Sau mùa lúa nầy An Phú phải trải qua những năm dài hoang vu, những năm chiến tranh hủy diệt tàn khốc nhất, dã man nhất trong lịch sử loài người.
Và cây lúa phải tám năm sau mới cùng người trở lại xanh tươi trên cánh đồng đầy lau sậy, đầy hố bom và máu anh hùng thắm đỏ.
Lóng rày máy bay Mỹ nó bắn trâu bò dữ quá.
Sáng hôm qua, trên đồng Chà Dơ trực thăng ví bắn chết trọn bầy trâu tám con của ông Sáu Tiết. Buổi chiều, nó bắn chết năm con ở Ri. Hôm nay, mới buổi sáng, từ đồng An Phú lên Hố Bò nó đã bắn ngã mười chín con.
Trâu bò của mình cũng lạ, một con bị thương ngã xuống rống lên, cả bầy ráp lại, chạy xây cù chung quanh, trực thăng rà theo, siết xuống mà bắn, bầy trâu chết thì chết chớ cũng không bỏ bạn, tản bầy.
Đầu trên xóm dưới xôn xao, không ai dám thả trâu bò ra đồng nữa.
Bà con tụm năm, tụm ba, bàn tán với nhau. Người thì nói tại nó đánh không lại du kích nên nó bắn trâu. Thứ đồ thù vặt, giận cá chém thớt. Người thì nói nó bắn trâu là để trả thù cái vụ hai thằng Mỹ bị trâu chém hôm rồi bên Long Xuyên.
Câu chuyện như vầy:
Tháng trước, nó kéo đi càn bên Long Xuyên. Mỹ đen, Mỹ trắng thằng nào thằng nấy dềnh dàng như con trâu nước. Chúng mặc áo giáp năm bảy lớp, lại mang vác cồng kềnh nào súng, nào đạn, nào mìn, nào lựu đạn còn thêm ba mớ đồ cướp giựt nhét đầy túi quần, túi áo. Tháng hai, trời nắng như thiêu, nắng có sao, đồng đất nứt nẻ hết. Mấy bình toong, túi nước mang theo chúng đều uống cạn sạch không còn một nhỉ.
Trưa đứng bóng, thằng nào thằng nấy vừa mệt, vừa khát, thở ồ ồ như trâu, mặt mày đỏ lơ đỏ lưỡng như con gà nòi. Có thằng say nắng nhào ngất xỉu phải kêu trực thăng tới chở.
Không thằng nào nói với thằng nào một tiếng. Chúng bường bường đi tới dưới trời nắng đổ lửa. Bỗng mấy thằng đi đầu la “hí hố” rồi chạy ùa tới. Đám đi sau cũng chạy theo. Thì ra chúng phát hiện một vũng nước bằng bốn chiếc đệm, có mấy con trâu đang trầm ở đó.
Chúng mừng còn hơn gặp ông bà ông vải, không ai bảo ai, chúng nhào đại xuống vũng, đứa thì ngâm mình, đứa thì vục nước uống, đứa thì khoát nước rửa mặt. Tụi Mỹ nào chú ý, cứ lo trầm nước. Con trâu cổ đứng nghinh một lúc rồi có lẽ tức giận vì thấy không biết loài thú gì lại dám cả gan giành vũng với mình nó liền rống lên một tiếng rồi đâm sầm chạy tới, chém vớt ngang một cái ào, đâm lút cái sừng vô hông thằng Mỹ, quật nó lên hỏng giò rồi vụt xuống đất một cái rật. Thằng Mỹ nằm quằn quại, miệng la ô ố, ruột bao tử đổ một đùm. Con cổ thừa thắng xông lên, hai con kia cũng ghim sừng xốc tới. Bọn Mỹ thất kinh hồn vía tốp nhào chạy bò càng, tốp lặn xuống nước trốn. Bầy trâu rượt theo, chém thêm mấy thằng máu chảy đỏ ngầu vũng nước.
Thằng chỉ huy vừa co giò phóng nước đại vừa ra lịnh “chiến đấu!”. Bọn lính mới sực nhớ, liền lên đạn vừa chạy vừa bắn trả rầm rầm như một đám giặc. Bầy trâu hốt hoảng, dỏng đuôi phóng tuốt vô rừng. Nghe nói trong trận đó, có hai thằng Mỹ chết, bốn thằng bị thương. Rồi bà con mình kết luận: Tại cái vụ đó mà bây giờ nó bắn trâu để trả thù.
