Truyện ngắn
15.05.2009
Vũ Thanh Lịch
Tiếng hát phế nhân

“Chúng ta đi ra từ sự hoan lạc của tình yêu hay sự cưỡng đoạt của những đam mê nhục thể… điều đó không quan trọng, quan trọng là ta đã có mặt trong cuộc đời với một thân phận mà ta không có quyền được chọn lựa vì thượng đế đã sắp đặt sẵn. Và nếu Người muốn chúng ta đi đâu về đâu thì cuộc đời chúng ta sẽ là như vậy!”.


Xuất giá tòng phu


Phu tử tòng tử


Chồng em ruồng bỏ


Con em không có


Em “tòng” về đâu?


Âu… ớ… âu… ầu… ơ… ầu…



Tiếng lão Vệ lại rên rỉ. Giọng hát khàn đặc của lão cứ cất lên là người khác phải chú ý. Chuỗi âm thanh lão phát ra, tiếng hát lão đang cất lên đã ám đặc muội khói thuốc lào, lại cộng thêm tiếng bập bùng, lật phật của cây đàn bầu tự chế bằng mảnh luồng bánh tẻ, một sợi gân trâu với cái cóng bò rỉ thành ra lão hát mà như khóc. Tiếng khóc có thêm tiếng nấc nghèn nghẹt của cây đàn. Bao nhiêu người dân ở làng đã quen với tiếng hát rên rỉ của lão, tiếng hát kéo lê từ đầu ngòi đến cuối chợ, tiếng hát dù đã nghe quen lắm rồi vẫn khiến người ta phải chạnh lòng, hay ít nhất, cũng khiến những kẻ vô tình đi vút qua phải chặc lưỡi: Khổ, trời còn đày lão đến bao giờ!!!


Chả biết trời có đày lão hay không…


Chả biết có ai đày lão hay không…


Chả biết…



“Chúng ta đi ra từ sự hoan lạc của tình yêu hay sự cưỡng đoạt của những đam mê nhục thể… điều đó không quan trọng, quan trọng là ta đã có mặt trong cuộc đời với một thân phận mà ta không có quyền được chọn lựa vì thượng đế đã sắp đặt sẵn. Và nếu Người muốn chúng ta đi đâu về đâu thì cuộc đời chúng ta sẽ là như vậy!” Lão tin thế. Lão nghĩ thế. Và lão hát lên bằng tất cả những rung động, tan chảy, khát cháy về những thân phận, những cuộc đời như thế.


Trong đôi mắt thẳm sâu phủ đầy khói thuốc của lão, dưới lớp sương mù đang bủa vây trong con ngươi già nua của lão, là một đường viền bằng nước lờ lờ như máu cá, loét nhoét xung quanh bờ mi rúm ró mà không sao trào ra được. Lão đã bao nhiêu tuổi rồi? Lão già lắm. Lão đã chứng kiến bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời ở ngôi làng nhỏ bé nằm lọt thỏm giữa hai cái bãi tha ma này. Lão giơ ống tay áo, quệt ngang mặt. Rồi lão cười khùng khục. Ánh mắt lão không nhìn vào đâu. Lão cố che giấu, vùi lấp những cảm xúc đang sầm sập đổ xuống tâm hồn. Từ nhỏ đến giờ, đã có ai chấm nước mắt cho lão bao giờ đâu, trừ người ấy, người đàn bà có đôi bàn chân kỳ dị, đôi mắt sâu và cái mũi cao dài. Lão để mắt mình rơi vào hư vô. Đôi tay run run, lão lại kéo tiếp sợi gân trâu trên cây đàn tự chế và lục khục hát. Những lời hát của lão cứ trôi từ bến sông này đến bến sông kia, từ đầu làng này đến đầu xóm nọ. Lão hát và trong đầu lão lại mồn một hiện về những hình ảnh tưởng đâu như đã là sương khói…



Vào một ngày cuối đông, những cơn gió lạnh muộn mằn cau có gạt từng cánh hoa trứng cá li ti thả xuống lớp sân gạch đỏ au phủ rêu lớp nhớp, chàng Vệ mồ côi dẫn về nhà ông chú họ của mình một cô gái tóc kết đuôi sam hoe vàng, môi hồng mím chặt, má lúm đồng tiền, cái mũi cao lênh khênh và đôi mắt xanh màu ngọc. Cô bé mặc chiếc váy đụp, thắt đáy lưng ong, chân đất. Ông chú ngồi bên sập gụ tủ chè, những thứ đồ mà chỉ nay mai thôi, ông sẽ phải nộp cho chính quyền xã. Không nói không rằng, ông chú nhướn mắt nhìn cô gái từ đầu đến chân. Ánh mắt như có tia lửa điện dò xét trên khắp hình hài cô gái. Ông dừng lại ở đôi bàn chân kỳ lạ. Đôi bàn chân có những ngón dài nghiêng ngả, những đốt ngón chân thô ráp khúc khuỷu, hai ngón cái bẻ quặt về phía những ngón con trông lạ lùng hết cỡ. Ông nhấp ngụm nước chè rồi nhổ toẹt xuống nền nhà, hỏi giật cục:


- Tên gì?


