Truyện ngắn
29.11.2018
Vũ Hạnh
Đất và Nước


Hai cha con ông Tư Toàn thấy bóng của mình thu gọn dưới chân và nghe mồ hôi chảy ròng trong lớp áo mỏng. Giữa vạt đất bị ủi phẳng chỉ có đó đây những đám cỏ Mỹ tua tủa mọc dày, ông Tư chăm chú soi tìm, đôi mắt già nua có lúc bị nhòe nhoẹt đi, không còn nhìn rõ chung quanh. Thỉnh thoảng, ông phải nhắm mắt khá lâu, nghe tiếng rì rào của những lá cỏ phất phơ trong ngọn gió trưa hâm hấp sức nóng như tiếng thì thầm đâu đó của những con người giấu mặt… Vẫn sự im lặng nặng nề, mênh mông vây bủa, im lặng đầy sự đe dọa trong nỗi đợi chờ. Không một bóng người nào khác, không một tiếng chim, nhưng trong sự hoang vắng đó ông Tư hiểu rằng vẫn luôn có mặt một cuộc sống khác, cuộc sống lẩn khuất nhưng đang sôi sục căm thù, cuộc sống tưởng như tê liệt nhưng thật vô cùng tinh nhạy, có thể phút chốc trở nên quyết liệt một cách không ngờ.


Hơn hai giờ rồi, dưới cái nắng xuân đã sớm trở thành gay gắt, cha con ông Tư lang thang trên vạt đất này. Bên trong là căn cứ Đồng Dù, sau ngày quân Mỹ rút đi chỉ còn lưu lại những bao cát nhỏ, mấy tấm vỉ sắt, vài thùng "phuy" bị móp méo, những vòng thép gai lỏng chỏng bên vỏ đạn pháo rải rác trên mặt đất liền. Sự uy hiếp được tháo gỡ, nhưng không khí chết chóc còn ám ảnh. Nhiều lần ông Tư bảo con:


- Nè Tấn, xem có phải chỗ này không?


Và đứa con ông, sau vài giây phút đảo cặp mắt nhìn ngơ ngác, vẫn đáp:


- Biết sao được, cha? Chỗ nào cũng giống chỗ nào.


Quả thật, trong sự bằng phẳng và trơ trụi này chỗ nào cũng giống y hệt như là chỗ nào. Rừng cao su đã biến mất, khu rừng chồi cũng không còn. Cả cái truông dài thấp sâu chạy dọc bìa rừng, vòng vèo quanh các xóm nhỏ có những lùm tre xanh ngắt, những cây mít lớn, những vườn chuối rậm đã bị xóa sạch. Cũng xóa sạch theo là những mồ mả tổ tiên và biết bao người thân thuộc đã gởi xương tàn dưới mảnh đất này. Chúng đã bao vây, bắn giết, rồi xúc hàng loạt con người đưa lên trực thăng, đổ về Bến Cát, Bình Dương, đẩy ra Trung Hòa, ném xuống Hóc Môn… Chúng đã đốt sạch, phá sạch, cho đám xe ủi càn bừa, xóa hết những gì còn muốn nhô lên trên những địa hình nổi danh bất khuất của vùng Củ Chi đất thép. Và dầu rút khỏi đồng dù, chúng vẫn có mặt quanh đây với những tham vọng man rợ, điên cuồng.


Chỗ nào cũng giống như là chỗ nào, câu nói của đứa con trai lảng vảng trong mớ suy nghĩ của ông Tư Toàn, câu nói đầy vẻ thờ ơ của sự mệt nhọc, chán chường. Sự hời hợt của tuổi trẻ có thể trở thành đầu mối cho sự thoát ly khỏi những ràng buộc chính đáng ở trong cuộc sống, từ đó dẫn dắt đến sự phản bội. Ông Tư lờ mờ cảm nhận điều đó và lần này ông gắt lên:


- Hãy mở mắt ra soi từng bụi cỏ, gốc cây, chớ tìm dớn dác như mày thì thấy được gì!


Ông cúi gập xuống, như dán mắt vào mặt đất, ít nhiều giận dỗi vừa qua làm cho cái nhìn được sáng hơn lên tưởng có thể đếm từng bụi màn chầu, từng cây cỏ chỉ, thấy hằn trên đất những mầm vừa nhú của loài mắc cỡ, những cái đọt non của về sam đất và những bông trắng li ti của nhánh rau diệu đã cỗi cằn rồi.


Đột ngột, ông dừng lại, cúi gần trên một chồi nhỏ loe hoe mấy lá tăn tiu, rồi ngồi bệt xuống, lấy tay sục sạo đào tìm trong đất dưới cái chồi cây.


- Này Tấn, xem có phải lá bằng-lăng không con?


