Truyện ngắn
09.12.2009
Xuân Hòa
Giọt nước mắt muộn màng

Đám tang đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang thành phố là một đau đớn mất mát cho gia đình, bạn bè và đồng đội. Song nỗi đau càng đau hơn khiến mọi người đều không cầm nổi nước mắt, bởi hoàn cảnh thương tâm của hai ông bà già đã ngoài bảy mươi tuổi là cha, mẹ của cố thượng tá Hoàng Kha. Kế đó là vợ của người quá cố - Mỹ Hà, một tội phạm mang án 5 năm tù giam, được công an đưa về chịu tang chồng.


Hoàn cảnh nào đã đẩy một gia đình sĩ quan cao cấp đến một kết cục bi thảm như vậy? Hãy bắt đầu câu chuyện từ hơn ba mươi năm trước: Một chàng trai đất nhãn lồng (Hưng Yên) nhập ngũ vào binh chủng đặc công. Sau thời gian huấn luyện, anh cùng đồng đội lên đường vào Nam đánh Mỹ. Bước chân người chiến sĩ đặc công đã từng vào sống, ra chết trên khắp các căn cứ giặc từ Bến Cát, Lai Khê, Dầu Tiếng, Xuân Lộc đến Đồng Dù và cả kho xăng Nhà Bè… cùng những chiến công đã gắn liền với tên tuổi Hoàng Kha. Sau giải phóng Sài Gòn anh mang quân hàm cấp thượng úy. Năm 1976, anh nghỉ phép cưới cô vợ tại quê nhà – cô gái mắt đen hạt nhãn, hiền lành, chân chất, nơi ruộng đồng, cùng mảnh vườn thơm lừng hoa nhãn, làm ra hạt lúa, củ khoai, chờ chồng mỗi năm một lần nghỉ phép. Nhiều lần chị định vào Sài Gòn thăm chồng, nhưng rồi lại sợ mình con gái nhà quê ra tỉnh, chị lại mải miết với ruộng đồng chờ khi nào có phép anh về. Cho mãi đến năm 1979 anh chị mới sinh cậu con trai đầu lòng. Đặt tên Hoàng Văn. Rồi qua năm 1982-1985 sinh tiếp hai cậu ấm gọi: Hoàng Vân, Hoàng Vi. Ở quê nhà những năm 80, trong thời kỳ bao cấp, các con nhỏ dại, ít lao động, thu nhập thấp, nên kinh tế gia đình ngày càng sa sút, đồng lương của chồng gửi về không đủ trang trải nợ nần. Tài sản trong gia đình cứ lần lượt đội nón ra đi. Sau một lần nghỉ phép, anh bàn với chị giao trả ruộng đất cho hợp tác xã, bồng bế con cái vào Sài Gòn sinh sống. Anh chị được đơn vị tạm cấp một căn phòng trong khu tập thể quân đội (khu gia đình cũ). Ngày ngày anh vào đơn vị công tác, chị ở nhà lo nội trợ. Chiều chiều chị mua vịt lộn ngồi bán trước khu tập thể, cho tới khuya mới về nghỉ. Nhờ tính siêng năng chăm chỉ và tiết kiệm, cuộc sống gia đình đỡ chật vật. Cho mãi đến đầu những năm 90 tình hình đô thị phát triển, quân đội được phép cấp đất ở cho cán bộ sĩ quan. Anh có tiêu chuẩn được cấp một miếng đất ở. Vì không có tiền làm nhà, anh đành cắt nửa miếng bán đi lấy tiền cất lên một căn nhà một tấm rưỡi trên nửa phần đất còn lại vỏn vẹn bốn mét bề ngang, gia đình anh sống yên ổn, hạnh phúc như bao mái ấm gia đình khác. Bước qua năm 1995 – kế nhà anh có căn nhà lầu ba tầng rao bán với giá 50 cây vàng. Người ta kháo nhau rằng cái nhà ấy có ma, chủ nhà gặp đủ thứ rủi ro, nào là làm ăn thất bại, nào con đụng xe chết, vân vân và vân vân. Nhưng Hoàng Kha chẳng tin. Anh liền bán căn nhà của anh được bốn chục cây vàng, thiếu mười cây mượn bạn bè mỗi người một ít cũng đủ. Công nợ trả dần, miễn là gia đình anh có chỗ ở khang trang hơn.


