Truyện ngắn
28.10.2008
Trúc Khê Ngô Văn Triện
Tình sử (13)

Chiếc áo Trân châu (Tình báo)


Đất Sở (Hồ nam) có người lái buôn, tuổi ngoài hai mươi, có người vợ tuyệt đẹp, vợ chồng yêu thương nhau lắm.


Nhưng rồi chàng xuống miền Quảng Đông buôn bán lâu năm không về.


Nhà chàng là một cái lầu ở gần chợ. Một hôm người vợ ngồi trên lầu, cách rèm trông ra, thấy một người con trai giỏi giang, giống mặt chồng lắm, mở rèm ra để nhìn. Nhưng khi biết là nhầm, thẹn thùng quay vào tránh mặt.


Người con trai ấy quê ở Tân An, đến đây buôn bán đã hai năm. Bữa ấy thấy vị mỹ nhân trên lầu nhìn mình, chàng rất để tâm, bèn hỏi dò tên họ ở mụ bán ngọc trai tại phía đông chợ ấy, nhân đút lót nhiều tiền bạc, nhờ mụ kiếm hộ kế gì để mình trêu ghẹo được. Mụ nói:


- Già này đã biết, đó là một người đàn bà chính chuyên, không ai có thể phạm tới; vả cũng ít ai được tới gần để trông thấy mặt, tôi còn làm thế nào mà giúp cậu được!


Người Tân An cứ khẩn cầu mãi. Mụ nói:


- Vậy thì đến quá trưa ngày mai, cậu nên mang nhiều vàng bạc đến cái hàng cầm ở đối cửa nhà mỹ nhân, rồi giao dịch với tôi một cách eo xèo. Làm cho tiếng động đến trên lầu, may ra nhờ thế mà tôi được mỹ nhân gọi lên hỏi về hàng họ thì hoạ còn có cơ hội. Nhưng cái kỳ cậu được gần gụi mỹ nhân thì tôi chưa ước hẹn đến bao giờ được.


Người kia vâng dạ lui về.


Mụ già nhân chọn ở trong túi hàng lấy những hạt trai rất lớn cùng những thứ trâm thoa quý báu, ngày hôm sau, đem đến cái cửa hàng trước lầu mỹ nhân, giả cách mua bán với người lái Tân An, soi những đồ châu ngọc ấy ở dưới ánh mặt trời, để xem tốt xấu. Người đi chợ cũng xúm vào xem ngó, tiếng cười tiếng nói om xòm. Quả nhiên mỹ nhân ngó cổ ra cửa sổ để nhòm và sai con nhài xuống gọi mụ đem hàng lên cho mình xem. Mụ thu xếp hàng hoá vào hộp mà nói:


- Gớm! Cái nhà bác này mua bán cò kè quá. Nếu bán giá ấy thì hàng tôi bán hết đã từ lâu rồi.


Nói xong đem hàng lên lầu, cùng mỹ nhân thi lễ. Sau những câu hàn huyên chiếu lệ, mụ giở hàng ra nói chuyện mấy câu, rồi lại vội xếp lại mà nói:


- Già này có chút việc vội phải đi bây giờ, vậy xin mợ thư cho chốc nữa, già sẽ lại xin đem hàng đến nói chuyện.


Nhưng mụ đi khỏi thì mấy ngày không trở lại nữa. Một hôm đương mưa, mụ bỗng đến mà nói:


- Già này nhân có đứa con gái nó có chút việc, mấy ngày nay vì phải đi hộ hành nó, thành ra lỗi hẹn. Hôm nay trời mưa, già xin đem cả hàng đến để mợ xem.


Đoạn giở hết các thứ hàng ở trong hộp ra. Nàng xem thấy toàn những đồ quý báu, tấm tắc khen ngợi. Rồi nàng tính giá từng món một để mua. Mụ mừng mà rằng:


- Mợ tính giá như thế thật là đứng đắn, tôi không phải phàn nàn gì nữa. Không như cái người lái Tân An trả dìm giá quá, thật hoài cả hàng tốt cho hắn mặc cả.


Nàng lại có ý muốn trả nửa tiền, còn một nửa chịu lại để đợi khi chồng về trả nốt. Mụ nói:


- Được, chỗ láng giềng hàng xóm, mợ chịu tôi có ngại gì.


Nàng đã thích mua được giá hời, lại mừng được chịu lại một nửa, bèn mời mụ ở lại ăn cơm, uống rượu.


Mụ nói năng bẻo lẻo khôn khéo, nàng càng lấy làm ưa thích lắm. Ngủ chơi một đêm, sớm sau mụ lại ăn uống no say một bữa nữa mới về.


Từ đấy, ngày nào mụ không đến thì nàng thấy buồn. Mụ đối với nàng ngày càng thân, có khi đem những giọng tình để khêu gợi. Nàng đương tuổi trẻ, không khỏi có lúc tỏ lên trên nét mặt nỗi buồn gối lạnh chăn đơn. Nhân mời mụ năng đến ngủ với mình cho vui. Mụ cũng nói ở nhà ồn ào và thích nhà nàng tĩnh mịch, từ tối mai sẽ đem chăn gối đến ngủ.