Tấn quỳ trên đất, cúi nhìn, đưa mấy ngón tay mân mê chiếc lá:


- Đích thị bằng-lăng cha à.


Tấn tưởng như hiểu được ý cha mình. Anh đảo cặp mắt nhìn rộng chung quanh, thấy một vẻ gì lạ lẫm, rồi nói:


- Ngày xưa, bên mộ của nội cũng có cây bằng-lăng lớn.


Ông Tư khẳng định:


- Cha nghĩ là ở đây rồi. Bây giờ cảnh trí đã bị ủi phẳng, cào bằng nên trông khác lạ. Nhưng từ cây này nhìn lên thấy ngay vạt ruộng của cố để lại kia kìa. Khoảng cách từ đây chạy lên mé đồng đúng là khoảng cách ngày trước. Không ai có thể cào, ủi được cái khoảng cách. Nếu quả như vậy, thì mộ của nội là ở đằng này…


Ông Tư bước lui độ ba sãi chân, rồi đứng chựng lại như xác định một vị trí.


- Ở đây, con à. Mộ của nội con nhất định ở đây.


Trong lời nói nhẹ nhàng đó có một vẻ gì kiên quyết như một niềm tin không thể chuyển dời. Ông tiếp:


- Ngày xưa, khi cùng với cha lên đồng, nội con đã dừng lại đây và bảo khi ông qua đời, hãy chôn ông ở nơi này. Cha đã làm theo lời dặn bảo ấy. Đất này nằm ở triền cao có thể nhìn được quán xuyến đồng lúa trước mặt. Còn cây bằng-lăng to lớn, nằm chếch phía trước, có thể rợp bóng lên mồ che được ánh nắng ban chiều.


Tấn hình dung lại người nội thân yêu, con người nông dân bình dị trọn đời sống trong lam lũ và sự ngay lành, không có ước vọng nào khác ngoài no ấm và bình yên. Nội đâu lường được sẽ có chiến tranh và nội đã phải cầm súng làm người du kích kiên quyết bảo vệ xóm làng chống bọn xâm lăng, cũng không ngờ được đến thi thể mình – lúc đã ngã xuống trên đồng ruộng lúa thân yêu – cũng không toàn vẹn. Như hầu hết các thế hệ trẻ, Tấn luôn thấy mình ít nhiều có sự cách biệt đối với mẹ cha nhưng thật gần gũi đối với ông bà, và những kỷ niệm về các bậc trưởng thượng này luôn làm xao xuyến lòng anh mỗi khi gợi lại.


Thấy cha xoay người loay hoay lấy ngón tay trỏ vẽ một vòng tròn rộng lớn trên đất, Tấn hỏi:


- Giờ mình thắp hương cho nội, nghe cha?


- Đâu được, mới phỏng chừng thôi, nào biết đích xác nội nằm chỗ nào.


Rồi ông đứng lên:


- Con nè, các giếng trong xóm chắc bị giựt sập, lấp bằng cả rồi. Mà còn có giếng cũng không còn người, cũng chẳng có dây có gàu gì ráo. Bây giờ thế này: cha con ta chạy lên chỗ mé đồng, có những mội nước nhỉ ra từng vũng, mình lấy nón lá múc đem về tưới chỗ này cho lan rộng ra… Phải làm gấp đi, con à.


Tấn hiểu ý cha trong cái sáng kiến múc nước đổ lên triền dốc, và anh thấy cần tranh thủ thời gian để tránh khỏi những tai nạn khó lường: sau giấc nghỉ trưa, các máy bay địch thường đến đảo lượn thả bom xuống vùng "tự do oanh kích", và lúc chiều xuống những trọng pháo địch rót về, từ phía Trung Hòa, Bến Cát, Trảng Bàng… Trong lúc ông Tư lấy nén hương bọc trong gói giấy dầu để trong lớp áo và cái hộp diêm đặt vào bụi cỏ thì Tấn chạy vội về phía mé đồng. Đó đây, những vũng nước nhỏ, trong leo lẻo, từ nơi lòng đồi ri rỉ chảy ra. Anh lấy nón múc vừa đủ, cho khỏi tạt ra dọc đường tất tả. Ông Tư Toàn cũng đã tới, lật đật lấy nón vục vào trong nước:


- Cha cứ nghỉ đi. Để mình con làm được rồi.


- Tao phải phụ lực với mày cho kịp cái giấc trưa này.


Phơi đầu dưới nắng, cả hai loạng choạng ôm cái nón nước trước ngực, cố tránh tạt đổ ra ngoài, nhưng vẫn không ngăn khỏi nước sóng sánh tưới ướt cả người.


