông Hồng, chân cầu Long Biên. Nhiều lần ngồi trên bờ sông, nhìn làn nước đỏ ngầu, em đã định nhẩy xuống. Nhưng thấy nước xoáy dữ dội, em lại sợ bị sặc và nghĩ bụng: ngày mai mình sẽ chương phềng, người ta sẽ kéo xác mình vào bờ, phủ một manh chiếu rách, không ai nhỏ cho mình một giọt nước mắt, để mình thối inh lên rồi mới bó chiếu đem chôn. Nếu biết mình được chết sạch sẽ, có người khóc... thì có lẽ em đã tự tử rồi! Em sợ nhất là chết mà không được ai thương tiếc!


 


Sau ngày ấy, Vân đã kể cho tôi nghe về tuổi trẻ của nàng.


 


*


 


Ông Tửu, cha Vân, không được gọi là cụ Chánh vì tiếng gọi đó dành cho các chánh tổng, trông coi một vùng nhiều làng xã. Người ta gọi ông là ông Chánh mà thôi, ông Chánh Tửu, gọi theo tên con trai ông, vì ông chỉ là chánh hội của một làng. Ông thuộc lớp người có địa vị: lý trưởng, phó lý, chánh hội... Như họ ông cũng có nhà ngói, sân gạch, vài mẫu ruộng cho cấy rẽ, lấy tô và đôi chút chữ nghĩa: ông Chánh đọc thông viết thạo chữ quốc ngữ, biết dăm ba chữ nho, thuộc vài bài thơ của các cụ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị bên Tàu...


 


Nguồn gốc thì thế nhưng ông Chánh Tửu sớm giác ngộ. Ông nuôi cán bộ từ ngày Việt Minh còn "bóng tối" và tích cực tham gia mọi công tác kháng chiến. Anh Tửu, con trai ông, ngày cách mệnh mới thành công đã đi bộ đội, nay là lính của ông Văn Tiến Dũng* ở đại đoàn Đồng Bằng.


 


Hàng năm, vào dịp đóng thóc nuôi quân, ông Chánh Tửu góp hầu hết thóc lúa trong nhà. Lần nào bộ đội về làng, ông cũng nhận ít nhất là một tiểu đội đến đóng ở nhà ông, phục vụ ăn uống chu đáo. Huyện đã tuyên dương, xếp ông vào hàng nhân sĩ tiến bộ.


 


Nhưng... đó là chuyện ngày xưa, khi chính quyền cách mệnh còn "trứng nước", kháng chiến còn gian khổ. Nay thì khác: chính quyền đã vững, kháng chiến đang bước tới ngưỡng cửa thành công. Thắng lợi nắm chặt trong tay, đã đến lúc dẹp bỏ mọi lực lượng liên minh để nắm độc quyền lãnh đạo.


 


Đảng cử đội cải cách về làng.


 


Trong chớp mắt, mọi giá trị đều bị đảo ngược. Đột nhiên ông Chánh biến thành "cường hào ác bá hiện hành" (những tiếng kì quặc nhập từ bên Tàu về) có nợ máu với nhân dân.


 


Người ta cấm ông bà dự các buổi họp với dân làng, và gọi ông bà bằng thằng, bằng con: thằng cường hào Chánh Tửu, con mụ địa chủ Chánh Tửu... Các việc trước được tuyên dương thì nay bị kết tội. Yêu nước gì vợ chồng Chánh Tửu! Chúng cho con đi bộ đội để trốn đấu tranh, đóng nhiều thóc nuôi quân để đề cao uy thế, cho bộ đội tạm trú để dò xét tình hình báo cho Tây...


 


Đêm đêm, khi đám thiếu nhi cầm đuốc lửa đi diễu quanh làng, hô vang trong tiếng trống ếch: "Đả đảo địa chủ cường hào gian ác Chánh Tửu!" thì bà Chánh lại co rúm người vì sợ. Bà chỉ còn biết cầu Trời Phật và khấn vái cụ Hồ. "Xin cụ Hồ thấu cho chúng con! Lạy cụ đèn giời soi xét!... "


 


Bà không dám khấn to. Ngoài vườn, sau các bờ bụi, thể nào chẳng có người rình. Chỉ cần bà khấn to là ngay sớm mai đội sẽ biết.


