Truyện ngắn
21.05.2009
Viễn Phương
Mưa nấm mối

Bọn ngụy nhảy giò xuống An Phú hồi tám giờ sáng. Ba giờ rưỡi chiều chúng rút êm. Từ dưới địa đạo tôi mới lóp ngóp chui lên, vô chưa tới cửa đã nghe nói cười rộn rã.


Trước tiên là tiếng ông Hai Nhi, chủ nhà:


- Giặc vô một ngày, chớ nghe du kích nổ một tiếng súng, bộ bây ngủ gục dưới địa đạo hết sao mà.


Hai Duyên, nữ du kích ấp trả lời:


- Bác hai coi, tụi con bám sát, mà nó không dám ra khỏi nhà dân, không lẽ tụi con bắn vô nhà cô bác.


Út Sương tiếp:


- Kỳ nầy bà con đấu tranh chính trị dữ quá làm tinh thần nó rã rời. Đổ xuống dân, nó ngồi đó, không dám phá phách, xông xáo rượt bắt heo gà như trước. làm tụi con hết lập thành tích.


Tiếng Ba Thu nhỏ nhẻ:


- Nó đổ xuống trước nhà cháu một trung đội. Thằng chỉ huy trẻ măng. Nó vừa bước tới cửa, nội cháu chận nó lại nói: “Nè! Tôi coi mấy chú như con cháu, tôi thương tôi mới nói. Mấy đêm trước, bộ đội nó về trên rừng đông nghẹt, đào đắp gì trên đó sáng đêm. Còn quanh đây, du kích nó đặt mìn, gài “trái” không biết đâu mà rờ. Nhảy xuống đây thì ở đây, chừng nào đói, tôi nấu cơm cho ăn, đừng bày đặt đi lục lọi ruồng bố, sụp hầm chông, chạm lựu đạn, chết bỏ vợ bỏ con không ai nuôi. Ông Diệm ổng ngồi trên cao ổng hưởng cho mập cái thây ổng, ổng đẩy mấy chú vô chỗ chết. Mấy chú lỡ có bề nào. Ổng có nuôi mấy chú đâu?”.


Nội nói chưa hết câu, thằng trung sĩ ác ôn xóc tới xô nội bật ngửa: “Đừng có tuyên truyền chiến tranh tâm lý con mẹ già Việt cộng. Cứ trù mạt hoài.”, rồi nó thấy con gà mái đẻ trên ổ, nó nhào tới chụp liền. Con gà kêu cái “quát” phóng ra cửa sau vừa chạy vừa cục tác. Nó tốc rượt theo, bọn lính cũng ùa theo nó. Bỗng nghe cái rầm, rồi tiếng la khóc inh ỏi. Nó lọt nguyên con xuống cái hầm chông của nội với ba cháu đào bữa trước. Tụi kia ráp khiêng vô, ruột đổ lòng thòng, máu ra lai láng. Thằng ác ôn, mắt trợn trắng, miệng ngáp ngáp, la hết ra tiếng.


Nội day mặt chỗ khác vừa khóc vừa nói: “Đó thấy không con! Tại con không nghe má mới ra nông nỗi này!”. Cháu hỏi nhỏ nội: “Bộ nội thương nó lắm sao nội khóc?”. Nội chửi: “Mồ tổ cha nó chớ thương, tao thấy máu nhiều quá tao sợ, tao khóc”.


Thằng nào thằng nấy mặt mày xanh lét, từ đó tới chiều cả bọn ngồi đâu ngồi đó không dám nhúc nhích, muốn đi tiêu đi tiểu gì cũng: “Thưa má, con đi đường nầy được không?”. Trưa đói bụng cũng: “Thưa má, nấu cho tụi con xin nồi cơm”. Tử tế quá!


Hai Duyên cắt ngang:


- Rồi mầy nấu cơm cho tụi nó ăn hả Thu?


- Thì cũng nấu cho nó một nồi chớ sao? Mình đấu tranh chính trị mà!


