Truyện ngắn
17.05.2009
Viễn Phương
Anh hùng mìn gạt (5)

5. Bắt thằng Giônxơn làm tiếp tế


Giặc đã rút chạy. Chúng bỏ lại trên ba mươi xe rải rác khắp xã.


Công việc đầu tiên của chú Út là lo tập họp cái tiểu đội siêng năng của chú. Tiểu đội siêng năng đây là mười bảy quả lựu đạn gài. Chú gọi là tiểu đội siêng năng vì theo chú mười bảy chiến sĩ ấy đặt đâu đứng đó, ngày đêm canh gác, bất kể nắng mưa. Mười bảy đứa ấy gác quanh hầm chú. Có chúng nó, chú ngủ ngon giấc. Con chồn con cáo chạy, con cheo con sóc nhảy, nó còn “hì”, hà huống thằng biệt kích Mỹ.


Nhưng chú gom không đủ được. B52 dập bom ngay xóm nầy. Một trái đìa([1]) rớt trước sân chú. Bụi tre gai bay mất. Cái hầm sụp một nửa. Tiểu đội siêng năng bị lấp cả. Bây giờ đào kiếm lại thì bảy thằng mất tích. Chú thương tiếc lắm, cứ đào mãi, đào mãi từ sáng đến giờ, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại. Vẫn không thấy hồn xác gì cả.


Tặc lên tới thấy chú đầu cổ lấm lem, mặt mày đỏ lơ đỏ lưởng, nó nóng ruột:


- Cái lỗ bom sâu tới âm phủ, nước cuộn cuộn như vậy mà đào kiếm sao cho được.


Chú chẳng thèm trả lời, cứ cắm cúi đào.


- Không chừng nó nổ mất rồi! - Tặc lại nói.


Chú vẫn làm thinh làm thế. Tặc biết rõ yêu sách của ba nó rồi:


- Thôi! Nghỉ đi! Rồi tôi bổ sung đủ số cho, ông ơi!


Quả nhiên, chú Út ngừng tay, ngẩng lên:


- Thiệt không?


Tặc cười. Chú chỉ mặt nó:


- Nói dóc tao đánh thấy cha!


Công việc thứ hai của chú Út là gom cái giàn thuốc nam. Chú vốn là thầy thuốc. Chú vạt thuốc khá lắm. Chú có tay phục dược, chữa đâu hết đấy. Nhưng việc gom thuốc thì thất bại.


Mấy đứa đội nữ về đây chống càn, có để lại chú bức thơ:


“Ba thương mến,


Kỳ nầy tụi con về chống càn không có ba, buồn quá! Tụi con nấu cơm hết hũ gạo của ba rồi. Ba có đi đâu thì nhớ để gạo với muối ở nhà cho tụi con. Nhớ kiếm cho tụi con một hũ mắm ruốc. Trận nầy tụi con hạ được ba xe và tám thằng Mỹ lẻ.


Cái giàn củi của ba chụm khói quá lộ điểm, Mỹ nó mò tới rượt tụi con, tụi con bắn chết bốn thằng.


Thôi, tụi con đi công tác. Ba ở lại mạnh giỏi”.


                                                            Tụi con


Chú Út cười hà hà:


- Chụm hết giàn thuốc nam của tao còn chê củi khói.


Thì ra những cây thuốc nam chú gác trên giàn bếp cho nó có hơi khói con mọt, con mối đừng ăn. Tụi nữ tưởng là củi đem chụm ráo rồi. Uổng thật! Toàn cây thuốc quý chú lặn lội kiếm tận trên rừng Lộc Thuận.


- Thiệt! Mấy đứa nhỏ!. Chú lại cười hà hà.


Tặc xem thơ rồi trề môi:


- Đánh giặc mà không biết tự lực cánh sinh, cái gì cũng ba ba.


Chú Út binh đám con gái:


- Nó là gái, bì([2]) với bây([3]) sao được.


Thật ra, chú Út không nỡ bỏ cái hầm nầy một phần cũng vì “tụi nó”. Chú ở một mình, xóm vắng, nghe tiếng đạn bom nhiều hơn tiếng người. Những chiều buồn, vắng bom pháo, chú thả([4]) ra đường, đứng ngó mông. chờ một người. người khách nào đó, bất cứ lạ quen, miễn có một người.