Người bàn tới, kẻ tán lui, nhưng ai cũng nôn nao mong chờ Năm Thiện. Đồng chí Chi ủy đi họp trên huyện từ tờ mờ sáng tới giờ.
Tối mịt, mới thấy Năm Thiện hối hả đi về. Anh không về nhà mà ghé tạt qua má Sáu. Anh bước thẳng lại lu nước, múc một gáo đầy, ngửa cổ uống ực ực, lại múc thêm một gáo xối rửa mặt mày.
Bây giờ anh mới bước vào nhà, vừa đi, vừa vò nùi cái khăn rằn lau cổ lau mặt. Bà con đã tề tựu ở đó. Má Sáu ngưng nhai trầu lên tiếng trước:
- Sao? Có gì mới không Năm?
Năm Thiện ngó quanh:
- Ai có thuốc rê cho một điếu?
Tám Đực móc bì thuốc đưa cho Năm Thiện:
- Hút đỡ bằng giấy nhựt trình.
Năm Thiện vừa vấn thuốc vừa nói:
- Mới mà cũng không mới.
Má Sáu hỏi gặng:
- Bây nói vậy là sao?
Năm Thiện làm thinh chăm chỉ vấn thuốc. Vấn xong điếu thuốc, anh hút liên tiếp ba hơi dài, rồi mới vô đề rỉ rả:
- Từ hồi chín năm kháng Pháp tới giờ, bà con mình thường nói: “Kháng chiến dẻo dai nhờ khoai với củ. Bà con no đủ nhờ củ với khoai”. Bởi vậy, hết Tây tới Mỹ, nó đánh không có lại mình. Củ Chi, Hố Bò luôn luôn giữ truyền thống kiên cường, bất khuất.
Tư Lẫm, thông tin ấp nóng ruột, chen vô:
- Thôi, tại sao nó rượt bắn trâu bò ông nói phức cho rồi, cứ nói chuyện hồi đời ông “cố lỷ cố lai” hoài!
Má Sáu rầy nó:
- Thủng thỉnh anh Năm mầy nó nói. Kể chuyện phải có đầu có đuôi chớ!
Rồi coi bộ cũng nóng ruột, má nói tiếp:
- Mà tại sao nó rượt bắn trâu dữ vậy hả Năm?
Năm Thiện có hơi mất hứng nhưng cũng không dám cãi lời má nên trả lời cụt ngủn:
- Nó bắn trâu mình cho mình không có trâu cày ruộng. Không làm ruộng được thì đói thì khổ. Đói khổ thì bỏ xóm bỏ làng đi theo nó. vô ấp chiến lược mà ở.
Thằng Lẫm đổ quạu, xách cái loa đứng dậy:
- Dân Củ Chi nầy đói thì cạp đất mà ăn chớ ai đi theo giặc. Thôi, nghe bao nhiêu đó đủ “nực” rồi, tôi đi làm phận sự.
Thằng Lẫm ngoe ngoảy bỏ đi. Năm Thiện lại vào bài bản:
- Mấy lần trước, nó dụ dỗ, mua chuộc, ruồng bố, xúc tát mà cũng chẳng lôi kéo được ai, kỳ nầy nó quyết tâm hủy diệt, đốt sạch, giết sạch, phá sạch cho dân ta không còn nhà cửa mà ở, không còn lúa gạo mà ăn, không còn đất đai mà bám. Nó quyết ăn thua đủ với mình.
Bỗng ngoài ngõ vang vang tiếng loa thằng Lẫm - mọi người im lặng lắng nghe:
- A lô! Nghe đây! Nghe đây! Anh Năm Thiện mới về cho biết mấy ngày nay thằng Mỹ bắn giết trâu bò là muốn cho ta không có trâu bò cày ruộng, bỏ đất hoang phế, mùa tới không có gạo mà ăn, đói nghèo phải bỏ xóm bỏ lang mà đi theo nó vào ấp chiến lược tha phương cầu thực. Dân Củ Chi, truyền thống Khu Năm bất khuất, quyết bám đất tới cùng. Thế nên từ ngày mai, gặp máy bay bắn trâu thì du kích chúng ta thề quyết bắn trả kịch liệt để nó “tản thần” không dám ăn hiếp trâu bò nữa!