Út Sương cằn nhằn:


- Biểu đi du kích đánh giặc không chịu đi, ở nhà nấu cơm nuôi ngụy.


Ba Thu phân trần:


- Thì tại nội, nội nói vô du kích thì phải đi phục kích chiến đấu hoài rồi tối ai ngủ với nội. Nội nói nội quen rồi, vắng tao nội ngủ không được.


Hai Duyên góp ý:


- Mà cũng tại mầy thiếu kiên quyết. cái gì cũng nội nội. lớn rồi.


Út Sương mỉa mai:


- Thì đấu tranh chính trị cũng có phần khỏe hơn.


Mặt Ba Thu bỗng ửng hồng lên, không biết vì mắc cỡ hay vì giận nhưng vẫn vừa nói vừa cười:


- Có tụi bây sợ không dám đấu tranh chính trị thì có. Rồi day sang tôi cô phân trần:


- Kỳ đó ba đứa ở lại với nội đấu tranh chính trị. Tụi ác ôn bắt được hai anh du kích ở Phú Hòa Đông chở lên. Nó thay phiên nhau đánh hai anh bằng cọc hàng rào, bằng cây sắt. Nó đánh hai anh tới tét đầu, bể ngực biểu khai, mà hai anh không thèm khai gì hết. Nó đánh tới đâu, hai anh chửi tới đó. Giận quá, thằng ác ôn nó lấy cái dao khoét rún một anh rồi nắm đầu ruột lôi ra có nuồi.


Út Sương day mặt chỗ khác, gạt ngang:


- Thôi mầy! Đừng có nói nữa! Tao nhớ tới bây giờ còn rởn óc.


Hai Duyên chen vô:


- Gan nhứt là cái anh bị móc mật. Nó rạch bụng một đường chừng một tấc, thò hai ngón tay vô móc cái mật. chớ nghe một tiếng rên, chỉ nghe anh nghiến răng ken két.


Út Sương nhắm mắt lại rùng mình:


- Thôi! Thôi! Tao biểu đừng có nói nữa. Tao nổi da gà hết rồi nè!


Ba Thu còn ráng thêm một câu:


- Từ đó hai đứa mất tinh thần hết dám đấu tranh chính trị, xin theo du kích luôn.


Hai Duyên cười ngất:


- Nói tầm bậy! Má biểu theo du kích chiến đấu trả thù cho ba. chớ bộ.


Út Sương đứng dậy, đánh trống lảng:


- Thôi về nấu cơm ăn sớm, còn đi đào địa đạo. Rồi day sang tôi:


- Tối chú đi đào địa đạo với tụi con nghen chú!


Tôi ừ ừ cho qua chuyện.


*


*           *


Xóm này có ba cô gái nhỏ ai cũng mến: Ba Thu, Út Sương với Hai Duyên.


Hai Duyên được mười tám tuổi, còn Ba Thu với Út Sương mới mười bảy.


Hai Duyên với Út Sương ở du kích ấp. Còn Ba Thu vô y tế quận.


Ba cô là bạn rất thân nhau, đi đâu cũng không lìa, nhưng ráp lại nói chuyện một hồi là cãi với nhau như giặc.


Hai Duyên người khỏe khoắn, nước da bánh ít bột ngọt, hay nói hay cười, má lúm đồng tiền sâu hóm rất có duyên.


Út Sương nhỏ thó tánh tình điềm đạm, ít nói, hay làm. Cô có mái tóc mượt mà, đen nhánh. Các cậu du kích chết mê chết mệt vì đôi mắt to và buồn thăm thẳm của cô.


Ba Thu vóc người mủm mỉm, nước da trắng như bông buởi, đôi môi đỏ hồng, hàm răng trắng muốt đều đặn, đôi mắt sáng làm cho gương mặt cô luôn rạng rỡ.


Ngày nào các cô cũng đến thăm tôi, kể cho tôi nghe đủ chuyện trong ấp, trong xóm và hỏi tôi đủ thứ chuyện, hình như các cô có ý nghĩ rằng người như tôi thì chuyện gì cũng phải biết cả.