 


- Con mụ địa chủ Chánh Tửu kia! Mày tưởng mày khóc lóc, kêu van lãnh tụ thì Đảng ta sẽ mủi lòng, xoá tội cho chúng bay hay sao?


 


Bà Chánh không ngớt lầm rầm khiến ông Chánh


 


càng rối ruột. "Không có lệnh cụ Hồ, ai dám làm những việc động trời này", ông tự bảo thầm.


 


Thỉnh thoảng bà Chánh lại giục chồng con:


 


- Lạy cụ đi ông! Cả cái Vân nữa! Nghìn người, vạn người khấn cụ, cụ sẽ sốt ruột mà thấu cho! Cụ thương dân như con như cháu, đời nào cụ bắt con cháu nhục nhằn thế này!


 


Biết rõ thân phận mình, ông Chánh không dám hi vọng cụ Hồ sẽ sốt ruột. Người ta bảo khi tập trung suy nghĩ về một người thân, có thể có mối giao cảm vượt không gian đem suy nghĩ của ta đến người thân đó. Nhưng giữa cụ Hồ và các ông bà Lý, ông bà Phó, ông bà Chánh..., những người mà lúc này cụ xếp vào loại "cưòng hào gian ác", kẻ thù của cách mệnh, của nhân dân thì đâu có sự thân thiết nào khiến cụ giao cảm mà sốt ruột và thương cho thân phận họ.


 


Tuy không cầu khấn nhưng ông Chánh cũng không ngăn vợ. Cứ để bà Chánh tin tưởng. Không có niềm tin làm chỗ bấu víu cuối cùng trong cơn hoạn nạn chết người này thì tuyệt vọng chừng nào! Vì thế ông lặng im.


 


*


 


Đội trưởng đội cải cách tự mình vận động Vân:


 


- Em Vân! Em là mầm non của đảng. Đảng tin tưởng ở em. Tình nghĩa của em với đảng phải ở trên tình nghĩa gia đình. Nghĩa đảng, tình dân. Một lời em tố giác vợ chồng cường hào Chánh Tửu có lợi cho đảng gấp mười lần những lời tố giác của người khác...


 


Vân tự hỏi phải xưng hô thế nào? Xưng em? Tiếng gọi ấy thân thiết quá, họ đâu xứng đáng! Xưng cháu, xưng con? Không được! Quỵ luỵ, hèn hạ quá! Vân đã được đi học tới Trung học, được thầy cô và bè bạn quý trọng ở trường.


 


- Thưa ông đội, thầy me tôi chưa đánh đập giết chóc ai để có nợ máu với dân. Nhà tôi nuôi cán bộ Việt Minh từ thời còn "bóng tối". Anh tôi đi bộ đội, ở đại đoàn Đồng Bằng, lính của ông Văn Tiến Dũng. . .


 


- Đừng nói nữa, em Vân. Những việc ấy, thực chất ra sao, đội biết hết rồi.


 


- Thưa ông đội, thầy me tôi oan. Nhà tôi nuôi Việt Minh... thời còn "bóng tối"... Anh tôi... đại đoàn Đồng Bằng... ông Văn Tiến Dũng...


 


- Kìa, em Vân! Đừng kể lể nữa mà! Đại đoàn nào, ông nào thì cũng dưới bác Hồ, dưới đảng. Em về suy nghĩ lại đi, đêm mai, đêm mốt trả lời anh cũng còn chưa muộn. Em là mầm non của đảng. Nghĩa đảng, tình dân...


 


Cuộc tra hỏi kéo dài, vẫn ngọt ngào. Khuya lắm Vân mới được thả về. Đêm rét mướt. Đường làng lạnh tanh như đường chết. Không ánh lửa trong những căn nhà tối om. Không một tiếng gà xao xác. Không tiếng chó sủa trăng.


 


Ông bà Chánh choàng dậy khi thấy kẹt của. Mọi khi cửa được cài then nhưng từ ngày đội cải cách về làng, cửa chỉ được phép khép hờ để dân quân ra vào kiểm tra cho dễ.