Cô bé run bắn, tay vân vê gấu áo đã rách tả tơi, ấp úng:


- Dạ, con …


Vệ nhanh nhẩu đỡ lời:


- Cô ấy là Lu-i-ra, là…


- Cút…út…t…t…t!


Ông chú đập tay xuống bàn rồi xỉa thẳng ra cửa. Hai cô cậu giật bắn mình cun cút lui ra. Lu-i-ra vấp phải cái bậu cửa cao ngã dúi dụi. Cô bé lật bật đứng dậy và lao vút ra đường. Đất trời loang lổ những vệt xanh đỏ tím vàng trước mắt. Vệ đuổi theo cô bé, vẫn nghe sau lưng mình tiếng gào rít qua kẽ răng:


- Mày theo cái loại nửa người nửa ngợm ấy thì đừng có mò mặt về cái từ đường họ Phạm này!


Cô bé chạy nhanh, băng qua cánh đồng làng, qua bãi tha ma, chạy dọc triền sông đầy những dây tầm ma và dứa dại. Vệ ra sức gọi. Càng gọi, cô bé càng chạy nhanh, chạy như ma đuổi. Cô nhập vào đàn trâu đang hì hụp vượt sông để leo lên ruộng đay bờ kia. Khi mắt Vệ tìm bới trong đàn trâu đen nhẫy thấy bóng áo nâu nhễ nhại ngoi ngóp thì cũng là lúc bọn tề ập đến gô cổ anh lại bằng sợi thừng trâu nhớp nhúa. Phía bên kia sông, những ruộng đay xanh miết đã vùi lấp cô gái khỏi tầm nhìn nhoè nước của chàng trai hai mươi tuổi đang quẫy đạp trong cuộn thừng siết ráp.


 Đến một bãi cỏ lô nhô những đống phân trâu khô xác. Lu-i-ra ngồi phệt xuống, tiếng khóc vỡ tung trong vòm ngực nhỏ bé, yếu ớt của cô gái mười bảy tuổi. Bãi đất này, ruộng ngô này, cách đây mười bảy năm nó là ruộng đay xanh mướt mát. Những gốc đay được chăm bẵm bằng máu xương và nước mắt của những người dân khốn cùng trong làng. Chính nơi này, mẹ cô đã bị một thằng giặc khốn kiếp vùi lấp đến nhẫy nhụa, tả tơi. Cũng chính nơi này, một chiều mùa đông xám xịt, người đàn bà bất hạnh ấy quằn quại quẫy đạp trong cơn rứt ruột hoài sinh một con bé chẳng phải tây chẳng phải ta. Trong nỗi đau đớn tột cùng ấy, bà thấy thấp thoáng một bóng người đang tiến đến gần, càng lúc càng gần, bước chân chậm rãi và nhẹ nhàng, bà lịm dần trong hơi thở gấp gáp, dồn dập. Tiếng oe oe cất lên khiến bà bừng thức, cơn đau cuộn xé bị gió thổi vụt về phía sau, đôi môi nhợt nhạt nở một nụ cười mãn nguyện. Bà giơ tay đón đứa bé đỏ hỏn giữa chiều đông tê tái, trên đôi bàn tay thô ráp phủ một lớp lông lơ thơ đen sẫm. Bà ngước mắt nhìn vị ân nhân của mình, mấp máy cảm ơn… Nhưng trước mặt bà là ai kia? Một con người cao lớn, đôi mắt xanh và khuôn mặt phủ kín râu đến tận cằm, chỉ nhô ra cái mũi đỏ nhọn hoắt... Những ám ảnh đau đớn kinh sợ về thằng giặc khốn kiếp hôm nào bất ngờ đổ ập xuống tâm hồn bà, bà hét lên “Lui iii raaa…” rồi ngất lịm. Những hơi thở cuối cùng phả vào mặt người đàn ông rát buốt. Ông ta cởi tấm áo rằn ri cứng cạu của mình bọc lấy đứa trẻ. Bằng tất cả mọi cố gắng, ông ta bập bẹ một chút ít ỏi tiếng việt, nói với người đầu tiên gặp ở cổng làng:


- Lu-i-ra… cô bé … xinh đẹp, mẹ … chết… tội nghiệp…


Vậy là cô bé đã có một cái tên, Lui Da, cho dù cái tên ấy chẳng giống bất cứ một cái tên nào từng có trên cái làng nhỏ bé này. Nhưng cô vẫn lớn lên nhờ bầu sữa nhân từ. Cô bé đã làm tất cả những việc có thể làm được để đổi lấy tuổi mười bẩy ăm ắp những khát khao.