Tôi thì ở tù Phú Lợi vừa ra, đã kiểm điểm xong và đang nằm tại nhà ông Hai Nhi chờ phân công công tác. Lẽ ra thì thời gian nầy tôi nên tham gia mọi công tác địa phương, vì sau mấy năm bị giam cầm, nay được tự do, tôi vẫn muốn được đem hết sức mình làm một việc gì dù lớn, dù nhỏ cho Tổ quốc, để đền bù lại những năm tháng trôi qua một cách lãng phí giữa ngục tù. Nhưng vì tôi chưa được phân công công tác hơn nữa rất có thể tôi sẽ được phân công trở về đô thị, nên tôi không muốn biết nhiều về vùng giải phóng, nhứt là không muốn biết gì về hệ thống địa đạo Củ Chi nầy.


Tôi phải giữ triệt để nguyên tắc bí mật. Ngày mai, nếu tôi trở về đô thị thì tôi sẽ cố quên hết, không còn nhớ Củ Chi, không còn nhớ An Phú, không còn nhớ Ba Thu, Út Sương, Hai Duyên.


Tôi chỉ sẽ nhớ một điều: chiến đấu như một người cộng sản và giữ gìn khí tiết đến hơi thở cuối cùng.


Thế nên đã mấy lần, các cháu rủ tôi đi đào địa đạo, tôi không thể từ chối thẳng, cũng khó mà nói lý do vì sao tôi không tham gia mà chỉ ừ ừ cho qua chuyện.


*


*           *


Sáng nay trời ui ui, mưa lất phất, gió rao rao. Trời nầy nằm không mau đói bụng. Tôi lui cui đi nấu nước, định pha trà. Còn mấy miếng kẹo đậu phộng. Bỗng nghe cãi cọ ngoài cửa. Rõ ràng là tiếng Hai Duyên.


- Tổ Ba Đậm đào gần “phụp” rồi. Tổ mình mới hơn phân nửa. Tại con Thu kéo đất dở ẹt, thi đua mà làm cà rờ, cà rờ.


Tiếng Út Sương binh Ba Thu:


- Mầy giỏi, tối nay mầy lên kéo đất. Tao với con Thu đào.


Tiếng Ba Thu vẫn nhỏ nhẻ như mọi khi:


- Tụi con Đậm lãnh phần “thượng”, kéo đất lên có 3, 4 thước. Tổ mình lãnh phần “trâm”, kéo đất gần 7 thước. Thế nào cũng chậm hơn nó chút đỉnh chớ.


Rồi tiếng nói im bặt - cũng chẳng thấy ai vào. Hình như các cô đang bàn bạc với nhau việc gì. Độ vài phút sau mấy cô mới bước vào nhà một lượt.


Ba cô ngồi hàng ngang trên bộ phản kê sát vách, nhìn nhau, im lặng.


Tôi vẫn lui cui nấu nước. Đợi lửa cháy tốt, tôi mới đứng dậy. Bỗng Út Sương thúc Hai Duyên:


- Mầy hỏi đi!


Hai Duyên thúc lại:


- Mầy muốn hỏi thì hỏi đi!


Thấy mấy đứa nhỏ e dè, tôi lên tiếng:


- Hỏi việc gì đó cháu? Lạ lẫm gì mà ngại.


Út Sương bỗng ngó xuống đất, buồn buồnl


Ba Thu nói thế:


- Nó muốn hỏi chú vậy chớ chú ở Phú Lợi về có gặp ba nó không?


Tôi không biết phải trả lời làm sao, chỉ hỏi lại:


- Ờ. Ba cháu ở tù lâu chưa Út?


Út Sương chớp chớp đôi mi, ứa nước mắt:


- Ba cháu bị Ngô Đình Diệm bắt hồi cháu mới 10 tuổi. Nó đày ba cháu lên Phú Lợi. Lúc đầu còn thăm nuôi được. Từ sau vụ đầu độc, ba cháu bặt tin luôn cho tới bây giờ. Hồi cháu còn nhỏ, má cháu dắt cháu đi tìm ba khắp nơi. Khám nầy nó chỉ qua khám khác. Mẹ con cháu đi cùng mà chưa tìm thấy ba. Má cháu nói chắc tại ba cháu là đảng viên, tánh tình cứng cỏi cứ tranh đấu hoài nên nó ghét, nó giam giấu đâu đó.