 


- Thưa thầy me, con đã về.


 


Nghe rõ tiếng Vân, ông bà Chánh mới yên tâm. Vân về giường, trong buồng. Có tiếng cót két của chiếc giường tre. Rồi im ắng. Không một lời trao đổi. Họ sợ ngoài kia vẫn có người rình.


 


Lâu lắm ông Chánh mới trở dậy. Ông vờ ra ngoài vườn đi giải. Ông rón rén đi một vòng quanh nhà. Không thấy gì, ông trở vào. Dù vậy, ông vẫn cẩn thận bảo vợ:


 


- Bà ra trông chừng ngoài vườn, cho tôi nói chuyện với cái Vân.


 


Hai cha con ông Chánh chụm đầu, thì thầm:


 


- Họ bảo con đứng ra tố thầy me, nhưng không bao giờ! Con chết thì thôi!


 


- Hay con cứ làm theo lời họ. Thầy me già rồi, có chết cũng không sao. Thầy me tha thứ cho con. Cốt là anh con và con sống sót.


 


- Thầy ơi! Không khi nào con phản thầy me! Thầy me làm gì nên tội?


 


- Ngày mai, nếu con vẫn từ chối, họ sẽ thay đổi thái độ với con. Chỉ còn một cách, con trốn ra Hà Nội. Thầy me đã già, làm gi cũng không kịp nữa! Nhưng các con còn trẻ, phải vượt qua thời cuộc. Ngày nào anh con về, con nói lại lời thầy. Thôi, ra gọi me con vào.


 


Bà Chánh trở vào. Ngay sau đó, bà bới cho Vân đôi khuyên vàng, tài sản duy nhất còn lại của gia đình mà bà chôn giấu trong góc buồng. Ông Chánh cho Vân địa chỉ của vài ba người bà con và căn dặn:


 


- Ngoài Hà nội người đông như kiến cỏ, chẳng ai biết ai, con sẽ tìm được chỗ nương thân. Đi ngay đi con, kẻo không kịp. Bao giờ yên ổn, thầy me nhắn con về.


 


Bà Chánh thổn thức. Ông Chánh dặn thêm:


 


- Dù mọi việc kết thúc ra sao thì các con cũng quên đi để mà chuyên tâm vào việc làm ăn. Đừng nghĩ đến thù hận. Thù hận dai dẳng mà đời người thì ngắn. Bao giờ anh về, con giúp cho anh. Nó đi bộ đội từ lúc mới lớn, chỉ quen trận mạc, thầy lo ngày về nó lúng túng.


 


Bà Chánh nén khóc:


 


- Đêm đêm con đừng quên cầu Trời Phật, gia tiên phù hộ cho anh con. Con thành tâm thì linh nghiệm, anh con sẽ trở về.


 


Trong bóng tối, tay Vân lần tìm và nắm chặt lấy tay ông bà Chánh:


 


- Con xin ghi nhớ lời thầy me.


 


Nửa đêm, giữa lúc dân quân và các cốt cán bần cố nông xúm quanh đống lửa trong các điếm gác, Vân trốn khỏi làng. Nàng băng qua những cánh đồng giá buốt, những bãi tha ma...


 


*


 


1955.


 


Dù Hà Nội "người đông như kiến cỏ" nhưng chẳng ai dám chứa chấp Vân. Bà con và những người quen biết ông Chánh lén lút cho Vân một bữa ăn, một chút tiền rồi giục Vân đi khỏi cho mau. Có một sự phối hợp rất chặt chẽ trong guồng máy: công an thường đột ngột kiểm tra các gia đình để tìm người không có hộ khẩu. Từ nông thôn, những người ấy trốn cuộc cải cách sắt máu ra thành phố. Lập tức họ bị giải về quê quán cho bần cố nông tiếp tục đấu tố.


 


Đã một năm, Vân lẩn trốn khắp Hà Nội. Làm sao mà Vân qua được những cuộc săn lùng liên tiếp, chính Vân cũng không hiểu. Đôi khuyên vàng bán đi, tiêu đã hết. Đói khát, rách rưới. Đôi lúc Vân gặp người dưới quê, nhưng lần nào cũng chỉ nghe những tin khủng khiếp. Cha chết! Rồi mẹ chết! Người anh chết trận!