Cùng làm thuê làm mướn, cùng côi cút như nhau, nhưng Vệ có một ông chú họ giàu có, có một dòng họ, một cái tên. Vệ muốn chú mình nhận Lui Da về làm thuê để Lui Da không phải lang thang tìm chỗ trú chân khi trái gió trở trời và để hàng ngày hai đứa cùng nhau cày cuốc… Lui Da còn mong gì hơn thế nữa. Nhưng tất cả những hy vọng của cô đã tan biến. Đi đâu, về đâu… Tám tuổi, cô bé đã phải chứng kiến cảnh những người thân yêu nhất của mình lần lượt ra đi. Họ túc mục kéo nhau lên Thái, về Thành Nam, số ít ỏi còn lại cũng lay lắt bên bờ này dậu nọ. Đi đến đâu cũng thấy rền rĩ tiếng kêu khóc, thở than. Những bầy quạ thỉnh thoảng lại hú gọi nhau sầm sập trên bầu trời, đậu chỗ này chán lại bay qua chỗ kia. Thức ăn nhiều nên chúng phung phí, mỗi xác người chỉ rỉa hờ một ít rồi bay. Chiều chiều, cô bé vẫn hướng về phương Bắc, ngóng đợi từng người một trở về như cô vẫn hằng trông từng cánh đồng bông, từng bãi đay mênh mông bát ngát lần lượt trả lại sắc tươi xanh ngọt lành cho lúa ngô khoai sắn, với những đàn trâu cần mẫn ra đồng. Trong vùng tề còn dằng dặc những cánh đồng khát cháy nhưng ngoài vùng tự do, lúa đã xanh trở lại, gió đã trong trở lại mà người quay về làng cũng chẳng còn được bao nhiêu.


Ngoài anh Vệ ra, hầu như không còn người thân nào của cô  trở lại.  


 Nước mắt cuộn đến tận cùng lồng ngực xót buốt, cô bé đứng dậy, lê từng bước chân trên rệ cỏ xám xịt, hai đầu gối rã rời và đôi mắt lúc lúc lại hoa lên vì đói. Cô bé không biết mình đã bước đến những đâu. Mặt trời tắt. Cô bé vẫn lang thang dật dờ trên những bờ ruộng nhỏ xíu. Đêm hôm ấy, cô và rất nhiều người khác bị bọn tề dồn đuổi như dồn vịt về lều. Người người lúc nhúc trong cái vòng chật chội của sợi chão đay gớm ghiếc rồi kéo lê kéo lết đến nhà Tràng. Đó là một khu nhà thờ cách làng cô hơn nửa ngày đi bộ. Người ta chen chúc nhau, ken đặc lại trong gian phòng tối, một vài đứa trẻ con ngạt hơi người mà chết. Một vài cụ già cũng không trụ được đến ngày hôm sau. Lui Da cũng như bao người khác, vì sự cựa quậy của nhau mà thỉnh thoảng lại thấy mình bị xê dịch sang bên này một ít, bên kia một ít. Khi ánh mắt cô chạm vào một ô cửa nhỏ trên tường, dưới ánh sáng nhạt mờ hắt từ các lỗ thủng trên mái nhà xuống, cô nhìn thấy trong đám đàn ông lúc nhúc bên kia một khuôn mặt quen quen. Khuôn mặt thâm quầng của Vệ. Hai gò má còn ngoen ngoét, bầm dập những vết trầy xước, trên cổ và cánh tay chắc nịch của anh nhằng nhịt những vết roi quất tím lịm. Đôi mắt cô bé cứ dán vào đó, chân tay rủn rả, trái tim đắng chát. Hình như ai đó đã găm vào tim cô ngàn vạn những mũi kim sắc lạnh.


Phát hiện ra ánh nhìn của Lui Da, Vệ lết sát đến ô cửa, bốn con mắt nhìn nhau giữa hơi thở gấp gáp, mặn mòi. Bức tường lở loét của nhà Tràng rắc lên má, lên môi cô đám vôi vữa mủn hăng sè. Cô cố sức kéo cánh tay mình lên giữa những bờ vai khô quắt xung quanh, luồn tay qua lỗ cửa cỏn con ấy, giơ những ngón tay gầy khẳng khiu chùi xoá vết máu đang rịn ra xung quanh mí mắt Vệ. Những chuyển động nặng nề, uể oải của bầy người lại ủi Lui Da nhích thêm một ít, một ít nữa, cánh tay cô bị bẻ quặt về phía sau và tụt dần ra khỏi ô cửa tí hon. Bên kia bức tường mủn nát, Vệ cũng đang gồng mình hứng chịu những cơn đau do vết thương bị nén ép đến kiệt cùng… Về sau, Lui Da mới biết mọi người ở đây đang cố chen nhau đi về đất Chúa. Thì đi! Lui Da chặc lưỡi, phó thác mình trôi theo dòng xiết của số mệnh… Đức Chúa hay ông Trời hay một đấng tối cao nào đó, ai đã cho cô tồn tại trên đời mười bảy năm nay, thì họ hoàn toàn có thể lấy đi mạng sống của cô… Cô bé thầm nhủ trong lòng và dõi đôi mắt xanh biếc của mình tìm Vệ trong đám đàn ông trai tráng đang bị trói lặt cánh khuỷu phía bên kia… Những con thuyền nhỏ lần lượt đón từng tốp, từng tốp người dọc triền sông, ra cửa bể rồi nhồi nhét họ lên con tàu há mồm lừng lững trôi về Nam…