Đội nữ đi suốt ngày trong xóm hoang vùng trắng, hoặc bám sát vành đai chỉ nghe tiếng con chim, con sóc hoặc tiếng bầy thú Mỹ. Các cô cũng khao khát, thèm một tiếng người. Chiều xuống, trong vắng lặng nghe chân bước, chú cất tiếng hỏi. Nghe tiếng quen, các cô mừng quýnh, không kịp đáp, rối rít cả lên. Các cô vây lấy chú, vuốt râu chú. Rồi kéo chú vô hầm, quét dọn, nấu trà cho chú uống. Các cô tranh nhau kể chuyện chiến đấu cho chú nghe. Tía con trò chuyện suốt đêm. Các cô giành hết mọi công việc, không cho chú làm gì cả. Các cô đi mò cá, kiếm rau, nấu cơm, còn kiếm rượu cho chú uống nữa. Cha con vui vẻ với nhau một hai bữa rồi các cô kéo đi. Rồi chú lại mong chờ. chiều chiều ra cửa ngóng.


Kỳ nầy thì Tặc nhứt quyết lôi chú về công trường thôi, không để chú ở một mình nữa. Chi ủy cũng quyết nghị như vậy.


Chú Út đi mà lòng chú buồn. Chú nói với Út:


- Tao về với bây thì cũng yên được cái phận tao rồi. Nhưng nghĩ thương mấy đứa nữ. Chừng nó về, không có tao, nó bơ vơ, nó buồn, tội nghiệp!


Tặc, Khiêm nghe nói lăn ra cười:


- Trời đất! Ông già! Làm như mấy bả([5]) còn con nít vậy! Tại ông cưng mấy bả rồi mấy bả sinh nhõng nhẻo([6]) với ông. Chớ ra trận ông thấy họ ông cũng tởn([7]) luôn. Mấy “bả” la xung phong một tiếng rồi giương lê xốc tới, tụi Mỹ nó vừa lết vừa. xón trong quần. Tụi tôi ngắn giò, Tết mới rượt kịp mấy bả.


Út nói cho yên lòng chú:


- Thôi, chú cứ ở đây, chừng nào mấy cô về, chú qua bển([8]) thăm, ở chơi vài ngày cũng được.


Chú Út già rồi. Về công trường, tùy sức làm được gì thì làm, không ai ép. Chú lãnh nhiệm vụ làm anh nuôi kiêm y tế. Từ khi chú về, công việc anh nuôi rất chu đáo. Các má ngoài Gò Nổi cứ dặn đi, dặn lại:


- Nè! Thiếu thốn gì thì ra đây nghen!


Lâu lâu chú không ra thì mấy má nhắn vô phê bình. Gặp chú, mấy má rầy om:


- Bộ hổm rày chú cho sắp nhỏ([9]) ở trỏng ăn muối hả?


- Bộ chú tính nuôi mấy thằng nhỏ để lấy da bịt trống sao cà([10])?


Chú chỉ cười hề hề:


- Ối! Mấy chị khỏi lo! Lo để tiền mà ăn trầu.


Mấy má nói:


- Nè! Trầu là cái khoản phụ, còn nuôi con là cái khoản chánh. Chú mà để tụi nó ốm([11]) là chú phải chịu trách nhiệm đó nghe.


Chú Út khoát tay:


- Ối! Nó “cải hoạt”([12]), thịt cá thiếu gì!


 Chú không nói quá. Đồng bào tản cư nhiều. Xã bây giờ đất rộng người thưa. Con chuột hoành hành trong lùm, con cá nhởn nhơ ngoài rạch. Chú Út tranh thủ đem cái lờ, gài cái bẫy bắt con cá, con chuột không khó. Cao lương mỹ vị thì chưa dám nói, nhưng hằng bữa món canh, món kho thay đổi là thường. Từ ngày chú Út về, anh em có sung sướng thật. Những bữa ăn ngon, anh em thường nhớ tới bà con tản cư, không biết bà con có được miếng thịt, miếng cá ăn không. Mỗi lần chú Út ra Gò Nổi anh em lại gởi cho mấy má, cho đồng bào khi xâu khô, khi bó đũa, kèm theo những bức thơ thương nhớ. Mấy má, bà con cầm lấy mà không cầm được nước mắt. Và những bức thơ thương nhớ lại được chuyền tay các má, các chị, các em, trân trọng và thương yêu như tiếng nói thầm lặng của quê nhà.