Trong đầu tôi bỗng thoáng hiện gương mặt gớm ghiếc của tên trung úy Đỗ Đình Kỳ, tên trung sĩ Trị, những tên hung thần Phú Lợi và hình ảnh phòng tra Cây Mít với những hình cụ bê bết máu khô và da người của bầy quỷ sứ. Tôi thầm nghĩ: “Cháu ơi! Hàng trăm chiến sĩ kiên cường đã ngã xuống tại nơi đây. Nơi đây, những gì cao cả, những gì tốt đẹp đều bị hủy hoại không thương tiếc. Chú biết trả lời sao đây về người cha anh hùng của cháu. Nhưng cháu ơi! Hãy hy vọng - Cứ hy vọng đi cháu! Mái tóc cháu tôi còn xanh quá!”.


Và tôi bình tĩnh nói:


- Chú bị đày lên Phú Lợi một năm sau cái vụ đầu độc dã man đó. Chú không gặp ba cháu, mà có gặp chắc cũng không biết vì ở đó chúng cấm tuyệt không cho tù nhân nói chuyện với nhau. Một lời chào hỏi, hoặc một cái gật đầu, một cái nháy mắt chúng đều cho là “giao dịch bất hợp pháp”, rồi chúng bắt đi tra tấn ở Cây Mít hoặc đem nhốt hầm gai. Nhưng chú chắc nó còn giam cầm ba cháu đâu đó. Chú biết có gia đình, chồng mất tích bảy tám năm. Ở nhà vợ con tưởng người thân đã chết lo lập bàn thờ, làm đám giỗ. Rồi bỗng một hôm, đùng một cái, ổng lót tót quảy bị trở về, sống nhăn. Chồng vợ, cha con mừng mừng tủi tủi, lỡ khóc lỡ cười tưởng như trong mộng. Rồi hai vợ chồng phải lui cui khiêng dẹp cái bàn thờ cũ để lấy chỗ kê cái giường mới.


Út Sương bỗng ngẩng lên, đôi mắt sáng rực còn đầy nước mắt, tưởng như cháu thấy được cái cảnh ba cháu quảy bị trở về.


Ba Thu trêu chọc:


- Ê. Ê. vừa khóc vừa cười ăn mười.


Bỗng một cơn gió giật thốc qua, mát lạnh, hắt giọt mưa tung tóe vào nhà.


- Ủa!. Ủa. in gió nấm mối! Gió nấm mối bây ơi! - Hai Duyên ngạc nhiên, tròn mắt vừa nói vừa đứng dậy.


Ba Thu vẫn tỉnh rụi:


- Nội nói rồi hồi hôm. bữa nay có mưa nấm mối.


- Đi hái nấm mối đi bây. - Duyên rủ.


- Phải.


- Phải rồi! Đi hái nấm mối!


Út Sương, Ba Thu vừa nói vừa chạy ra cửa dưới cơn mưa lất phất.


Ra tới cửa, Út Sương còn quay lại:


- Chú đừng ăn cơm trước nghen! Chờ tụi cháu về nấu cháo nấm mối cho chú ăn! Ngọt lắm, ngon còn hơn cháo thịt!


Nước vừa sôi. Tôi pha bình trà, ngồi uống một mình. Một lát sau, Hai Nhi đi câu ngoài sông Sài Gòn về, áo quần ướt đầm lạnh run. Tôi kêu:


- Uống chén trà cho ấm anh Hai!


Hai Nhi đi thẳng ra sau bếp vừa nói vọng lại:


- Có thứ này ấm hơn.


Lát sau, Hai Nhi trở ra, đã thấy quần áo khô, tay cầm xị rượu, tay xách râu mấy con tôm càng, thảy vô bếp lửa. Tôi ra vườn ngắt mấy ngọn rau thơm. Trời này nhậu thiệt “bắt”.