 Nước mắt lão Vệ quánh quết quanh mi, tiếng hát càng lúc càng khàn đặc lại. Đôi bàn tay xác xơ của lão run rẩy trên sợi gân trâu đã mòn từng đoạn. Hình như chủ nhân già nua của nó này ngày nào cũng gõ đi gõ lại, rê đi rê lại lớp móng tay đen đúa dầy cộp của mình trên bằng ấy cung nhịp. “Ai sinh ra chả mong một mái nhà, một cõi đi về, một chốn nghỉ chân… Ai chọn được cội nguồn, ai chọn được quê hương…”. Sợi gân trâu rung bần bật, một vài mẩu sắt rỉ trên cóng bò không còn đủ sức bám trụ lại trước sức rung dồn dập của tâm hồn lão đã văng vãi ra xung quanh. Lão nuốt nước bọt, lấy hơi rồi run rẩy quờ tay vào chén rượu, cái chén nhớp nhúa cáu bẩn đựng thứ nước trong veo, vi vút men say lắng quện. Lão dè xẻn nhắp từng hớp nhỏ. Trong lời rên rỉ lẹt khẹt của lão lại rúm ró hiện về những tháng ngày sống lắt lay giữa đất Sài Gòn phồn thịnh, trong hàng quân của quân đội Cộng hoà. Bấy giờ, chàng trai tuổi hai mươi mang máu loãng của dòng dõi địa chủ Bắc kỳ, sớm chịu cảnh côi cút bần hàn đã được quân đội thu nạp. Cuộc sống đủ đầy yên ấm không đủ phủ lấp khao khát tìm được Lui Da. Anh lẳng lặng gom nhặt mọi thông tin về cô. Dù sao thì em cũng là con gái. Một mình em bươn chải thế nào giữa chốn đô thành ô tạp thế này?


Và rồi, một buổi sáng, như bao buổi sáng bình thường khác, mưa rào ập xuống, xoá rửa dấu vết của lũ sâu ăn đêm trên các lá cây ngọn cỏ, rửa sạch rác rưởi của Sài thành sau một đêm mệt nhoài hưởng thụ. Dường như cơn mưa rào mỗi ngày là đặc ân trời ban cho Hòn ngọc Viễn đông. Nó ào đến, rửa trôi mọi tỳ vết để hòn ngọc lại bừng sáng dưới ánh mặt trời. Con đường trải nhựa thẳng tắp phủ một lớp nước mưa trong suốt tựa hồ một tấm gương khổng lồ cho ông mặt trời soi mình làm dáng trước khi phả xuống nhân gian luồng hơi bỏng rát. Vệ cẩn thận ủi từng đám lá bàng cong queo còn ngậm đầy nước mưa đang rúm rít trước cổng. Ra đến đường, anh xúc từng xẻng lớn lá cây cho vào thùng, chờ xe qua bốc đi. Một tốp nữ sinh thướt tha với tà áo dài trắng muốt lững thững đạp xe qua, anh nhìn theo ngẩn ngơ. Anh chưa từng được đi học. Ngày còn ở quê, anh đã từng được học chữ ngoài cổng chợ. Chợ làng năm ngày mới có một phiên. Người ta treo bảng chữ trước cổng, ai muốn vào chợ phải đọc được ít nhất mười chữ cái, rồi dần dần ghép vần, đọc từng từ, từng từ một. Các ông các bà nhiều tuổi, mỗi lần đến chợ lại lụng bụng mấy câu tục tĩu, nhưng rồi cũng cố đọc. Bọn thanh niên như anh chỉ một loáng là thuộc. Tiếc là anh chưa học được bao nhiêu thì phải rời làng… Anh thở dài, buông thõng cái chổi xể lệt xệt trên mặt đường. Nhưng đúng lúc ấy anh nhìn thấy Lui Da. Mười mấy năm rồi! Lui Da bé bỏng của anh…