Vào ngày nọ, có người bạn đồng hương tên Sĩ Sơn tìm đến nhà thăm vợ chồng anh. Tình nghĩa quê hương lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng làm bữa nhậu lai rai. Rồi Sơn ngủ lại đêm ở đó, sáng hôm sau tạm biệt về quê. Sau đó một tháng đôi lần ghé lại, nhưng Hoàng Kha ở trong đơn vị, chỉ có vợ ở nhà tiếp bạn. Rồi đột nhiên Mỹ Hà thôi không bán hột vịt lộn nữa, mà còn ăn mặc chưng diện hơn xưa. Cô gái quê, trang điểm vào càng nhìn càng ưa, Hoàng Kha cũng thấy hãnh diện về vợ và càng yêu nàng hơn. Song anh cũng băn khoăn: Mỹ Hà kiếm đâu ra tiền bạc để chưng diện, ăn xài. Một hôm anh hỏi vợ về lý do mà anh băn khoăn bấy lâu nay. Vợ anh âu yếm nói:


- Anh đừng lo, còn ít vốn thay vì gửi tiết kiệm, em chơi hụi lấy lời xài thôi. Anh nghe vậy cũng yên lòng, không quên căn dặn vợ:


- Em còi chừng bị người ta giựt hụi đó. Khối người bể hụi vô tù, tự tử rồi đó. Cứ ăn chắc mặc bền là hơn!


Bước quá năm 1995, Hoàng Kha được thăng quân hàm cấp thượng tá, giữ chức trưởng ban kiểm tra quân khu. Ở cương vị mới, anh làm việc không kể thời gian, ngoài công việc ở phòng ban, anh thường xuyên xuống các đơn vị nắm tình hình, có lúc đi các tỉnh làm việc tới hai, ba ngày mới về, mọi công việc ở nhà cứ là yên tâm giao cho bà xã. Một hôm anh đang làm việc tại đơn vị thì nhận được cú điện thoại từ công an phường nơi anh cư trú, đề nghị anh về nhà gấp có việc cần giải quyết. Không hiểu có chuyện gì xảy ra, anh thu xếp công việc lấy xe phóng một mạch về nhà. Vừa đến cửa nhà anh đã thấy nhiều người mặc sắc phục công an và có cả các đồng chí cán bộ phường. Anh đứng như trời trồng, trước mặt anh là Mỹ Hà và người đồng hương Sĩ Sơn đang bị còng tay, còn vợ anh thì run lật bật, mặt tái mét cắt không ra hạt máu. Các đồng chí công an báo cho anh biết Sĩ Sơn cầm đầu đường dây buôn bán ma túy từ Lạng Sơn vào thành phố, giao cho vợ anh cất giữ rồi từ đó Sơn đem đi phân tán ở các điểm khác. Toàn bộ đường dây ma túy đã được công an Bộ Nội vụ theo dõi, giăng lưới từ lâu. Tất cả cá lớn, nhỏ đều đã được tóm gọn. Sau khi đọc lệnh bắt Mỹ Hà và lệnh khám xét nhà, các đồng chí công an trao đổi với anh và đề nghị với anh vui lòng để các đồng chí làm nhiệm vụ. Lẽ tất nhiên anh không ngăn cản những người thừa hành nhiệm vụ. Song điều chua xót mà anh không thể ngờ tới: vợ anh – một cô gái dân quê, chân chất lại sa vào con đường tội lỗi này. Lỗi lầm đó anh cũng có một phần trách nhiệm. Bởi thời gian qua anh không quán xuyến được công việc nhà. Thế là từ giờ phút này trở đi, gia đình anh sẽ lâm vào nghịch cảnh phũ phàng, xuống dốc không gì kìm hãm nổi. Ba đứa con anh ai người nuôi dưỡng… uy tín của anh đối với cơ quan, đồng đội bị ảnh hưởng sa sút. Chuyện đời xưa nay dậu bổ bìm leo. Đành rằng anh không hề hay biết việc này, song người phạm tội lại là vợ anh. Người ta bảo rằng: vợ anh dựa hơi, dựa bóng mới dám làm chuyện tày đình – xét về khía cạnh nào đó người ta nói có lý của người ta. Tình ngay, lý gian là vậy đấy. Làm sao anh dám ngẩng mặt nhìn bà con lối xóm, cũng như đồng đội, đồng chí và cả cấp dưới của mình nữa. Từ đó cái năng nổ tháo vát giỏi giang trong anh biến mất. Anh trở thành con người lầm lì ít nói – một con người hình như mất hết phần hồn, sáng sáng đến cơ quan làm việc cũng chẳng đâu ra đâu, chiều chiều dẫn xe ra khỏi cơ quan không biết đi về đâu. Về nhà của mình ư – một nỗi buồn cay đắng. Nhiều hôm anh cứ lang thang đi hết con đường Cộng Hòa cho tới tối mịt mới về nhà. Bước chân vô nhà anh như cảm nhận một bầu không khí nhơ nhớp, giá lạnh. Bất giác anh rùng mình nuốt đi những giọt đắng cùng bao nỗi ưu phiền cứ mỗi ngày một dâng cao, để chấp nhận số phận nghiệt ngã. Giờ đây thằng con trai lớn đã xin nghỉ học đi làm công nhân tháng kiếm vài trăm đủ nuôi thân. Hai đứa nhỏ lang thang như gà mất mẹ. Cuộc sống cùng quẫn, anh phải điện nhờ cha mẹ anh – ông bà già bảy mươi tuổi vào ở trông nom cháu. Cụ bà mỗi ngày cũng nấu nồi vịt lộn ngồi bán ở đầu ngõ lấy tiền nuôi cháu nội và trông nom chúng đỡ đần anh. Song họa vô đơn chí, thằng út của anh tự nhiên mắc bệnh điên điên khùng khùng, hai ông bà già vất vả lắm mà chẳng quản được nó. Nó muốn khóc thì khóc, muốn cười thì cười, muốn đập phá thì đập phá… nghịch cảnh làm anh càng đau khổ hơn. Nhưng bằng ý chí của người lính, anh vẫn gắng gượng để vượt lên số phận nghiệt ngã. Nhưng anh càng gắng gượng, càng quỵ ngã. Như không có đường thoát, anh bắt đầu đi vào thế giới tâm linh. Trên lầu ba của anh giờ đây nghi ngút khói hương, chỉ trừ thời gian làm việc ở cơ quan, khi về đến nhà anh lên thẳng trên lầu tiếp tục nhang khói, không tiếp xúc với ai. Anh cầu mong có được sự giải thoát bớt những cay đắng như từ trên trời rớt xuống đầu anh, xuống gia đình anh. Trong cuộc đời chiến đấu hy sinh gian khổ của anh, đâu phải để ngày nay chuốc lấy những ưu phiền cay đắng này. Ấy vậy mà nó lại là một sự thật anh không thể chối cãi. Anh tự thấy mình không còn xứng đáng là một đảng viên, một cán bộ của đảng nữa. Anh sẽ tự làm đơn xin rút tên khỏi Đảng, để lòng anh được thanh thản – thanh thản với một quá khứ người lính đầy chiến công hiển hách, một cán bộ sĩ quan đã đem hết tâm lực phục vụ Đảng, phục vụ quân đội. Cấp hàm thượng tá trên vai anh đã chứng minh điều đó. Nhưng giờ đây đã chấm dứt, mặc dù Đảng, quân đội không quy chụp anh, một lòng lo lắng giúp đỡ anh. Nhưng anh tự thấy mình không còn uy tín để làm việc với cấp trên và cả cấp dưới của mình nữa. Vả lại, những vết thương cũ nơi ngực lại tái phát. Từng cơn ho như rút ruột, khiến anh đau đớn, người gầy dộc, teo lại, bà con phải đưa anh đi bệnh viện 175 cấp cứu. Sau vài ngày nằm viện, anh lại gắng gượng về đơn vị làm việc.