Hai Nhi vừa nâng ly vừa khề khà kể cho tôi nghe về gia cảnh mấy đứa nhỏ:


- Con Duyên với con Sương đều mồ côi cha. Ba con Duyên bị lính Ngô Đình Diệm bắn chết trong chiến dịch Trương Tấn Bửu. Ba con Sương thì bị bắt đày đi mất tích cho tới bây giờ. Má con Duyên với má con Sương thề nuôi con khôn lớn để trả thù chồng. Hai gia đình này, một cây một trái, mà trái ngọt, trái thơm. Chỉ có con Thu là toàn vẹn. Sương là con thứ hai nhưng má nó đặt thứ Út là ý nói nhứt quyết ở vậy nuôi con, không đi bước nữa. Má con Sương biết chồng không còn nữa nhưng không bao giờ chị hở môi nói ra điều ấy. Và 10 năm nay, chị vẫn dạy con kiên nhẫn đợi chờ. Thật là son sắt.


Vừa lúc đó lại nghe tiếng lao xao mấy đứa nhỏ.


Ngó ra, thấy hai đứa bưng hai cái tô. Một đứa cầm tàu lá chuối che. Trời vẫn mưa lắc rắc.


Vô chưa tới nhà, Duyên đã tía lia:


- Ổ nấm mối lớn bằng chiếc đệm, hái một rổ đầy. cháo ngọt lắm, hai chú ăn thử coi. nấm mối búp không!


Ba Thu vẫn chậm rãi:


- Nội nấu chớ bộ mình nấu sao mầy khoe?


Duyên không thèm đếm xỉa:


- Hai chú ăn rồi để chén đó tụi con về rửa.


- Thôi đi bây. tranh thủ.


Chắc mấy cháu nó tranh thủ đi hái nấm mối nữa. Tôi nghĩ.


Mấy cháu đi rồi tôi lại tiếp tục cuộc rượu. Hai Nhi khề khà kể tiếp:


- Thằng Hận, ba con Duyên thiệt cái gan nó bằng cái mâm. Năm 56 thằng Ngô Đình Diệm mở chiến dịch Trương Tấn Bửu, bọn lính áo đen về đông như ruồi. Chúng lùng bắt anh em cách mạng dữ quá. Nó còn bày đặt cái việc tố cộng ly khai làm khổ sở gia đình cách mạng. Một đêm nọ, tôi đang ngồi trên miệng hầm bí mật ngoài bụi tre thì nghe tiếng chân bước nhẹ nhẹ. Tôi vừa thụp xuống thì nghe thì thào: “Ba Hận đây anh Hai”. Hầm này chỉ có nó với tôi biết. Nó nắm tay tôi, im lặng hồi lâu rồi nói:


- “Chịu hết nổi rồi anh Hai”.


Tôi thở dài: - “Biết sao bây giờ?”.


Nó lắt tay tôi: “Hồi tập kết, anh có “ém” được cái gì không?”.


Tôi chưa kịp trả lời thì nó tiếp: “Tôi còn chôn một cặp lựu. Tối nay tôi moi lên. Tới đâu tới.”.


Tôi kéo nó sát vào người:


- “Ráng chờ. Đảng chưa có chủ trương đấu tranh võ trang. Đừng nóng nảy làm bậy sai hiệp định”.


Nó nhìn tôi lắc đầu. Trong con mắt nó như có lửa cháy.


Anh em ngồi lặng im hút thuốc tới khuya rồi nó đi về.


Sáng bữa sau, bọn ngụy tá hỏa: một thằng lính áo đen mất tích.


Tới xế chiều tụi nó mới kiếm được xác trên bìa rừng. Thằng lính bị bẻ lọi cần cổ. Hôm sau, lại một thằng bị bóp họng. Hôm sau nữa, hai thằng bị đập đầu bằng búa bửa củi.