Tiếng đàn như chùng xuống, thắt lại, riết róng trong cái hõm sâu của mảnh luồng, của cái máng chất chở từng tiếng vọng nỉ non của cuộc đời. Lão không hát nữa, để mặc cho chuỗi âm thanh của cây đàn lả tả rơi theo từng mảng đời mà lão gom nhặt được. Con tàu lênh đênh vượt trùng khơi, chẳng mấy chốc đã làm thoả nguyện những con chiên ngoan đạo của Chúa, đưa họ đến bến bờ hứa hẹn cuộc sống trù phú. Lui Da bám theo những người đi đơn lẻ mà cô đã quen trong suốt chặng đường dài. Em dạt đến ga xe lửa, sống trong những dãy nhà ẩm thấp trong xóm Sáu Lèo. Em không khó khăn để tìm được một công việc phù hợp. Rồi chẳng bao lâu, từ một cô gái buôn bán mấy mớ rau trong xóm trọ nghèo, em trở thành Lu-i-ra, bà chủ một cửa hàng cung cấp thực phẩm cho cả một vùng. Em đẹp và đằm thắm như bao cô gái Sài Gòn trong tà áo dài màu ngọc bích hở cổ và đôi giày cao gót trắng muốt. Vệ trân trân nhìn, không tin nổi vào mắt mình nữa. Vậy là Lui Da của anh đã có một cuộc sống tươi đẹp. Sài Gòn có cả một vùng dành riêng cho những người con lai, tất thảy đều sống yên bình, vui vẻ. Nhưng em không sống ở đó. Em làm giàu ngay trên cái xóm nghèo mà lần đầu tiên em tìm được nơi trú ngụ. Vậy là những lo toan, mong nhớ của anh bấy lâu hình như đã trở nên vô nghĩa. Anh nhìn bộ quân phục của mình, nhìn cái xẻng hót rác và cây chổi xể xác xơ mà ái ngại. Cảm giác thừa thãi và vô nghĩa tự đâu cứ len lỏi tràn ngập trong tâm hồn anh. Không phải vì anh hèn nhát không xông pha trận mạc, cũng không phải vì anh ngơ dại mà không kiếm được một việc làm tốt hơn cái chân phục vụ trong doanh trại… Chỉ là trong lòng anh luôn có cảm giác bất an. Anh không biết nên tin tưởng vào đâu, nên đi theo ai khi con đường trở về nơi chôn nhau cắt rốn của anh mỗi ngày thêm mờ mịt. Anh cố gắng bám trụ, cố gắng nhịn nhục giữ cho mình một cuộc sống bình yên để tìm em. Anh vẫn tự nhủ lòng, khi nào tìm được em, cả hai sẽ tìm cách trở về quê hương, trở về cái làng Trật nhỏ bé đã sinh ra anh và đón đỡ Lui Da. Bây giờ thì… Nhưng Lu-i-ra đã đọc được tất cả những xúc cảm đang ngổn ngang trong đôi mắt Vệ. Sau thoáng bối rối, nàng nhìn vào cổng doanh trại hỏi nhỏ:


- Anh ở trong đó luôn hay có nhà riêng rồi?


- Anh vẫn ở trong đó, có một mình, ở riêng làm gì.


Cả hai im lặng, cái im lặng như thiêu như đốt. Nắng đã loang loáng trên những búp lá non, đường phố càng lúc càng đông đúc. Tiếng còi xe hơi thỉnh thoảng lại rít lên trên đường. Vệ bước sát vào bức tường ngoài khuôn viên trước cổng. Mãi một lúc lâu anh mới hỏi:


- Gia đình em sống ở phố nào?


- Em ở một mình, ở khu ga anh ạ, bây giờ cũng phố sá không kém nơi này đâu anh!


- Em…


- Em buôn bán, và tham gia một vài hội của chị em phụ nữ. Bây giờ em phải đi, chiều mời anh đến nhà. Em quen cả sếp của trại này đấy!


 Nàng hất mái tóc phi dê bồng bềnh như mây xám về phía trại với đôi mắt xanh biếc và giọng nói như nén dồn cảm xúc bật lên những thanh sắc lạnh lùng. Vệ cố nén tiếng thở dài.