Một công việc quan trọng khác của chú Út là làm y tá cơ quan, lo chăm sóc sức khỏe cho mấy “đứa nhỏ”. Tụi nó làm việc hùng hục suốt ngày đêm. Gặp giặc vô thì nó quần như rồng như cọp, nhưng coi kỹ, thằng nào cũng bịnh. Nhất là Út Đực, nước da nó cứ xanh xanh mét mét. Ban đêm nó ít ngủ. Nhưng đáng lo là cái lỗ mũi của nó. Các ông bác sĩ coi nói viêm xương, để lâu xương mục, cái sống mũi sẽ sụp xuống. Nhưng Út nó không chịu vậy, nó nói khác. Nó nói tại nấu thuốc nhiều quá, hơi thuốc xông lên, ăn lở lỗ mũi, chỉ cần nghỉ nấu thuốc vài tháng là khỏi bịnh thôi. “Nhưng Mỹ nó có nghỉ bữa nào đâu mà mình tính chuyện nghỉ”. Thế là lại hè nhau làm tới.


“Đó là phần thằng Út, còn mấy đứa khác thì nay run en, mai phát rét, mốt ho hen, tức ngực. Nhưng hễ vừa dứt cơn, dứt cữ là nó nhào xuống vác búa đập chan chát.


“Phải ra tay phục dược mới được. Bữa nào nấu thuốc nổ là tụi nó ngơi([13]) cơm. Cái hơi thuốc, chú biết, đứng gần một chút là đã thấy cổ đắng nghét rồi. Nhứt là cái thứ minát minéo gì để làm hột nổ đó thì nó còn độc hơn thuốc chuột. Cái khói đỏ của nó bay tới đâu là cỏ chết rụi tới đó! Vậy mà tụi nó chịu đựng cả tháng, cả năm, làm sao mà không lao không tổn?!


“Có vô công trường mới biết rõ sự cực khổ của con cháu. Ở ngoài, cứ thấy nó đi đâu cũng cười cười giỡn giỡn tưởng tụi nó sung sướng lắm. Ờ, mà cái lứa thanh niên thời nầy kỳ thiệt. Sao nó cứ cười hoài. B52 nổ ì ì trên đầu mà nó cũng trửng giỡn với nhau được. Ở với nó riết rồi mình cũng quên già”.


Chú đã ra tay phục dược. Thuốc giải nhiệt chú vạt sẵn mấy bao. Chú càn xuống bưng nhổ mía chồi chất đống để dành cho tụi nó ăn cho bớt đắng cổ.


Thằng Khiêm rét. Chú rờ trán, rờ chân, nhìn cái lưỡi nó rồi đọc luôn một thiệu:


            Ngâu vàng dây lức thường sơn,


            Cù đèn, mây rắc một cơn hết liền.


            Nếu mà làm cữ liên miên,


            Nắm dây đổ trọng gia thêm chanh rừng.


Khiêm uống đúng ba thang, dứt cữ([14]). Chú Út khoái chí cười ha hả. Thằng Cá cứ mét chằn, mét tưởng, thường nghe nóng nảy trong mình. Chú xem mạch, đọc thiệu, lại hốt thuốc([15]).