Những nón nước liên tiếp dội xuống, chảy theo triền dốc thoai thoải, có nơi thấm nước khá mau in vết rõ đậm trên nền đất trắng. Hai cha con vẫn không ngừng tưới tắm mảnh đất, mồ hôi nhễ nhại hòa chung nước vũng, hơi thở dồn dập theo những bước chân hối hả.


Cuối cùng, điều họ mong tìm đã lộ hiện ra. Trong vạt đất ướt hiện lên khá rõ một khung chữ nhật khá lớn. Vòng tròn mà ông Tư vẽ không còn dấu vết, nhưng sự đoán định của ông không mấy cách biệt với nơi tìm kiếm. Đất nơi mộ huyệt không còn dẽ dặt như lớp đất đồi vây bọc quan tài, nên đã hút được nhiều nước, nổi đậm màu hơn mặt đất chung quanh.


Dầu đã đợi chờ sự xuất hiện này, nhưng khi nó nổi rõ ở trước mặt ông Tư vẫn thấy xúc động gần như sững sờ. Tấn cũng đứng lặng nhìn khung đất sẫm tưởng như gặp lại người ông kính yêu, gần gũi thuở nào. Anh bỗng thấy mình thương nội một cách quay quắt. Tội nghiệp, đến một nấm mồ cũng không toàn vẹn, và phải tìm đến trong sự lén lút, giữa những phập phồng và nỗi hồ nghi. Chiến tranh không chỉ làm thiệt đến những người sống mà còn giày vò cả đến người chết.


Ông Tư lặng lẽ tiến đến bụi cỏ rút lấy nén hương rồi xoay lưng lại phía gió để quẹt diêm đốt. Xong, ông thành khẩn đến cắm ở đầu mộ, rồi đứng chắp tay, lâm râm những lời tạ lỗi về những sơ suất của ngày tảo mộ, cầu mong cho người khuất bóng yên nghỉ nơi chốn suối vàng, phù hộ cho gia đình ông mạnh khỏe, vượt qua khổ nạn chiến tranh, sớm tìm gặp được hòa bình… Người sống vẫn thường đòi hỏi quá nhiều ở nơi người chết.


Sau phút tưởng niệm, ông ra dấu bảo Tấn đến. Anh nhìn làn khói lượn lờ tan dần trong nắng và thấy, qua đó, một sự liên lạc hữu hình với người quá cố. Sáng nay, rời nhà ra đi anh không thấy lòng hăng hái dầu yêu thương nội vô cùng, vì anh nghĩ rằng trong những căng thẳng, bộn bề của một cuộc sống bất ổn, quay tìm một nấm mồ cũ giữa những hiểm nghèo là việc chưa đáng phải làm. Nhưng sau những sự dò tìm và sự tìm gặp, bây giờ đứng trước khung đất sẫm màu, anh thấy mình đã thất lễ đối với người ông, và anh nghẹn ngào. Cháu không cầu xin gì ở nội cả, chỉ mong nội được nằm yên trong giấc ngàn thu. Nhưng những lớp người trong thế hệ cháu xin sẽ gắng hết sức mình để những nấm mồ của những người mình yêu thương, và của đồng bào, phải được vĩnh viễn an lành…


Khi anh ngước lên, ông Tư đã tiến đến gần mé đồng. Giây lát, ông đã trở về với nón nước đầy. Không đợi con hỏi, ông hào hển nói:


- Phải tưới cho nhánh bằng-lăng nó sống, con à.


Rồi vừa tưới đều quanh những chiếc lá tăn teo, ông dặn dò con:


- Ta chưa thể đắp lại được nấm mồ cho nội, nhưng con hãy nhớ cho kỹ chỗ nội con nằm. Ngày nào hòa bình, đừng quên xây đắp trở lại và dựng mộ bia. Cha không chắc gì còn sống được lâu trong buổi loạn ly, nhưng nếu một ngày nào đó, được nằm bên nội thì cha sẽ rất vui lòng.


Nghe lời cha nói, Tấn cảm thấy được sâu xa những mối ràng buộc giữa người đã khuất và người còn sống, hiểu rõ hơn sự liên hệ giữa đất và nước qua một khung hình chữ nhật của cái mộ huyệt đang nằm lặng yên cho đến thiên thu.


1989


VH.


Rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh, tập 1. Triệu Xuân tuyển chọn. Bản thảo do nhà văn Triệu Xuân biên tập hoàn chỉnh từ năm 2006. Từ năm 2006 đến 2010, NXB Văn học đã ba lần cấp Giấy phép xuất bản, cả ba lần, những đối tác nhận đầu tư in ấn đến phút chót đều “chạy làng”! Năm 2015, bản thảo này đã được xuất bản bởi NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thành ủy TP Hồ Chí Minh đầu tư in ấn.


www.trieuxuan.info


trieuxuan.info