 


Bữa nay, lại lang thang như mọi ngày. Vân đến Chợ Hôm. Rồi đường Trần Nhân Tôn và đầu công viên Thống Nhất. Một bóng đàn bà đi trước, nón nghiêng che mặt. Vân nhận ra một dáng quen quen, vội rảo bước đi theo.


 


- Chị Sương! Ô kìa chị Sương!


 


Ngưòi đàn bà quay lại rồi hạ nón xuống:


 


- Kìa Vân! Vân ơi, sao lại gặp em ở đây?


 


Hai chị em từng học cùng trường, ngày ấy tản cư trong một làng quê của tỉnh Hưng Yên. Sương là gái Phố Hiến. Nàng đẹp, chẳng thua gì một thiếu nữ đẹp của Hà Nội. Nhìn Sương, câu ngạn ngữ thời Lê Trịnh như còn vang vọng: "Thứ nhất Kinh Kì, thứ nhì Phố Hiến"...


 


Dạo ấy, Vân mới học đệ nhị nhưng Sương đã sắp thi Trung học. Kháng chiến bước vào năm thứ hai mà Sương vẫn mặc áo dài. Các thầy, hiệu đoàn, bè bạn, không ai chê trách: ngày đầu kháng chiến người ta sống cởi mở, chan hoà. Sương bảo: thi xong Trung học Sương sẽ bỏ áo dài và vào trường Quân y, mặc đồ bộ đội. Cả trường truyền nhau câu nói đó của Sương...


 


Vân nhìn Sương, ngạc nhiên:


 


- Sao chị lại ăn mặc thế này? Em vẫn nhớ lời chị ngày xưa, lúc nào cũng đinh ninh khi gặp lại sẽ thấy chị trong bộ quân phục với huy hiệu Hồng thập tự đỏ tươi trên ngực.


 


Sương ăn mặc nghèo nàn, mới đó mà vẻ đẹp đã phai. Những nét phong sương sớm hiện trên mặt. Chiếc áo nhàu nát. Chiếc quần thâm đã bạc màu.


 


Sưong ngậm ngùi:


 


- Em còn nhớ cả những chuyện ngày xưa! Chị quên mất rồi!


 


Hai chị em ngồi xuống chiếc ghế ven đường. Sương hỏi:


 


- Sao chị lại gặp em ở đây?


 


- Họ quy nhà em dịa chủ. Em đi trốn. Người ta bảo thầy em chết rồi! Me em cũng chết rồi! Anh trai em chết trận! Nhà cửa thì bị tịch thu! Gia đình chỉ còn mỗi mình em. Trước lúc em đi, thầy me em bảo Hà Nội có chỗ nương thân mà em tìm không thấy! Còn chị?


 


- Chị cũng chẳng khác gì em, Vân ơi!


 


-Sao chúng mình khốn khổ thế này!


 


Nhìn vẻ xanh xao bơ phờ của Vân, có kinh nghiệm của người đã từng đói khát, Sương biết phải làm gì cho Vân.


 


- Ôi, chị vô ý quá! Chờ chị một lát, Vân nhé!


 


Sương bỏ đi. Khi quay về, nàng đưa cho Vân một gói lá sen. Vân đón nhận không chút khách sáo, mở ngay ra. Mùi xôi đượm mùi lá sen ngào ngạt.


 


- Em đói! Ồ! Lại cả miếng chả nữa này! Vân khe khẽ kêu.


 


Nàng ăn ngấu nghiến. Hoàn hồn rồi Vân hỏi:


 


- Chị làm gì có tiền mà cho em ăn sang thế?


 


- Đôi khi chị cũng kiếm được tiền.


 


- Chị làm cơ quan nào, cho em theo với? Em đang nguy quá, tiền mang theo tiêu hết lâu rồi, em chưa biết sống bằng gì!


 


- Bọn mình thì cơ quan nào nhận? Mọi con đường đều đã bị bịt kín. Muốn đi buôn thúng bán mẹt như ngày xưa cũng không được! Thế nhưng đàn bà cũng còn cách để kiếm ra tiền...