Từ hôm sau, nàng kê giường cho mụ nằm và mụ không tối nào không đến. Hai giường gần nhau, đêm đêm chuyện trò thủ thỉ, không còn phải giữ ý điều gì.


Người lái Tân An thường xuyên đến hỏi mụ đã có thể gần nàng được chưa. Mụ vẫn nói là chưa thể. Đến độ mùa thu, chàng đến bảo mụ rằng:


- Tôi bắt đầu nhờ cậy là khi lá liễu đương xanh, nay liễu đã úa vàng và sắp có hạt rồi. Nếu cứ lần lữa mãi thế này, e rằng mây trắng sẽ sắp trùm cành mất.


Mụ nói:


- Vậy thì đêm nay theo tôi đi, nhưng phải để ý cho lắm. Thành bại là ở một chuyến này. Nếu không thật là uổng phí nửa năm trời theo đuổi.


Mụ bèn bầy kế dặn dò chàng. Trước nay, hôm nào cũng cứ tối mịt mụ mới đến nhà nàng. Tối hôm ấy, ngầm đem người Tân An cùng vào, bảo hãy tạm núp ở bên ngoài phòng ngủ. Mụ cùng nàng uống rượu trong phòng, nói cười vui vẻ. Mụ lại ép con nhài uống rượu; nó không quen uống nên say quá, đi nằm ngủ giúi một chỗ. Hai người đóng cửa uống rượu mãi, nên ai đã đều chếnh choáng say. Chợt có con thiêu thân bay vào ngọn đèn, mụ giả cách cầm quạt phẩy đuổi. Làm cho đèn tắt. Rồi mụ mở cửa để đi đốt đèn, nhưng lại cười nói:


- Quên không lấy đóm.


Kỳ thực trong lúc ấy, đã ngầm đưa người lái Tân An vào phòng.


Một lát mụ ở ngoài trở vào, nói đêm khuya bếp tắt, thôi cũng không cần thắp đèn nữa, bèn đóng cửa lại. Nàng lên giường nằm, nhưng tính sợ tối, thỉnh thoảng lại gọi mụ, mụ nói:


- Mợ nhát quá! Vậy thì để tôi cùng nằm chung với mợ một giường cho vui.


Thừa lúc đó, mụ dẫn người Tân An vào màn, nhưng nàng vẫn tưởng lầm là mụ. Khi đã cùng nằm, nàng sờ thấy làn da trơn tru, hỏi thì người kia không nói, hắn trèo phắt lên mình nàng mà ôm ghì lấy. Nàng lúc ấy cũng đã tâm hồn rạo rực, chẳng còn chống cự gì nữa, để mặc cho ong cuồng kiếm nhị tìm hương...


Mây tan mưa tạnh, nàng mới gạn hỏi xem người ấy là ai. Mụ kia bèn tạ tội với nàng, và kể tấm lòng ái mộ của người khách Tân An ấy. Nàng trót bén rồi không thể dứt được nữa, từ đó đôi bên quấn quýt, yêu thương nhau hơn là vợ chồng.


Trải gần một năm. Người Tân An tặng biếu nàng vàng bạc có đến hàng nghìn lạng. Một hôm, hắn cùng với bạn buôn sắp phải trở về, buồn rầu ứa nước mắt bảo với nàng rằng:


- Sau khi xa cách, anh sẽ phải nhớ thương khổ lắm, xin cho một vật gì để được như là vẫn gần gặp nhau.


Nàng bèn mở hòm, lấy ra một tấm áo trân châu, thân cầm mặc vào mình người khách Tân An mà nói:


- Đi đường nóng bức, mặc áo này sẽ mát mẻ dễ chịu lắm, em xin tặng anh làm áo lót để lúc nào cũng như có em gần gụi bên mình.


Người Tân An trân trọng từ biệt; hẹn sang năm lại đến, sẽ cùng đưa nhau đi nơi khác.


Sau khi tương biệt, người kia quý mến tấm áo trân châu lắm, mặc luôn không lúc nào rời mình, nhiều khi thấy vật nhớ người lại ứa nước mắt. Năm ấy bận việc không đến được. Năm sau chàng lại xuống buôn ở Quảng Đông, tình cờ quen với người Sở (chồng nàng), cùng nhau chơi rất thân. Một hôm trong lúc vui chuyện, mỗi người cùng kể những câu chuyện giấu trong đời mình, người Tân An kể chuyện đã từng ở quê hương người Sở gặp một người đàn bà như thế... người Sở nghe nói giật mình. Nhưng còn vờ không tin mà nói:


- Thế có gì để làm chứng không hay là nói bịa?


Người Tân An phô cái áo trân châu và ứa nước mắt nói:


- Đây, vật kỷ niệm của người yêu tôi tặng tôi. Nay mai bác về quê có tiện, làm ơn cho tôi gửi một bức thư thì hay lắm.


Người Sở chối từ, bảo đó là người họ ngoại nhà tôi, tôi không tiện giúp bác đưa thư như thế.