Lu-i-ra tất tả băng qua đường, cái dáng đi bối rối, líu ríu, còn phảng phất cả cái vấp váp, dấp ríu trên bậu cửa nhà ông trưởng họ Phạm của anh hôm nào. Rồi nàng leo lên con bọ hung xanh niễng, tà áo dài chấp chới bay trên nền đường lấp loá. Mùi thơm sang quý của em vẫn còn phảng phất đâu đây. Vệ uể oải hoàn thành nốt những công việc thường nhật của mình rồi trở về phòng. Căn phòng nhỏ bé trở nên hoang lạnh và trễ nải. Trong lòng anh rối như tơ vò. Tất cả những dự định trước đây của anh bỗng chốc oà vỡ như bong bóng xà phòng mỏng dính bị thổi tung đến kiệt cùng. Anh nhớ đến những cuộc gặp gỡ, những bức thư nặc danh, những người bạn đã một thời lấm lem nơi quê nhà thỉnh thoảng thoắt ẩn thoắt hiện quanh anh. Anh nhớ con sông Bút nhỏ bé đậm đặc phù sa. Phù sa bám đỏ cả lưng người lưng trâu mỗi lần ngụp lặn. Anh nhớ cái gốc phượng già rỗng ruột đã từng che chở anh khỏi đòn roi của ông chú mỗi lần anh bốc trộm xém cơm mang cho Lui Da. Anh nhớ, nhớ cả gương mặt khô sần của các bà mẹ nghèo cố vắt từng giọt sữa nhờ nhợ trắng từ bầu vú héo úa mong kéo những đứa trẻ thoát khỏi trận đói càng lúc càng dữ dội trong làng. Nhớ cả những người đàn bà mang cánh tay tướp táp mồ hôi đến sục sâu vào thúng cám giữa chợ để mang ra bờ sông cho con mình liếm láp chút hơi hồ, mặc cho những trận đòn roi sầm sập đổ xuống đầu. Anh nhớ những mùa nước lớn, đê làng vỡ toang, nước xối xả tràn về, cuộn xiết, cuốn phăng đi bao mồ hôi công sức của dân làng, cuốn cả những con người lam lũ không may sảy chân nhỡ bước. Anh nhớ những con chữ nhỏ bé nhảy múa ngoài cổng chợ sau ngày độc lập, thèm được vục đầu xuống những nõn đòng thơm ngát mà hít hà hương lúa non… Anh muốn được nằm dài trên cái gò nhỏ đầy hoa sài đất vàng ruộm bên góc đồng Mo, nhìn trăng thu lu chảy giữa đất trời mà gọi mẹ. Ông chú họ bảo “mả mẹ mày đấy, đừng để trâu nó đằm”, nhưng người làng bảo, “cha mẹ mày bị nước cuốn trôi, lấy đâu ra mả”… Anh thèm được về làng, thèm đến cháy ruột. Bao nhiêu năm cúc cung phục vụ quân đội quốc gia, anh cũng đã tích cóp cho mình được một lưng vốn nho nhỏ. Anh muốn được về làng mà chẳng biết làng có cho anh về nữa hay không. Dù có hay không thì anh cũng muốn rời xa nơi này, rời xa chốn phồn hoa càng lúc càng bất ổn này. Anh không còn lý do gì để bám trụ lại nữa. Lui Da đã có con đường riêng của mình. Em đã có một cuộc sống khác, một ước mơ khác. Em chỉ mang một nửa dòng máu của người Việt. Em… em không cần ta ở bên nữa, không cần ta nữa…  


Và cái đêm không trăng mịt mờ năm một-ngàn-chín-trăm-sáu-mươi-ba, giữa lúc sự hỗn loạn càng lúc càng trùm phủ lên đời sống của các tướng sĩ, nó ám ảnh đến từng miếng ăn, giấc ngủ của anh em trong doanh trại, Vệ đã bí mật rời khỏi đơn vị. Trong bộ dạng của một gã xích lô chuyên đưa đón các quý bà quý cô từ các sàn nhảy về khu nhà trọ, Vệ đã tẩu thoát không mấy khó khăn ra ngoại thành. Ban ngày ẩn náu, ban đêm lên đường. Không may cho anh, khi vừa chạm chân đến bến tàu, với gánh hàng của một người buôn bán nhỏ, anh bị phát hiện. Cánh cửa trở về cố hương của anh trong giây lát đã bị đóng sập. Anh thừa hiểu rằng, chỉ ngày một ngày hai, anh sẽ trở thành “lao công đào binh” có mặt trên chiến trường làm lá chắn đạn như bao nhiêu binh lính đào ngũ khác.


 Anh đã ở trong tù bao lâu. Bao nhiêu bạn tù của anh đến, rồi đi, rồi không một người trở lại. Ngày qua ngày. Tháng qua tháng. Năm qua năm… Anh không biết mặt trời có còn lặn và mọc, gió có còn thổi trên mỗi ngọn cây và mưa có còn rơi trên mỗi mái nhà. Rồi cũng đến ngày, cái thân thể xanh rớt của anh được ra ánh sáng, giống như cây cỏ bị đè chặn dưới hòn đá tảng. Nó không chết mà ngoi ngóp vươn lên, nhớt nhát, bợt bạt, không còn chút màu xanh của sự sống. Anh lết từng bước chân với cây súng nặng trĩu trên vai ra trận. Chưa kịp nhìn tỏ mặt địch mặt ta, chưa biết mình sẽ nổ súng vì ai, vì cái gì, anh đã đổ gục xuống dưới cột khói đen thẫm. Đau đớn. Mụ mị. Châng lâng. Anh mơ mình tan ra trong lớp khói xám, bám níu vào những đám mây xa mờ để bay về đất mẹ, bay về nơi anh đã sinh ra, bay về ngôi làng nhỏ bé, vùi mình dưới lớp đất cát pha nâu sẫm quê nhà… Cho đến một buổi sáng, anh thức giấc và thấy mình nằm trong căn phòng lấp loá ánh sáng trắng phếch, xung quanh anh, cuộc sống như bao phủ trong một bầu không khí vô trùng với những những đốc-tờ mắt xanh da trắng ân cần đến, thư thả đi, dịu dàng nâng giấc… Anh dần hiểu ra rằng sự sống của mình vẫn chưa kết thúc, hy vọng được trở về quê hương của anh lại thoi thóp trỗi dậy. Đôi chân tưởng sẽ bị cưa gọt đến tận cùng, nào ngờ được lắp ghép, hàn gắn, để nó nguyên vẹn hình hài, dù nó chưa đủ để nâng đỡ tấm thân rệu rã…