 


- Cách gì hả chị? Bảo em đi!


 


- Em không theo được đâu! Em còn trẻ, em phải tìm một con đường khác.


 


- Cho em biết đi, chị! Em đang nguy quá!


 


- Không! Em phải tìm một con đường khác.


 


Vừa nói, Sương vừa mở chiếc túi khâu bên trong lần áo, rút ra tất cả những gì nàng có, đặt vào tay Vân. Vân cúi nhìn:


 


- Sao nhiều thế này, chị ơi! Cho em hết thì ngày mai chị sống bằng gì?


 


- Rồi... chị lại có. Chị lo liệu được...


 


Vân đã đoán ra:


 


- Em không lấy đâu! Khổ thân chị!


 


- Cầm lấy, em! Đừng từ chối! Để chị đưa em ra gửi


 


người quen ngoài bãi sông Hồng. Ngoài ấy công an ít kiểm tra. Đất bãi nhiều cua, em sắm một gánh bún riêu, sống tạm. Công việc ấy không khó khăn nặng nhọc, người đàn bà nào cũng biết làm.


 


Lâu lắm rồi Vân mới lại khóc. Sương lấy tay áo thấm nước mắt cho Vân:


 


- Thôi! Lau khô mắt đi em, để quên hết mà làm lại.


 


Nhưng rồi Sương ngừng tay. Nàng thì thầm:


 


- Chị cũng nhiều lần muốn quay về cái nghề giản dị ấy mà không nổi. Chị hư hỏng quá!


 


*


 


Nhiều lần Vân đã định chết vì cô đơn, vì hận. Nhưng bên gánh bún riêu của Vân ngoài bãi sông Hồng, Vân đã gặp Tráng. Ngày ấy, ở chiến trường Lào trở về, Tráng rơi vào một hoàn cảnh hệt như Vân: gia đình Tráng cũng đã tan tác trong cải cách. Họ lấy nhau, xa lánh quê hương, vùng đất đã trở thành dữ dội, cùng nhau làm lại từ đầu và đã xây dựng được một cơ nghiệp nho nhỏ trong Sàigòn.


 


Đoạn đời sau của Vân là đoạn đời hạnh phúc. Vân nghĩ đến Sương. Tôi được tin Tráng đã thay Vân ra đón Sương ngoài Hànội. Làm ơn không mong đền đáp, chắc Sương đã quên, nhưng Vân thì không.


 


Sương đã lấy chồng, một người bạn của Tráng. Chỉ là hạnh phúc muộn màng nhưng họ sống êm đềm. Được Vân và Tráng giúp đỡ, họ mở một quán ăn nhỏ nơi quận Bình Thạnh.


 


Người lính của đại đoàn Đồng Bằng năm ấy đã không trở về, dù Vân ngày đêm cầu nguyện. Những ai còn lại, họ chỉ là những người bình thường và tay không, đều đã vượt lên trên thời cuộc. Họ được số phận đền bù. Số phận, từ trước vẫn bị coi là mù loà bất công, trong trường hợp của họ, đã tỏ ra sáng suốt, công bằng.


 


Có một thời, lòng thù hận rất được đề cao, ngay giữa người Việt với nhau: "Căm thù giai cấp là tiêu chuẩn hàng đầu của đạo đức cách mệnh!" "Căm thù là sức mạnh!"... Nếu những người bị ngược đãi như họ̣ có nuôi lòng thù hận thì cũng là tự nhiên. Nhưng đeo đuổi thù hận thì dễ, quên mới khó. Quên để tâm hồn bình an trở lại, để giải toả cho các thế hệ mai sau.


 


Ngày nay, họ sống một cuộc đời bình dị như những người khác. Mọi chuyện ngày xưa đã được lãng quên.


 


VH.


Nguồn: Rút từ Đò trăng. Tập truyện ngắn của Vũ Hùng viết và in tại Pháp sau năm 1990. www.vu-hung.com


____


 


*Chính uỷ đại đoàn Đồng Bằng (tiền thân của sư đoàn 320), sau là Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

trieuxuan.info