Người Tân An cũng hối là mình lỡ lời, cất áo và xin lỗi, người Sở bèn thu xếp hành trang về quê bảo với vợ rằng:


- Tôi vừa về qua đằng nhà mình, mẹ mình ốm nặng, đương mong được gặp mình đấy, bởi vậy tôi đã thuê sẵn cái kiệu ở ngoài cửa, mình về ngay đi.


Lại đưa cho vợ một bức thư mà rằng:


- Đây là những điều liệu lý việc tang, mình đem về trình với nhạc phụ. Tôi mới về chưa thể đi ngay được, rồi sẽ sang sau.


Người vợ đến nhà mẹ thì thấy mẹ vẫn như thường. Kinh ngạc mở thư ra xem, té ra trong đó là tờ giấy ly hôn, đóng cửa khóc lóc không biết làm thế nào. Cha vợ đến nhà con rể để hỏi nguyên nhân. Con rể nói:


- Ông về bảo nó hễ lấy về được cái áo trân châu thì vợ chồng sẽ lại xum họp.


Cha về thuật lại, nàng mới rõ và hổ thẹn muốn chết đi được. Cha mẹ cũng không hiểu chỉ lấy lời an ủi vỗ về.


Sau đó một năm, có vị Tiến sĩ ở Ngô Trung. Xuống làm quan Quảng Đông, nhưng qua đất Sở kén một người vợ lẽ, người mối đem nàng mách với vị Tiến sĩ. Tiến sĩ xuất năm mươi lạng vàng lấy nàng làm thiếp. Người nhà nàng đưa tin sang nhà chồng cũ. Người chồng cũ kiểm soát buồng nàng thấy cả thẩy lớn nhỏ mười sáu cái hòm, trong đó đều là những gấm vóc châu báu, sai trả lại nàng tất cả. Ai nghe thấy cũng đều phải lấy làm lạ.


Chừng một năm nữa, người Sở (chồng cũ) lại xuống buôn bán ở Quảng Đông. Chẳng hiểu vì sự tính toán tiền hàng với một người chủ hiệu ra sao mà đến cãi nhau rồi đánh nhau. Người chủ hiệu bị người Sở đánh một cái vào chỗ phạm chết ngay. Hai người con chủ hiệu đem việc ấy đi kiện mà viên quan sử kiện lại chính là vị Tiến sĩ.


Tiến sĩ đêm khuya thắp đèn xem các án từ, người thiếp đứng hầu bên cạnh. Nàng liếc trông thấy tên họ của chồng cũ, khóc mà nói rằng:


- Đó là người cậu của thiếp đấy. Nay không may can vào việc ấy, dám xin đại nhân cải tử hoàn sinh cho.


Tiến sĩ nói:


- Nhưng mà án sắp thành mất rồi.


Nàng quỳ xuống kêu van khóc lóc. Tiến sĩ lại nói:


- Thôi nàng cứ đứng dậy, để ta sẽ liệu.


Sáng sớm hôm sau, nàng lại khóc mà nói:


- Nếu việc ấy đại nhân không cứu gỡ cho thì thiếp cũng khó lòng sống được.


Tiến- sĩ bèn bảo với hai con của người thiệt mạng rằng:


- Thương tích của cha các anh chưa được rõ rệt, giờ ta muốn cho mổ thi thể để lấy xương khám lại.


Hai người con vốn nhà giầu có, nghĩ không nỡ để thi thể cha mình lại phải đem phơi giải, dập đầu nói việc cha mình đánh chết đã là rõ ràng lắm, xin miễn cho sự lấy xương khám lại.


Quan nói:


- Nhưng thương tích không rõ thì lấy gì mà định tội được?


Hai người con vẫn cứ van xin; quan bèn dỗ:


- Cha các anh, tuổi tác, chết cũng đã đáng đời rồi. Nay ta có một cách này, cũng đủ để các anh được hả, chẳng hay các anh có chịu nghe không?


- Xin quan lớn cứ dậy. Chúng con xin nghe.


- Nay ta bắt tên thủ phạm kia phải mặc đồ sô gai xổ gấu và nhận cha các anh làm cha, trong khi táng lễ, phải chống gậy khóc lóc cũng như các anh, như thế thì linh hồn của cha các anh cũng được thoả lắm.


Hai người con kia đều dập đầu vâng mệnh. Quan lại hỏi đến người Sở. Người ấy mừng được thoát chết cũng xin tuân theo. Việc xong người thiếp xin được giáp mặt cậu. Đôi bên gặp nhau, cùng ôm nhau khóc lóc thảm thiết. Quan ngờ gạn hỏi ngọn ngành, mới biết rõ đó là đôi vợ chồng cũ; vì lòng bất nhẫn, bèn cho lại được về đoàn tụ và cho mang về cả mười sáu cái hòm ngày trước, sai hộ tống ra tận ngoài cõi. Người Sở bấy giờ đã lấy vợ kế, vợ cũ về lại sẵn lòng ở vào địa vị thứ phòng.


 


Nguồn: Tình sử. Trúc Khê dịch. NXB Văn học, 2002.


 


 


 

trieuxuan.info