Lão cười khẩy một mình, cái cười như nhằm vào tim lão mà mỉa mai, mà rỉa róc. Cái cười khiến khuôn mặt lão trở nên méo mó hơn, khiến đôi môi lão co quắt lại như con đỉa khô cạnh hố vôi đã vét cạn. Tiếng hát của lão như vò như xéo, như đằm như siết. Lão cúi gằm mặt, nhìn trân trối vào cái cóng bò rỉ, nhìn vào cái hố sâu ngòm thăm thẳm của cái cóng bò, cái nơi mà lão khéo léo thắt nút sợi gân trâu buộc nó vào cái cật tre vút cong trơn bóng, để ngày ngày nó run lên từng nhịp tâm hồn. 


Em. Lu-i-ra. Lu-i-ra không khó khăn để trở thành một quý bà. Nhưng nàng đã từ chối mọi cơ hội để âm thầm tìm Vệ, để đợi ngày được ríu rít cùng anh trong cái tổ ấm mà nàng đã mất bao công chăm chút, dành dụm. Giây phút ngắn ngủi gặp anh nàng đã muốn vứt bỏ tất cả để đến với anh, nhưng chính lúc ấy, qua ô cửa nhỏ trên toà nhà đối diện, nàng nhận ra ánh mắt cú vọ của luật sư Thành, người đàn ông đang ráo riết chinh phục nàng. Ánh mắt sắc lẹm như mũi lao nhằm vào Vệ mà săm xét. Lu-i-ra vội vã từ biệt anh rồi đi. Linh cảm về những bất an sắp đổ xuống đâu đây khiến Lu-i-ra bồn chồn không yên, nhất là từ sau khi gặp Vệ, tâm hồn nàng như bị cuộn vùi dưới tầng tầng lớp lớp những con sóng bạc đầu, thỉnh thoảng trái tim nàng lại cồn lên một cơn nhói buốt. Có những lúc các bắp thịt trên cơ thể nàng như rời rã, như tan lỏng, như héo rũ… Suốt mười năm xa cách, nàng chưa hề có cảm giác như vậy. Không thể đợi Vệ lâu thêm nữa, một ngày gió mưa vần vũ, vần vũ cả trong lòng nàng, nàng đã đến doanh trại tìm anh, mặc kệ ánh mắt săm soi của Thành vẫn bám riết lấy nàng sau ô cửa phía bên kia. Hôm đó cũng chính là ngày Vệ đi. Vài ngày sau nàng nghe tin anh đã sa lưới. Ông luật sư danh tiếng của Sài thành đã không bỏ lỡ cơ hội ngã giá với Lu-i-ra. Cuộc trao đổi ấy đã cho Vệ được “an phận” trong lao tù suốt bảy năm. Anh quen với sự yên bình và bằng lòng với nó, bằng lòng với sự may mắn mà cuộc đời mang lại cho anh. Chiến tranh càng lúc càng khắc nghiệt, viên luật sư thừa nhạy bén với thời cuộc đã khéo léo dụ dỗ Lu-i-ra dồn tất cả vốn liếng có được để đầu tư kinh doanh sang nước ngoài, và không lâu sau đó, người chồng yêu quý của nàng cũng êm ả rút về xứ sở bình yên phía trời Tây để lại nàng một mình cô độc giữa chốn đô thành càng lúc càng hỗn loạn…


Giá Vệ chết trận thì có lẽ mọi sự đã nhẹ nhàng hơn. Tin Vệ nằm trong nhà thương khiến Lu-i-a chết sững. Bao nhiêu ngày Vệ ở nhà thương là bấy nhiêu ngày Lu-i-ra lo lắng vất vả. Nàng đã lẳng lặng lo toan cắt đặt mọi thứ cho Vệ được hưởng sự chăm sóc tốt nhất…


Lão dừng tay đàn, chống xuống đất rồi quờ tay tìm bát điếu. Một tay lão cầm se, tay kia rút lá đóm dắt trên vách, rồi châm lửa. Ngọn lửa leo lét run rẩy đậu lên nõ điếu, bên trên nhúm sợi thuốc lào thái vội rồi bất chợt bùng cháy lên, đỏ rực, hầng tươi cùng với tiếng rít lọc xọc, giòn giòn, vỡ vỡ. Lão ngả người, để mặc cho khói thuốc phủ lên mặt một mảng mây trắng dầy…