Tụi lính áo đen nhốn nháo lo sợ, hết dám lùng sục, chạng vạng là rút vô nhà đóng cửa im ỉm.


Bà con cũng xôn xao, không biết ai đã ra tay giết giặc. Nhưng ai cũng mát ruột mát gan, nghe tỉnh táo hẳn.


Suốt nửa tháng, không đêm nào là không có sự kiện lạ lùng xảy ra: Khi thì một lưỡi dao bay cắm vào giữa bụng thằng gác, khi thì một tảng đá văng vào giữa bàn tiệc của tụi chỉ huy.


Bọn giặc sợ hãi. Có mấy thằng bỏ trốn. Tụi chỉ huy tức tối lồng lộn.


Chi bộ cũng bối rối dò la, không biết cậu nào manh động đây! Làm ẩu như vầy thế nào cũng sẽ tổn thất.


Một đêm vào khoảng hai giờ khuya, bỗng nghe tiếng súng nổ dữ dội và tiếng la hét rền trời. Hình như bọn ngụy đang rượt bắt ai.


Mọi người đóng chặt cửa nhà, hồi hộp, chờ đợi. Tôi luồn ra hầm bí mật.


Độ một giờ sau thì bọn áo đen dọng cửa từng nhà, lùa đồng bào đi.


Bà con nói lại: Tới sân làng thấy đèn đuốc sáng trưng.


Ba Hận nằm đó, mình mẩy đỏ máu. Nó bị bắn trúng bụng. Bọn lính còn ghìm súng vây quanh.


Thấy bà con tới đông, Ba Hận cố đứng dậy, dựa vào cột cờ - tay bụm đùm ruột.


Thằng chỉ huy cầm cây súng rulô mổ mổ về phía bà con nói với thằng Hận:


- Mầy bị bắn lủng ruột rồi, máu chảy lênh láng đó. Muốn sống thì nhìn mặt chỉ rõ ai là bè đảng, đồng chí thân nhân của mầy rồi tao đưa đi băng bó. Nếu ngoan cố, tao để máu ra cho tới chết. Ai xúi biểu mầy đi ám sát lính quốc gia? Bè đảng mầy còn ai nữa?


Ba Hận nhìn quanh bà con một lượt rồi nói:


- Ba Hận đây! Bà con thấy rõ không? Đánh giặc thì có sống, có chết, sanh tử sự thường. Bà con về nói với má con Duyên ráng nuôi con cho lớn khôn để trả thù cho cha, trả thù cho đồng bào, cho Tổ quốc. Ba Hận cũng xin lỗi Đảng.


Bỗng thằng ác ôn đập mạnh khẩu rulô vào giữa mặt Ba Hận. Máu trào ra miệng. Ba Hận ngó thẳng vào mặt nó, hai mắt như muốn vọt ra ngoài, rồi bất thần phun một búng máu tươi vào giữa mặt thằng giặc.


Thằng ác ôn giận điên bóp cò liên tục. Có mấy viên đạn nó nổ hết vào đầu Ba Hận. Ba Hận gầm lên một tiếng rồi đổ xuống. Bà con ai nghe cũng rởn óc. Vừa lúc đó, vợ nó dẫn con Duyên chạy tới, nhào đại vô ôm lấy xác chồng.


Thằng ác ôn hét:


- Nhỏ cỏ bứng luôn gốc! Bắn bỏ trừ hậu họa!


Bọn áo đen khát máu, phụ họa hô vang:


- Bắn!


- Bắn bỏ!


Nó vừa chĩa súng thì má Năm với nội con Thu nhào đại vào ôm thằng chỉ huy vật xuống. Súng nổ, viên đạn bay xớt qua đầu. Còn mấy người khác thì ôm xốc con Duyên, lôi má nó chạy như bay như biến. Bọn lính bắn theo rền trời.


Hai Nhi bưng ly rượu uống “tróc” một cái rồi chép miệng, khà khà, như cố nuốt niềm cay đắng.


Tôi hỏi, thẫn thờ:


- Rồi chị Ba với con Duyên có thoát được không anh Hai?