*


*           *


Trong lúc chú Út lu bu với công việc y tế cơ quan thì Út Đực cũng đang nát trí về một việc khác. Qua trận càn rồi, giặc bỏ lại chiến trường xã Nhuận Đức trên ba chục xe. Những chiếc xe nầy dây xích cán đúng y quả mìn. Nhưng còn biết bao nhiêu quả khác lọt gọn dưới lườn xe, nhưng xích không cán đè lên nên không nổ được. Uổng thật! Nếu là mìn điện, có mình ở đó mình nhí thì ít ra cũng kiếm thêm được vài chục chiếc. Gẫm kỹ lại cái thứ mìn tự động chiến đấu nầy cũng có nhiều chỗ nhược so với mìn điện. Làm sao khắc phục được đây? Nếu làm được thứ mìn gì chỉ cần xe rấn([16]) lên là nổ, không đợi xích phải cán trúng y thì ta có thể tăng khả năng diệt cơ giới lên tới mấy trăm phần trăm lận.


Lại những ngày đêm suy nghĩ. Thật ra, lần nầy Út cảm thấy là sẽ không khó khăn lắm, vì đây chỉ là một thế bẫy mà thôi chứ không phải là vấn đề khoa học kỹ thuật gì cao siêu. Mà nói đến bẫy thì Út rành quá rồi. Từ cái bẫy chuột đến cái bẫy lủi, cái bẫy cò ke đến cái cùm cụp, thứ nào Út cũng rành. Út còn nghiên cứu cả cái bẫy đá, cái xoa, cái băng cung của đồng bào Thượng nữa. Nói đến bẫy thì thật là thiên biến vạn hóa lợi hại vô cùng. Kìa coi như ông Quan Vân Trường “Chém Văn Xủ, Tào còn nể mặt, tru Văn Lương, Mạnh Đức kiên oai. Rốt cuộc rồi, mắc cái bẫy thô sơ của ông Lữ Mông với mấy cái móc câu sắt tòn teng mà Quan ngài vong mạng. Lại coi như đại quân Mông Cổ, thật là: quân đi chật núi, chật núi, ngựa uống nước cạn sông, cạn sông, cờ đề chữ Đại Mông, Đại Mông, nhắm Việt Nam trực chỉ”. Vậy mà bị cái thế bẫy lấy cây đẽo nhọn bọc sắt cắm dưới lòng sông của ông Trần Hưng Đạo phải thua xiểng niểng manh giáp không còn.


Cái hầm chông của mình cũng là một thế bẫy. Lựu đạn gài cũng là một thế bẫy. Và cái thứ mìn mới Út đang thai nghén nầy cũng chỉ là thứ mìn gài cũ thêm vào một thế bẫy mà thôi.


Út mầy mò lập thế rèn, đục, cưa, giũa suốt mấy đêm ngày.


Chập tối Út đến anh Tám quân giới. Anh Tám đang lục đục dưới hầm. Anh o bế([17]) mấy cây B40 mới lãnh. Út chui xuống đến ngồi chồm hổm trước mặt anh:


- Anh Tám! Đố anh cái gì đây?


Út vừa nói, vừa để nhẹ trước mặt anh một vật chi tròn tròn, dài dài, bằng ngón tay cái.


Anh Tám cầm lấy, kê vô đèn lật qua lật lại: cái chi chẳng ra cái chi, giống như cái đầu lựu đạn cần, nhưng ở trên có tháp thêm cái vỏ bì đạn mút. Anh Tám nhướng nhướng mắt nhìn rồi ngẩng lên hỏi:


- Cái giống gì vậy, Đực?


Út không trả lời thẳng:


- Anh coi nè!


Út để vật đó đứng trên mặt ghế, rồi tay phải kềm cứng nó, tay trái ẩy cái vỏ bì. Bỗng cái vỏ bì bật ngang. Anh Tám nghe tiếng “cộc”. Út giở lên. Mặt ghế lủng một lỗ nhỏ bằng hột đậu xanh, sâu hóm([18]).


Anh Tám nói: “Như cái đinh hỏa lựu đạn!”.


Út gật đầu:


- Phải! Y như cái đầu lựu đạn cần. Nhưng thay vì cái cần lựu đạn chịu cây đinh hỏa thì tôi lấy cái vỏ bì xẻ dưới đít hai lằn chéo sâu độ một phân rồi tròng vô đầu cây đinh hỏa. Bây giờ cái vỏ bì đã thay cái cần, chịu cây đinh hỏa lại, xô mạnh, cái vỏ bì tróc ra, lò xo tọt đinh hỏa xuống y như đinh hỏa lựu đạn vậy.