Thời gian nặng nề trôi, sau gần ba tháng tạm giam vợ anh lãnh án 5 năm tù giam. 5 năm so với cuộc đời đâu dài, nhưng nỗi nhục của gia đình anh, các con anh không bao giờ gội rửa, kể cả ông bà già của anh cũng chẳng dám ngước mặt nhìn ai. Hai ông bà sống như cái bóng, nhẫn nhục cho đàn cháu nương tựa. Nhưng cuối cùng thằng con út của anh cũng phải vào bệnh viện tâm thần nhờ người ta nuôi dưỡng và chăm sóc, cứ để nó ở nhà thì cả anh và ông bà nội đều không chế ngự nổi. Hôm đưa nó vào bệnh viện, anh như đứt từng khúc ruột, nhưng anh không còn con đường nào khác để lựa chọn. Cỗ xe của gia đình anh giờ đây ngày càng trượt xuống chân dốc không gì gượng lại nổi. Thằng con thứ hai đã bỏ nhà đi bụi. Nó đi bụi không phải vì đói khổ, không vì sức học kém, mà vì mặc cảm của mẹ mình mà bỏ học, buồn chán đi bụi. Anh đã không đủ sức mạnh để thuyết phục nó. Anh buông xuôi cho một sự xẻ nghé tan đàn. Anh lại lao vào nhang khói, suốt ngày nhang khói. Căn lầu ba của anh giờ đây trở thành cái am với đủ các bài vị chức sắc của các ngài từ Quan Thế Âm Bồ Tát đến thần linh, thổ địa… Nhưng rồi các ngài cũng chẳng cứu vớt nổi được hoàn cảnh của anh.