Năm Thiện nghe tới đó giựt mình nhảy nhổm, vừa chạy ra vừa la:
- Ê! Ê! Cái thằng “la” ẩu! Mầy “la” kiểu đó ngày mai du kích nó bắn không còn một viên đạn. Ê! Ê! Sửa lại, kêu đồng bào du kích đào hầm giấu trâu bò. Cái thằng thông tin ẩu!
*
* *
Gà vừa gáy hiệp đầu, trong xóm nhà nhà đã lục đục thức dậy. Dưới ánh đèn tù mù người đào hầm, người xúc đất, mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Mờ mờ sáng, hai con đầm già “e e” từ Tân Sơn Nhất bay lên. Nó quần miệt Xóm Chùa. Vừa tan sương, ba thằng oanh tạc “Xítcaraiđơ” lên tới.
- Thứ nầy bỏ bom “tệnh” lắm!
Thằng Lẫm vừa nói dứt câu thì “cảo đùng” rồi “ầm” một tiếng như trời long đất lở, cây cối cửa nhà, làng xóm đều rung rinh. Bom đìa đây! Thứ bom nầy nó bỏ trúng núi thì núi cũng lở. Ai yếu tim thì đừng có lại ngó cái hố bom đìa. Chóng mặt lắm, nó sâu thăm thẳm như cái hang Thương Tòng. Cây sao, cây dầu một hai ôm nó bứng gốc phóng đi xa lắc, xa lơ như mình phóng chiếc đũa.
Vừa lúc đó, bỗng một bóng người vàng nghế, từ phía Xóm Chùa, phóng xe đạp phấp phới chạy tới bất kể oanh tạc đầm già.
- Bộ nó muốn làm ám hiệu?.
Thằng Lẫm vừa la, vừa cảnh giác tay rờ trái lựu đạn bên hông vừa thụt lùi lại phía miệng công sự.
Nghe đằng kia Ba Tộ hỏi lớn:
- Ủa ông thủ tự, chạy đâu dữ vậy?
Ông thủ tự vừa tới, nhảy xuống xe đạp cái rụp, cà mà cập mập:
- Bữa nay tao ngủ quên, thức dậy nấu nước cúng Phật trễ. Kế nghe đầm già nó quầng, tao cúng riết. Kế nghe nó “cảo đùng”. Tao chạy ra thấy khói um. tao chụp cái xe đạp phóng bất kể.
Thằng Lẫm mới bước lại gần:
- Sao mà không cởi cái cà sa. đạp xe tà áo phấp phới thấy vàng nghế tưởng gián điệp làm ám hiệu.
Bấy giờ ông thủ tự mới trực ngó xuống, hơi bẽn lẽn:
- Ủa! Quýnh quá mang luôn cái cà sa.
Ông buông chiếc xe đạp ngã cái rầm vô bụi tre gai rồi hối hả cởi cái áo cà sa xếp lại gọn gàng, dắt vô lưng quần, xong ông chụp xe đạp nhảy lên hấp tấp:
- Thôi, tao đi. đứa nào có đi thì đi với tao.
- Đi đâu ông? - Thằng Lẫm nói - Nó bỏ bom ngoài Xóm Chùa, mình ngồi đây coi chơi, đi đâu cho mệt.
Ông thủ tự bỗng hạ giọng:
- Bữa nay nó đánh tới đây đó! Bây coi chiều hôm qua nó nện An Nhơn, kế sáng nay nó đánh Xóm Chùa. coi chừng chiều nó rề vô Xóm Thuốc.
- Rồi ông đi đâu?
- Tao đạp lên Hố Bò ghé ăn hủ tíu, kế. tao lên Lộc Thuận chơi luôn.
- Rồi ai lo nhang khói? - Thằng Lẫm hỏi móc họng.
Ông không thèm chấp nhất hất hàm từ giã rồi nhấn bàn đạp cái ro. Chiếc xe chồm tới như con ngựa chạy lồng.
Thằng Lẫm phát tức, bắt cái loa nói với theo:
- Thời chiến tranh ác liệt nầy, ông có đi tới Tây phương bom đạn Mỹ nó cũng theo tới.