Hai Nhi chưa kịp trả lời bỗng nghe tiếng la thất thanh từ phía bìa rừng:


- Chết rồi! Mấy đứa nhỏ chết hết rồi bà con ơi!


- Địa đạo sụp! Chết hết rồi!


- Tiếp! Tiếp! Bớ bà con!


Hai Nhi xô bàn bật dậy hét:


- Địa đạo sụp! Chết rồi!


Giọng anh lạc hẳn, rồi không kịp nói gì thêm anh chụp cây cuốc, chạy tuốt lên rừng. Tôi cũng chụp cây cuốc phóng theo! Chai rượu trên bàn lật đổ lai láng.


Trên rừng người ta đông nghẹt. Dưới một cái lỗ lớn bằng hai chiếc đệm, mười mấy thanh niên đang cật lực đào như máy. Chẳng kịp hỏi han gì tôi cũng nhảy xuống đào. Mấy đứa nhỏ bị vùi dưới nầy đây. Máu thịt vùi chôn dưới nầy đây.


Đào độ mười phút, mồ hôi ra như tắm. Bỗng ai đó đến chụp lấy cây cuốc của tôi:


- Bác mệt rồi, nghỉ đi, để cháu đào.


Nó lấn tôi qua một bên. Tôi bước lên nhường chỗ.


Vừa lau mồ hôi, tôi vừa ngó chung quanh. Các má đang vây quanh hai người đàn bà. Một người đang khóc ngất, người kia mắt đỏ hoe cứ ngồi nhìn sừng sững phía trước mà hình như không thấy gì cả.


Bỗng một tiếng khóc rất trẻ khiến tôi rùng mình:


- Thu! Cháu đó sao? - Tôi hỏi.


Thu vừa khóc vừa nói:


- Tụi nó bỏ con hết rồi chú Sáu ơi!.


Má Năm cứ lặp đi lặp lại:


- Bình tĩnh! Bình tĩnh các con! Đừng rối!


Thu vừa khóc vừa kể cho tôi nghe:


- Bưng cháo qua cho mấy chú rồi, tụi cháu tranh thủ đi đào địa đạo. Cháu biểu tụi nó để cho cháu đào, nó lên kéo đất, tụi nó không nghe, nó nói trời mưa bùn nhoẹt nhoẹt dơ lắm. Lỡ nửa chừng có “bịnh” tới, Sáu kêu vô chích thuốc, băng bó, Sáu thấy dơ Sáu rầy. Cháu mới kéo chừng chục ky sao thấy đất rung rinh. Thấy lạ, cháu sợ cháu kêu tụi nó: “Sao đất rung rung kỳ quái bây ơi!”. Tụi nó chưa kịp trả lời thì nghe một cái ầm, ngó lại thấy đất đai cây cối gì sụp xuống gần một thước. Cháu thò đầu xuống kêu tụi nó. Không đứa nào lên tiếng. Hoảng quá, cháu nhảy đại xuống “miệng thí”, vừa kêu vừa mò chung vô, nhưng không đụng đứa nào, chỉ thấy đất lấp hết. Cháu vừa chạy vô, vừa kêu bà con tiếp cứu.


Bên kia, tiếng Hai Nhi bàn luận với mấy ông già:


- Chỗ này chắc là cái hầm chứa lúa hồi chín năm. Từ đó tới nay, gió mưa, đất cát lấp bằng. Cây cối mọc lên miếng đất không chân. Hồi hôm tới giờ trời mưa, mấy đứa nhỏ nó đào ở dưới sâu. Đất không chân nó tuột.


Ba Năm lắc đầu nói:


- Bảy tám thước đất đổ ụp xuống, còn gì mấy đứa nhỏ.


Bỗng một tiếng la:


- Tới rồi.


Tôi ngó xuống thấy nhú lên một nhúm tóc đen. Mấy đứa thanh niên liền vụt cuốc, moi bằng tay. Nó sợ lưỡi cuốc chạm đau thịt xương bạn nó. Những bàn tay xắn vào đất như lưỡi sắt, lưỡi thép, đất cát bay rào rào. Đã lộ toàn gương mặt.