Anh tám chỉ “a” một tiếng rồi quay qua sắp xếp đống đạn B40. Dường như anh không quan tâm gì lắm đến cái câu chuyện của Út. Một lúc, anh hỏi nghe lạnh ngắt:


- Để chi vậy, mậy?


Út có hơi phiền anh Tám, nhưng vẫn nhỏ nhẻ:


- Anh day lại, tôi nói anh nghe.


Anh Tám day lại.


- Tính vầy nghen anh Tám! Cái nầy là đầu gạt. Vặn nó vô trái mìn. Cắm một cành cây vô vỏ bì. Đặt trái rồi, xe nó chạy rướn ngang gạt cành cây, vỏ bì tróc, lò xo lọt đinh hỏa, mìn nổ tung. Được không anh Tám? - Út vừa hỏi vừa ngó thẳng vào mắt anh Tám thăm dò.


Anh Tám vẫn khoanh tay trước gối, ngó sững, im lìm.


Út hơi lo:


- Không cần xích xe tăng cán trúng. Xin miễn cái dè cái lườn gì đó gạt qua thì trái nổ liền.


Anh Tám vẫn im lặng. Út chột dạ: “Bộ có chỗ nào không ổn sao mà? “Ông tổ vũ khí” nầy bó gối làm thinh vậy cà? Phải ổng ừ cho mình một tiếng cũng đỡ”.


Út cố tìm thêm lý để “thuyết” anh Tám:


- Chỗ nào cây cối bị bom pháo, chất độc chết khô thì mình cặm cành khô lên đầu gạt. Chỗ nào cây còn sống thì mình cặm cành tươi. Nó ở đó nhổ coi từng nhánh, từng chồi thì râu dài tới rún cũng chưa đi giáp được cái xã Nhuận Đức nầy.


Út vừa nói, vừa nghĩ thầm: “Ông không ừ, tôi cũng làm ông à! Nhứt định rồi mà. Trời cản tôi cũng làm. Nhứt định là diệt được nhiều tăng hơn đó”.


Anh Tám vẫn làm thinh, mày châu lại. Út không còn lý lẽ gì để nói thêm. Phát bực, Út gây với anh Tám, nhưng chỉ gây trong bụng thôi: “Ông chê tôi chỗ nào? Tôi trật chỗ nào? Ông giỏi ông nói nghe coi! Bây giờ ông có nhiều B40 rồi ông chê sáng kiến về mìn trái phải không? Chưa chắc gì mìn gạt của tôi thua B40 của ông đa!”.


Út còn đang cằn nhằn cửi nhửi trong bụng thì bỗng anh Tám chụp lấy đầu Út, vò lấy vò để vừa cười ha hả vừa nói:


- Đực ơi! Mầy ăn cái giống gì mà mầy khôn quá vậy Đực?


Út cũng cười theo. Bao nhiêu giận hờn hồi nào tan đâu mất.


Út ra về, phơi phới bước trên đường. Chi ủy và toàn thể công trường đều hoan nghinh sáng kiến của Út và long trọng đặt cho loại mìn nầy tên là “mìn gạt”.


Gọi là “mìn gạt” vì lẽ bất câu([19]) xe cộ hay thứ chi chi, chỉ cần gạt qua cái cành cây cắm trên đầu gạt là nó nổ cho tan tành hồn xác.


Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.







([1]) Bom đìa, bom tấn.




([2]) Sánh, so.




([3]) Chúng mày.




([4]) Đi thong thả.




([5]) Bà ấy.




([6]) Làm nũng.




([7]) S.




([8]) Trong ấy.




([9]) Lũ trẻ.




([10]) Ý nói để cho gầy da bọc xương.




([11]) Gầy.




([12]) Cải thiện sinh hoạt.




([13]) Nghỉ không ăn cơm được.




([14]) Hết bệnh.




([15]) Bốc thuốc.




([16]) Đè lên.




([17]) Chăm sóc.




([18]) Sâu hoắm.




([19]) Bất luận, bất cứ.



trieuxuan.info