Bom nổ ầm ầm, ông nghe không rõ nhưng cũng day lại nói: “. Ờ. ờ. phải! Phải!”, rồi phóng tuốt.
Ông thủ từ nói vậy mà đúng. Buổi sáng nó đánh quầng ngoài Xóm Chùa. Trưa nó về nghỉ một chút. Xế qua, nó rề vô Xóm Thuốc.
Thằng Lẫm nấu chưa chín nồi cơm thì đầm già lên, phải dụi lửa.
Như đã điểm sẵn mục tiêu, đảo qua một vòng nó “Cảo. đùng” - Phản lực lên liền.
Thằng Lẫm đội ba trái bom đìa, ê đầu. Vừa đói, vừa quạu nó lầm bầm: “Ông thủ tự ổng già, ổng khôn. Phải chi mình đi theo ổng bây giờ ngồi quán Tư Uốn ngoài Cây Gỏ ăn bánh bao uống cà phê đã đời. Cô Tư Uốn cái miệng cười có duyên, nói tiếng nhỏ rức.”.
Hết phản lực tới Xcaraiđơ - nó đánh dai nhách.
Chạng vạng tối nó mới bỏ về, để lại hai con đầm già bay vòng vòng quan sát. Vừa khuất mặt người, hai con đầm già còn vè vè trên đầu đã nghe tiếng loa thằng Lẫm: “A lô. Nghe đây! Nghe đây! Máy bay Mỹ nó đánh nhà cửa đồng bào, bữa nay cháy hết ba mươi cái, cái chùa cũng sập luôn, tượng Phật gãy tay, gãy cổ. Rút kinh nghiệm trên để tránh thiệt hại, bà con cô bác nên đem gạo thóc, trâu bò, đồ đạc lên bìa rừng mà giấu. Coi chừng ngày mai nó đánh nữa! Nghe đây! Nghe đây!.”.
Thằng Lẫm khỏi cần loa. Phản lực vừa quay đuôi, đầm già còn “e e”, đồng bào đã vác đồ đạc tản lên bìa rừng. Còn bây giờ, đồng bào đang dỡ nhà. Cột kèo nào còn chắc đem đi nhận dưới mương, dưới bưng, chừng nào qua cơn thắt ngặt sẽ móc lên dựng nhà lại. Đêm ấy, có mấy người dẫn trâu long qua sông Sài Gòn, tạm lánh. Số bám trụ tiếp tục nỗ lực đào hầm.
*
* *
Mới trên hai tháng nay mà mấy xã ven sông Sài Gòn tơi bời tan nát. Từ hôm ấy, nó đánh dẫn tới hôm nay, đánh liên tục ngày đêm hết bom tới pháo. Ban ngày thì các loại máy bay thay phiên nhau đánh phá. Bom lửa, bom bi, bom đìa, bom phá thi nhau nổ tối đất, tối trời.
Vùng nầy đã trở thành vùng tự do oanh kích. Máy bay đi ngang, thằng phi công ngứa tay buông vài trái bom vô tội vạ. Canh khuya buồn ngủ thằng lính pháo ca một câu vọng cổ, bắn vào đây vài trái pháo đỡ buồn.
Ban đêm pháo đánh từng chập từng bầy, thỉnh thoảng phản lực vút ngang buông bom trộm, bom đìa. Giấc nửa đêm chúng còn cho trực thăng từng cặp đi soi thấy cái gì khả nghi thì nổ súng bắn thâu đêm, lửa đạn đỏ trời.
Bây giờ, trên đất An Phú nầy không còn một mái nhà nào nữa. Cái chuồng heo, cái chuồng trâu, cái chuồng gà chuồng vịt cũng không còn. Nó hủy diệt tất cả. Những ngôi mả vôi, mả đá chúng cũng đánh tan tành, hài cốt văng trắng đồng, trắng đất. Mọi sinh hoạt đều chuyển vào lòng đất. Suốt ngày mấy con đầm già thay phiên nhau ve ve trên bầu trời. Một con chim đáp làm rung rẩy cành cây, một con cá ăn móng làm lao chao mặt nước nó cũng phóng hỏa tiễn hoặc kêu phản lực đánh cả buổi, cả ngày.