Ngược lại, tinh thần anh càng sa sút, bệnh tật càng trầm trọng. Vết thương cứ tái phát hoài hành hạ thể xác, cộng thêm chứng đau đầu, nhức mỏi nửa người. Rồi đến một ngày anh nằm liệt giường. Bác sĩ đến khám thì anh đã bị chứng liệt nửa người. Giờ anh như cái xác không hồn, nằm chờ ngày thiên đình rũ sổ. Mọi người đưa anh đi bệnh viện, anh không chịu. Đơn giản là anh không muốn gây phiền hà cho người khác. Nhưng cuộc đời đâu như anh tưởng và cũng không dễ gì chấm dứt một nghịch cảnh mà dường như số phận buộc anh phải đeo đẳng, còn phải đeo đẳng đến bao giờ? Không biết kiếp trước anh có ăn ở bạc ác không, mà kiếp này anh phải gánh chịu bao tai họa khổ đau. Niềm hy vọng chống đỡ cho một ngôi nhà: “Nhà dột, cột xiêu”, giờ đây đã tuyệt vọng. Và thật sự chấm dứt. Những giọt nước mắt của người sĩ quan chỉ huy đã một thời chinh chiến vào sinh ra tử, giờ lăn xuống, lăn xuống tan vào vô vọng.