Hai bà mẹ cầm hai chiếc khăn run run bước xuống để lau mặt cho con.


Nhưng mẹ Út Sương chỉ kêu được một tiếng “Con ơi!” rồi ngất xỉu.


Mẹ Hai Duyên bình tĩnh mím chặt môi lau mặt cho Út Sương xong rồi mới lau mặt cho con mình. Chị nhìn Út Sương rồi nhìn con, thẫn thờ đờ đẫn. Tuy bên mép có một tia máu nhỏ, nhưng đôi môi hai cháu vẫn thanh thản mỉm cười.


Mấy đứa thanh niên ẵm bạn lên, mình còn dịu quặt.


Má Năm vẫn nói:


- Bình tĩnh! Bình tĩnh! Cháu nó chỉ ngất xỉu thôi! Bình tĩnh các con!


Trong phòng, các đồng chí quân y sĩ đang lo cấp cứu. Người xoa bóp, người làm hô hấp nhân tạo.


Má của Sương cứ đứng bóp bóp tay con, rồi vuốt má con hỏi:


- Tỉnh chưa con? Tỉnh chưa con? Có đau không con?


Sương vẫn im lặng, mỉm cười, đôi mắt to buồn không mở nữa.


Mười phút qua. Các đồng chí quân y sĩ mồ hôi như tắm.


Mọi người đứng im phăng phắc chờ đợi một hơi thở, một cử động, một tiếng rên.


Hai cô gái nhỏ vẫn im lặng, mỉm cười. Nửa giờ qua, chưa có biểu hiện gì của sự sống.


Tôi thoáng thấy một quân y sĩ lắc đầu.


Má Năm vẫn nói:


- Ráng đi con! Ráng đi con! Bình tĩnh! Bình tĩnh!


Đã một giờ rồi, các cháu vẫn mỉm cười và im lặng. Lúm đồng tiền trên má Duyên vẫn lún sâu, duyên dáng.


Các quân y sĩ đã bắt đầu nhỏ to, bàn bạc.


Chị Sáu Liêm, bác sĩ, tự nãy vẫn đứng lặng im trong góc tối, bây giờ mới vẹt mọi người, từ từ bước tới. Nét trang trọng và lo âu in trên gương mặt dịu hiền, chị bắt đầu đo mạch đo tim. Bầu không khí im lặng, trang nghiêm trùm lên phòng cấp cứu. Mọi người hồi hộp đợi chờ. Bỗng chị buông chiếc máy gục đầu xuống ngực Duyên khóc ngất:


- Máu đặc hết rồi! Má ơi! Trời ơi!


Các má ồ lên khóc. Những tiếng nấc nổi lên đều trong đám thanh niên cùng với những tiếng gọi thiết tha:


- Duyên ơi!


- Sương ơi!


- Em ơi!


Tôi lặng lẽ đi về, bước chân chệnh choạng. Trời vẫn mưa lắc rắc. Mưa nấm mối đây.


Chiều xám màu tang. Hoàng hôn lạnh.


*


*           *


Bao năm rồi, các cháu đã nằm yên trong đất.


Bao năm rồi, những bà mẹ đau khổ và anh hùng đã thay chồng, thay con cùng nhân dân chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn.


Từ giải phóng đến nay, bạn bè đồng chí từ khắp nơi trên đất nước và từ khắp nơi trên trái đất đã đến tham quan địa đạo Củ Chi. Nhiều bạn bè vô cùng xúc động đã chui xuống hang sâu để tìm hơi ấm trong lòng địa đạo.


Nhưng các bạn ơi! Có bao giờ các bạn thấy hết được chiều sâu địa đạo khi các bạn chưa nhìn thấy nụ cười trong sáng và rạng rỡ vô cùng của những người giữa tuổi thanh xuân đã từ giã cõi đời tươi đẹp này trong những con đường địa đạo Củ Chi.


 


12-79


VP


Nguồn: Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 

trieuxuan.info