Rừng cao su, vườn cây ăn trái, những rặng tầm vông mới hôm nào xanh biếc hôm nay đã gãy đổ ngổn ngang, và bom xăng đặc đã thiêu tàn, thiêu rụi. Lửa cháy hừng hực suốt ngày đêm, khắp xóm làng, khói đen che lấp mặt trời, một mùi khét nồng nặc bao trùm thôn ấp. Công trình mấy mươi đời ông cha xây dựng đã tiêu tan trong lửa đạn mịt mù.
Để tránh thiệt hại cho đồng bào, Chi ủy khuyên bà con hãy tạm lánh khỏi vùng lửa đạn. Nhưng đồng bào còn nấn ná, tiếc thương.
Hai tháng nay, tôi ngồi dưới hầm sâu chứng kiến cảnh hủy diệt nầy. Bốn bên hừng hực lửa, trong nắng cũng có lửa. Nhiều hôm lửa napan cháy đỏ nóc hầm. Vùng nầy bây giờ chỉ còn là một vùng đất cháy. Không có màu xanh. Trời cũng không có màu xanh, chỉ có khói đen bốc cao mịt mù. và ánh nắng quái chiêu xiên qua lớp lớp khói dày rọi xuống mặt đất một màu vàng sẫm như máu loãng - Bao giờ?. Biết bao giờ mới thấy lại được màu xanh.
Sự chết chóc đã bao trùm lên đất nầy. Không ngày nào không có một đôi người chết. Cái chết đến đột ngột quá, khiến nên có những người bạn đã ra đi rồi mà mình vẫn tưởng như anh chị vẫn còn sống quanh quẩn đâu đây. Cái chết đến rất gần, rất thường nên rồi mình cũng quen dần với nó, và cuộc sống cũng không vì thế mà trở thành căng thẳng quá. Và trong anh em chúng tôi, qua những phút giây lên ruột, đứng tim vì những trận pháo bầy, bom trộm, qua những ngày đêm bạc tóc vì ruồng bố, vì biệt kích, vì B52 cuộc sống lại đầy ắp những tiếng hát, tiếng cười và những ngày vui rộn rã.
Mấy hôm nay, trong tiếng bom pháo có nghe chen lẫn tiếng sấm đầu mùa. Tiếng sấm rền âm âm, kéo dài. Mùa mưa sắp đến.
Trong hầm, không ai bảo ai nhưng tất cả đều mong mỏi một cơn mưa. Và trận mưa đầu mùa mong đợi đã ập xuống. Cơn mưa dữ dội kéo dài từ nửa chiều đến tối mịt. Mưa như trút. Sấm nổ ầm ầm. Nước chảy trắng xóa. Phản lực đầm già trốn mất, lửa tắt lịm. Hố bom hố pháo nước đầy tràn. Ếch nhái, bò tọt, ễnh ương kêu inh ỏi. Có cái gì như sống dậy trên đất này.
Ngày thứ ba, vừa tờ mờ sáng đã nghe tiếng thằng Sự la vang:
- “Ra coi! Đã quá anh Sáu ơi!”.
Anh em trong hầm tuôn ra, thì ôi! Kỳ diệu! Một màu xanh đã phủ trùm lên mặt đất, màu xanh non của cỏ, của mạ, của rau. Những rễ cỏ, những hạt giống đổ, những bông cỏ rơi đã nảy mầm, đã lên xanh, xanh biếc.
Ôi! Màu xanh! Màu xanh thương yêu, tôi muốn ôm lấy màu xanh mà hôn! Có ai hiểu thấu nỗi vui mừng của chúng tôi. Màu xanh nầy không phải màu xanh hòa bình! Màu xanh nầy là màu xanh chiến thắng. Chúng đã tập trung hết sức lực, chúng đã tập trung hết sự dã man để hủy diệt màu xanh của quê tôi, nhưng màu xanh vẫn trỗi dậy, vẫn chiến đấu vẫn vùng lên. Ôi! Yêu quý làm sao màu xanh của lúa, màu xanh của rau, màu xanh của cỏ, màu xanh của những tược tầm vông. Xin cám ơn từng lá mạ, từng cọng rau, từng cọng cỏ đã cho quê tôi màu xanh. Xin cám ơn màu xanh chiến thắng.
Nguồn: Tuyển tập Viễn Phương. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.
|