Vào một đêm trăng sáng, không biết bằng cách nào anh đã lết ra lan can và lăn mình xuống sân, cho mãi đến sáng sớm người ta mới phát hiện ra anh. Trớ trêu thay sự chạy trốn số phận của anh chưa được ông trời giải thoát. Anh nằm đó, một cái xác vô hồn. Xác thịt và tâm hồn như hai thế giới cách biệt, như gần, như xa, thật hư, hư thật. Người ta đưa anh đi cấp cứu và cứu sống được anh. Nhưng thân thể anh giờ chẳng khác nào trái chuối chín. Cũng may ông trời còn để ông bà già bảy mươi tuổi – cha mẹ canh cứng chân, khỏe tay đi lại trông nom nhà cửa. Bà vẫn ngày ngày lụm cụm nấu vài ba chục vịt lộn ngồi ở đầu xóm kiếm tiền sinh nhai. Còn thằng cháu lâu lâu mới đá gà về nhà một hai tiếng, rồi lại biến mất dạng. Nó chẳng cần biết cho nó giờ ra sao. May mắn thay, anh có được đồng chí đồng đội, bạn bè lo lắng. Tiền thuốc men khá nhiều, nhưng phần đơn vị lo, số còn lại anh em góp nhặt chu đáo, cứ vài ba ngày đồng đội anh lại đưa cụ ông hoặc cụ bà thay phiên vào thăm anh. Những lúc như vậy càng làm anh bối rối, xúc động. Anh không muốn cha mẹ vì anh phải vất vả. Công sinh thành dưỡng dục anh chưa đền đáp. Ngược lại anh đã trút cả một gánh nặng gia đình của anh lên đôi vai cha mẹ già, lòng anh đau nhói. Anh cầu xin ông bà tha thứ lỗi cho anh. Anh nhớ thời còn nhỏ dại ở cái làng Kim Xá quê anh, những ngày trăn trâu vì mải mê đọc sách, bỏ trâu ăn lúa người ta, bị người ta bới tới mồ mả ông bà tổ tiên và còn vô nhà bắt đền. Tối hôm đó anh bị ông già bắt lên giường nằm sấp. Anh vừa khóc, vừa lạy lục van xin và hứa sẽ không tái phạm. Thương con, ông già cho anh thiếu mười roi – kỷ niệm ấy anh còn nhớ mãi. Đó chính là lòng thương con của ông. Giờ đây anh đã ở tuổi năm mươi, là người chủ của một gia đình, vậy mà anh lại để gia đình anh đến nông nỗi này. Anh tự thấy không thể tha thứ cho chính bản thân mình. Anh muốn sớm giải thoát cuộc đời mình. Vì anh biết càng sống thêm ngày nào, càng gây thêm cực nhọc cho nhiều người khác, và cũng để khỏi phải nhìn thấy những nghịch cảnh, trái ngang… Anh van xin ông bà đừng vào thăm anh nữa vì ở đây đã có anh em, đồng chí, bè bạn thăm nom mỗi ngày. Nhưng vì thương con, ông bà không thể không vô thăm con. Càng nhìn thấy ông bà lòng anh càng đau đớn hơn. Anh cầu trời cho anh được giải thoát khỏi cõi đời này càng sớm càng tốt. Vì ở hoàn cảnh anh lúc này không có con đường nào khác là sự giải thoát. Anh tỉnh táo hơn lúc nào hết, tiếng kim đồng hồ tích tắc gọi thời gian, đêm dài như vô tận, mênh mông như chẳng có bến bờ. Biển đêm sâu thăm thẳm rình rập, giang tay như con bạch tuộc nắm bắt vạn vật nhận chìm vào hư vô sâu thẳm. Đêm gột rửa mọi toan tính vị kỷ của cõi đời để lòng thanh thản hơn. Đêm của những vì sao lung linh, của những cuộc tình thiên thanh mơ mộng. Của cả tội ác và sự trừng phạt. Đêm của tuổi thơ xưa lập lòe đom đóm. Đêm của một thời nằm trong hàng rào bót giặc rực ánh hỏa châu. Đêm của tiếng bộc phá nổ cùng tiếng xung phong của đồng đội đạp lên că cứ địch. Đêm liên hoan trong rừng chiến khu mừng chiến công rộn vang tiếng hát. Đêm đầu tiên giải phóng Sài Gòn mở hội hoa đăng. Ôi mấy ngàn đêm gom lại thành một đêm dài bất tận. Ôi niềm vui hay nước mắt. Anh nghe như trong gió trong mưa có tiếng hát, tiếng cười và vô số những bàn tay vẫy gọi và hình như trong đó có cả những đồng đội cùng chiến đấu ngày xưa những thằng Chiến, thằng Thành… trong trận đánh vào Xuân Lộc, thằng Hoài, thằng Niệm của trận đánh bước vào cửa ngõ Sài Gòn mùa xuân 1975… Kia khuôn mặt, nụ cười chúng nó. Nó đang vẫy gọi anh. Anh dấn bước lao tới, con người anh nhẹ thênh thênh, bên tai anh như có tiếng gió, tiếng sóng và tiếng ru. Trước mắt anh những đám mây ngũ sắc bồng bềnh trôi như những tấm thảm hồng nâng bước anh, vây bủa anh, bao bọc anh, chắp cho anh đôi cánh bay lên, bay xa, xa mãi tới một miền hư vô…! Anh đã bỏ lại phía sau bao đồng chí, đồng đội, bạn bè và những người thân yêu nhất. Thi hài anh được đưa về quàn tại nhà riêng theo yêu cầu của ông bà già. Người ta nói: “Chết là hết”, song với anh chưa hẳn đã hết. Dẫu nấm mồ kia cỏ đã lên xanh. Nhưng bi kịch trong gia đình người quá cố lại càng thêm bi thảm. Những giọt nước mắt khóc con của hai vợ chồng già đã quá bảy mươi chẳng mấy khi vơi cạn. Thằng con bụi đời cũng đã theo mẹ vô nhà giam lãnh án. Sự trống vắng trong căn nhà đã trống vắng lại càng thêm cô quạnh.


Cho mãi đến một ngày của ba năm sau, một người đàn bà lặng lẽ đặt lên phần mộ Hoàng Kha một bó hoa huệ trắng. Ba nén nhang trong tay bà run rẩy, những giọt nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt, khiến bà không thốt nên lời. Bà chỉ nghẹn ngào trong tiếng nấc. Bà khóc thương người quá cố, hay khóc thương cho chính bản thân bà, cho gia đình bà. Vì đâu xảy ra cảnh sẻ nghé tan đàn. Vì đâu bà vĩnh viễn mất người chồng thương yêu và kính trọng? Suốt những năm tháng ăn cơm tù bà đã hiểu ra rằng sự nông nổi thiếu hiểu biết của bà đã khiến bà phải trả một cái giá quá đắt. Một lỗi lầm mà bà không còn cơ hội để chuộc lại.


Giờ đây, trước vong linh người quá cố, bà chắp tay khấn nguyện xin hương hồn chồng tha thứ tội lỗi cho bà. Những giọt nước mắt của bà rơi xuống đọng vào hoa cỏ. Một làn gió thổi qua, những giọt nước mắt ấy rớt xuống chuyển vào lòng đất sâu thẳm. Đất đem đi mọi tội lỗi, cùng những nỗi oan nghiệt.


Tháng 10-1999


Nguồn: Rút từ Chuyện của hai người đàn bà. Tập truyện ngắn của Xuân Hòa. NXB Văn học sắp xuất bản.

trieuxuan.info