Giải phóng Sài Gòn, sau mấy tuần cải huấn, Vệ được bộ đội giải phóng cho về quê. Vệ về. Còn Lui Da… Nàng từ chối lời mời của bạn bè lên tàu sang Hoa Kỳ. Cũng may lúc ấy nàng không theo Vệ về làng…


Về làng… Làm sao người ta có thể chấp nhận một tên lính nguỵ về làng, cho dù là tên lính nguỵ đào ngũ. Cái tên “nguỵ quân” đã xoá sổ trên chiến trường, nhưng bao giờ mới xoá sổ trong định kiến những con người đã bị mất mát xương máu trong chiến tranh? Ngay cả ông chú họ anh, cái xú danh “lính nguỵ” như một sự ô uế thanh danh dòng họ Phạm… Không chịu nổi những lời nguyền rủa của dân làng, ông chú họ ngã bệnh. Sau mấy tháng nằm trân trân trên giường không ăn không uống, ông nấc lên mấy cái rồi tắt thở. Đôi mắt ông vẫn trợn trừng. Khi cả họ dồn Vệ ra đến tận con đê cuối làng, đến tận cùng của bãi tha ma, thì người ở nhà mới vuốt cho con mắt ông trưởng họ nhà anh trở lại hình dáng của con mắt thức, không thể vuốt cho khít hơn được nữa. Và từ đó, không ai cho phép anh được bén mảng đến từ đường họ Phạm, dù chỉ trong ý nghĩ…  


Mấy chục năm trôi qua, từ “tên Vệ” dân làng đã chuyển sang gọi “lão Vệ”. Lão sống trên con đê làng, con đê cứ mỗi mùa nước lớn lại vỡ toang. Nước tràn qua đống mối ngấu nghiến cuốn đi những cánh đồng hoa màu đang kỳ sung sức. Ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm…, lão âm thầm bầu bạn với lũ trẻ chăn trâu, chiều chiều bắt chuột, cào cào châu chấu về nhắm rượu. Rồi một ngày, sau bao cố công đào bới, săn lùng, lão bắt được con mối chúa, để mọi người có thể hàn khít chân đê. Rồi lão chuyển về ở ngay đầu hồi trường học, dưới gốc cây phượng già rỗng ruột, nghe tiếng trẻ thơ ríu rít mỗi ngày…


Lão lại rót đầy cái chén mắt trâu sứt mẻ. Lão uống. Lão hát. Lão thấy Lui Da sắp về. Nàng bảo nàng phải tìm mẹ, phải ở gần mẹ, dù mẹ chỉ còn là cát bụi nàng cũng phải về. Nàng khóc, khóc nhiều lắm. Nàng sợ người ta không cho nàng về, nên nàng cứ đứng ngoài cổng làng đợi lão… Lão hát. Lão khóc. Rồi lão say… Lão nằm còng queo lên đống ổ rơm mới rải. Cây đàn bầu tự chế nằm gọn trong ngực lão. Thỉnh thoảng lão lại nấc lên ngằn ngặt như đứa trẻ con vừa ngủ sau một trận hờn dài. Lão trở mình, rê đôi chân mềm oặt trên ổ rơm, tiếng ngáy giần giật, khập khè trong cổ họng. Trong cơn mơ chập chờn, lão thấy những dòng chữ nắn nót trong những phong thư ố vàng của Lui Da chấp chới bay. Cả những tờ giấy đăng ký kết hôn. Bao nhiêu lần xã thay mẫu giấy hôn thú lão có bấy nhiêu tờ, tờ nào cũng chỉ có hai cái tên viết nắn nót trên hai cột vợ - chồng. Lão thấy bàn chân to bè cong queo của Lui Da đang nhẹ bước trên đường làng, đôi mắt xanh thăm thẳm và bàn tay nàng đang quệt vết nước rịn ra giữa hai viền mi rúm ró của lão. Lão dẫn nàng về phía cuối làng, gần cuối bãi tha ma, ngay dưới chân đê, nơi lão đào được con mối chúa, nơi đê làng ngày xưa năm nào cũng vỡ… Ở đó có một đám đất nhỏ bằng phẳng mọc đầy cây sài đất nở hoa vàng li ti nằm lọt giữa đám cỏ lác um tùm…  


Đôi môi quắt queo của lão lật phật những âm thanh khô khốc khan nồng mùi rượu. Ngoài kia trời đã mịt mù sương. Ánh trăng mùa đông nhỏ bé hoang vu quăng quất trong không gian những mảng sáng bợt màu…  


Vũ Thanh Lịch 


Nguồn: vannghequandoi.com.vn

trieuxuan.info